Tài liệu Kỹ thuật nuôi thủy sản nước ngọt - Chương 6 - Pdf 93

Chương 6
MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ BIỆN PHÁP
CHẨN ĐOÁN PHÒNG TRỊ CHO CÁ NUÔI
I. BỆNH XUẤT HUYẾT (BỆNH ĐỐM ĐỎ)
1. Điều kiện xuất hiện bệnh và tác nhân gây bệnh
Bệnh thường xuất hiện trên tất cả loài cá nuôi bè (Tra, Trê, He, Mè vinh, Mè trắng,
Trôi, Lóc bông, Basa, Bống tượng, Tai tượng); ở cả giai đoạn cá giống và cá thịt. Ở nước
ta bệnh thường xuất hiện lúc giao mùa (11, 12 dương lịch) hoặc mùa khô (2, 3 dương lịch).
Đặc biệt, trong trường hợp cá bị sốc (do môi trường hoặc vận chuyển) và trong nước có
hàm lượng hữu cơ cao
Bệnh gây do một số loại vi khuẩn như: Aeromonas hydrophila và Pseudomonas
sp.
2. Dấu hiệu bệnh lý
Cá bơi lảo đảo trên mặt nước. Trên thân xuất hiện những điểm xuất huyết nhỏ li
ti. Bệnh nặng các gốc vây xuất huyết. Bụng cá trương to, chứa đầy hơi. Trong xoang bụng
chứa dịch màu hồng hơi vàng, thành ruột xuất huyết. Cá ít ăn hoặc bỏ ăn. Ở cá trê bị
nhiễm bệnh này, 2 hạch mang (gốc vi ngực) bị xưng to.
3. Cách phòng trị
Trường hợp ao cá thịt bị nhiễm bệnh này cần phải tiến hành xử lý như sau
+ Thay phân nửa nước ao 2 ngày 1 lần, bón thêm vôi với liều lượng 4- 6 kg/100
m
3
nước
+ Trộn thuốc vào thức ăn (nếu cá vẫn còn sử dụng thức ăn) với liều lượng
+ Oxytetracyline: 2 g
+ Vitamin C : 3 g cho 100 kg thức ăn
+ Enrofloxacine : 2 g/100 kg thức ăn
+ Cho cá ăn liên tục 5 - 7 ngày. Có trộn lá gòn làm chất kết dính. Lượng thức ăn
trộn thuốc nên giảm đi phân nửa so với mức bình thường.
Trường hợp cá giống bị bệnh xuất huyết, trị bằng thuốc kháng sinh chỉ có kết quả
khi cá chốm bệnh. Khi cá đã bị bệnh trầm trọng, việc điều trị thường sẽ không mang lại

oxytetracyclin vào thức ăn cho cá ăn với liều lượng 5 g thuốc/100 kg, cho cá ăn liên tục từ
5 - 7 ngày
III. BỆNH NẤM THỦY MI
1. Điều kiện xuất hiện bệnh và tác nhân gây bệnh
Bệnh nấm thủy mi gây tác hại lớn đối với nhiều loài cá nuôi ở giai đoạn cá con, cá
thịt và trứng. Bệnh thường xảy ra vào mùa mưa và thời tiết lạnh khi nhiệt độ thấp (18 - 20
O
C). Đặc biệt, khi cá bị xây xát (do đánh bắt hoặc vận chuyển) hoặc do viêm nhiễm ngoài
da (do bệnh ghẻ hoặc ký sinh trùng ký sinh). Nguyên nhân gây bệnh là do 2 giống nấm
Saprolegnia và Achlya.
2. Dấu hiệu bệnh lý
189
Khi cá bị nấm thủy mi ký sinh, trên da cá xuất hiện vùng trắng xám tua tủa những
sợi nấm nhỏ, mềm tạo thành những búi trắng như bông có thể nhìn thấy bằng mắt thường
(để cá bệnh trong nước dễ quan sát hơn)
3. Cách phòng trị
Dùng xanh malachite (có bán ở các cửa hàng hóa chất, hiệu thuốc thú ý), liều
lựơng 1 - 2 g/ m
3
cho cá trong thời gian 30 phút hoặc liều lượng 0,01 - 0,2 g/ m
3
cá trong
24 giờ. Cá bệnh được tắm liên tục trong 3 - 5 ngày.
Hoặc dùng muối liều lượng là 2 - 3 kg / m
3
lít nước tắm cá trong 24 giờ, tắm cá
liên tục trong 3 - 5 ngày.

