Chương 1
TỔNG QUAN VỀ NGHỀ NUÔI THỦY SẢN NƯỚC NGỌT
I. LỊCH SỬ PHÁT TRỈÊN CỦA NGHỀ NUÔI THỦY SẢN NƯỚC NGỌT
Lịch sử phát triển của nghề nuôi thủy sản nước ngọt trên thế giới được ghi nhận ở các
nước của các Châu lục cách đây hàng ngàn năm. Nguồn lợi và sản phẩm thủy sản mang lại từ
các họat động nuôi, bảo vệ và khai thác hợp lí từ con người đã đóng góp rất tích cực vào sự an
tòan về nhu cầu thực phẩm cho con người trên khắp các Châu lục.
1. Phát triển thủy sản của các nước ở khu vực Châu Á
Các tài liệu lưu trử ở các nước cho thấy rằng, nghề nuôi trồng thủy sản được ghi nhận
xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc, cách đây ít nhứt 2.500 năm. Theo Ling (1977) sự kiện nầy
được biết đến thông qua quyển sách viết về “ Nghệ thuật nuôi cá ” của tác giả Fan Lei vào
khỏang 500 năm trước công nguyên (494 BC). Sau nầy, các tác giả Chow Mit với bài viết về
Kwet Sin Chak Shik vào năm 1243 (AD) sau công nguyên và Heu trong cuốn sách “A
Complete Book of Agriculture” năm 1639 sau công nguyên mô tả chi tiết cách thức thu giống
cá Chép trên sông, phương pháp ương cá trong ao đã minh chứng cho sự hình thành và phát
triển lâu đời của nghề nuôi thủy sản ở Trung Quốc nói riêng và Châu Á nói chung.
2. Phát triển thủy sản ở Châu âu
Ghi nhận về sự phát triển của nghề nuôi thủy sản ở Châu Âu có từ thời Trung cổ và
cũng có thể nói, lâu đời nhứt, xa xưa nhứt phải đề cập đến sự hình thành và phát triển của việc
thả nuôi cá chép trong các ao nuôi nước ngọt cùng sự phát triển của nghề nuôi thủy sản ở các
vùng ven biển, bắt đầu với sự hình thành các trại nuôi Hầu (Oyster) bởi người Romans, Hy lạp
và sau nầy mở rộng cho nhiều đối tượng nhuyễn thể khác với các cách nuôi tương tự tiếp tục
phát triển. Sự kiện nầy còn được ghi nhận qua tài liệu đề cập và mô tả của Aristotle về chi tiết
các trại nuôi Hầu (Oyster) của người Hy Lạp có từ 100 năm trước công nguyên. Quá trình hình
thành và phát triển của nghề nuôi thủy sản ở Châu Âu sau nầy còn gắn liền với các họat động
nuôi cá rô phi (Tilapia), cá Chép (Common carp) trong các ao nuôi nước tỉnh ở nhiều nước
Châu âu, các họat động nuôi nầy rất có ý nghĩa xã hội và là sản phẩm thường được sử dụng
nhiều trong các dịp lễ hội đặc biệt như lễ giáng sinh ở Pháp, Đức, Nauy, Đan Mạch và Ý. Sau
nầy, trong quá trình phát triển, người Anh cũng đã giới thiệu cá Trout cho người nuôi ở vùng
Châu Á và Châu Phi, phát triển chủ yếu cho mục đích thể thao.
3. Phát triển thủy sản ở Châu Mỹ
Nghề nuôi cá Măng ở Phillipines cũng được ghi nhận cách đây hằng trăm năm, nhưng
không có tài liệu ghi nhận, hay chứng minh cụ thể.
Có nhiều bằng chứng cho thấy, họat động nuôi ghép các đối tượng nuôi thủy sản ở các
ao, hồ chứa nước thường được thực hiện bởi các ngư dân Trung Quốc.
Đối với nghề nuôi trồng Rong Biển xuất hiện cách đây khỏang 400 năm và nghề nuôi
các lọai động vật thân mềm xuất hiện cách đây khỏang hơn 300 năm ở Nhựt Bản.
II. HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG NGHỀ NUÔI THỦY SẢN THẾ GIỚI
1. Hiện trạng nghề nuôi thủy sản thế giới
Sự phát triển của nghề nuôi thủy sản phải được khẳng định trong mối quan hệ với tổng sản
lượng thủy sản trong vùng, khu vực và trên tòan cầu.
Theo tổng kết của FAO năm 2000.