Để phòng bệnh do nấm thủy mi, ao ương nuôi phải được tẩy dọn kỹ sau mỗi vụ
nuôi. Khi cá bị xây xát cần phải tắm muối trước khi thả nuôi.

+ Ngày 1: Tắm Formaline cho cá lần 1
+ Ngày 3: Thay khoảng 75 % nước trong ao và tắm Formaline lần 2.
+ Ngày 6: Thay 20 – 25 % lượng nước và tắm Formaline lần 3 và giữ nguyên
trong hơn 2 ngày.
+ Ngày 8: Sau 8 ngày cá bột sẽ khoẻ mạnh và không cần tiếp tục điều trị nửa.
Cần lưu ý rằng bệnh đốm trắng có thể lây lan rất nhanh sang các ao khác. Vì thế
các ao lân cận ao nhiễm bệnh cũng phải được điều trị liều lượng 25 ppm formaline cùng
lúc với ao bệnh. Đồng thời những ống dẫn nước, lưới kéo và những dụng cụ (xách và chứa
nước) cũng cần phải tẩy trùng bằng cách ngâm vào dung dịch 200 ppm formaline
(20ml/100l nước) trong ít nhất là 1 giờ, sau đó xả nước lại.
V. BỆNH SÁN LÁ ĐƠN CHỦ
1. Điều kiện xuất hiện bệnh và tác nhân gây bệnh
Sán lá đơn chủ thường ký sinh trên nhiều loài cá nuôi bè như: cá He, Mè vinh,
Basa, Tra, Trê.... xuất hiện cao điểm vào các tháng có thời tiết lạnh (11, 12 dương lịch).
Loài ký sinh này có kích thước từ 0,5 - 1,0mm, có một số loài có thể thấy được bằng mắt
thường. Sán lá đơn chủ có một đĩa bám để bám vào da và mang cá gây xuất huyết và cá sẽ
chết sau đó vài ngày. Cá chết là do vết thương gây nên bởi sán lá đơn chủ hoặc do các vi
khuẩn xâm nhập vào cá qua các vết thương này. Sán lá đơn chủ gây bệnh cá gồm 2 giống:
Dactylogyrus (Sán lá 16 móc) và Gylodactylus (sán lá 18 móc).
2. Dấu hiệu bệnh lý
Cá bột lội chậm lại và đôi khi trên da cá bị phủ bởi một lớp trong giống như lông
tơ có thể quan sát thấy điểm xuất huyết nhỏ trên thân cá, mang cá xưng lên và nhợt nhạt.
Ở cá Basa, vào những tháng 11, 12 cá bị sán lá đơn chủ ký sinh nhiều tháng nổi đầu liên
tục trước mặt khại, còn gọi hiện tượng “rong bè”. Hiện tượng này kéo dài cá suy yếu dễ bị
nhiễm những bệnh khác.
3. Cách phòng trị
Nếu cá nuôi trong các bè có kích thước nhỏ có thể dùng tấm ni-long chắn trước
mặt khại (trên dòng nước), dùng Formol với nồng độ 100 - 150 ppm (hay 100 - 150
ml/1000l hay 1m
3

Biện pháp tốt nhất để phòng bệnh trùng mặt trời là giử gìn vệ sinh bể ương sạch
sẽ, mật độ ương vừa phải, tránh thức ăn dư thừa ở đáy ao. Trước khi ương nuôi cá phải tẩy
vôi, diệt mầm bệnh.
VII. BỆNH DO GIÁP XÁC KÝ SINH
1. Điều kiện xuất hiện và tác nhân gây bệnh
Một số bọn giáp xác như trùng mỏ neo - Lernaea trùng kim; rận cá Argulus - bọ cá
Hình , bọ rè chuyên sống ký sinh trên da, vây, mang ... ở một số loài cá nuôi có vẩy mềm
như: Bống tượng, chép, mè, tai tượng, lóc bông. Khi ký sinh có gây chết cá hàng loạt ở ao
cá hương, cá giống. Đối với cá lớn, nhóm ký sinh này ngoài việc hút máu cá, tiết nộc độc
192


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status