Sản phẩm thủy sản tòan cầu thông thường được chia làm 6 nhóm
1. Nhóm cá biển (Marine fish)
2. Nhóm cá (Diadromous)
3. Nhóm cá nước ngọt
2
4. Nhóm giáp xác
5. Nhóm động vật thân mềm
6. Nhóm rong biển
Cho đến nay, sản lượng sản phẩm biển vẫn là nguồn lợi thủy sản được tin tưởng là
nguồn cung cấp thực phẩm không giới hạn từ họat động khai thác tự nhiên. Tất nhiên, cũng cần
lưu ý rằng, khi mở rộng khai thác nguồn lợi thủy sản biển, rất cần quan tâm đến sự khai thác và
bảo vệ hợp lí nguồn lợi, làm nền tảng cho việc phát triển nguồn lợi thủy sản một cách bền
vững, đáp ứng nhu cầu khai thác ổn định lâu dài.
Thông thường sản lượng khai thác thủy sản biển có thể phân chia theo các giai đọan
phát triển như sau
1. Giai đọan tăng trưởng nhanh, sản lượng trên 20 tấn, năm 1940 đến 60 triệu tấn, năm
1970 (tăng gấp 3 lần)
2. Giai đọan tăng trưởng chậm từ năm 1970 – 1989, khi đỉnh tăng trưởng của họat động
khai thác đạt 90 triệu tấn.
So với thế giới
(%)
Trung Quốc 2.280.000 28.5
India 650.000 8.1
Bangladesh 538.000 6.7
Indonesia 315.000 3.9
Tanzania, United Rep. 300.000 3.7
Russian Federation 271.000 3.4
Egypt 253.000 3.2
Uganda 220.000 2.8
Thailand 191.000 2.4
Brazil 180.000 2.3
Nguồn: FAO năm 2000
Trung Quốc là một trong nhiều nước dẫn đầu về sản lượng nuôi trồng thủy sản ở khu
vực châu Á, với 61 % tổng sản lượng tòan cầu và 54 % tổng sản lượng ở khu vực châu Á.
Thống kê số liệu cho thấy có khỏang 50 % các nước ở khu vực Châu Á sản xuất hơn 1
kg cá/đầu người/năm. Sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt chiếm ưu thế ở các nước châu á, đặc
điểm nầy được thể hiện rõ qua số liệu sau đây
1. Cá nước ngọt chủ yếu (do quốc gia không có biển) bao gồm các quốc gia như Lào và
Nepal.
2. Thành phần tôm cá nước ngọt là chính, bao gồm Bangladesh, Cambodia, India,
Myanmar, Pakistan và Việt nam (do các nước nầy tiêu thụ cá nước ngọt là chính).
3. Thành phần tôm cá nước lợ mặn là chính bao gồm các nước như Japan, Korea,
Malaysia và Singapore.
4. Thành phần hổn hợp giữa nước ngọt và lợ, mặn là chính bao gồm China, Thailand,
Taiwan, Hongkong, Indonesia, Philippines (có 2 vùng sinh thái căn bản).
5. Srilanka: Thông qua họat động khai thác, đánh bắt và tiêu thụ sản phẩm cá nước ngọt là
chính, tuy nhiên gần đây cũng phát triển nuôi tôm.
2. Tiềm năng phát triển nghề nuôi thủy sản thế giới
Sự cần thiết phát triển nghề nuôi thủy sản phải được khẳng định trong mối liên hệ với
2. Thực hiện mô hình nuôi theo đúng các yêu cầu về kỹ thuật
3. Tậng dụng tối đa nguồn phụ phế phẩm nông nghiệp điều kiện sẳn có ở nông hộ
4. Hòan thiện và không ngừng cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm các mô hình
nuôi thủy sản chuyên canh và kết hợp.
5. Quản lí tốt mô hình nuôi thủy sản, đặc biệt là vấn đề về tình trạng sức khỏe của thủy
sinh vật trong các mô hình nuôi.
6. Tăng diện tích sản xuất cho nghề nuôi thủy sản phát triển
7. Tăng năng suất, sản lượng và giá trị nuôi thủy sản trên một đơn vị sản xuất
8. Chất lượng và vấn đề an tòan sản phẩm thủy sản.
III. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỀ NUÔI THỦY SẢN NƯỚC NGỌT VIỆT NAM
Với diện tích có khả năng phát triển nuôi thủy sản trong cả nước là 1,7 triệu ha, trong
đó cá ao có diện tích nhỏ là 120.000 ha, hồ chứa, mặt nước lớn 340.000 ha và ruộng lúa có khả
năng nuôi thủy sản là 580.000 ha, hiện nay nuôi thuỷ sản nước ngọt đã đóng góp một phần
quan trọng trong ngành thuỷ sản (Bộ Thuỷ sản, 1999). Tuy nhiên trước thế kỷ 20 nghề nuôi
thuỷ sản ở nước ta gần như chưa phát triển. Mãi đến những năm của thập kỷ 30, nghề nuôi thuỷ
sản và chủ yếu là nuôi thuỷ sản nước ngọt mới thực sự bắt đầu hình thành và tập trung ở các
tỉnh phía Bắc Việt Nam. Từ đó đến nay nghề nuôi thuỷ sản nước ngọt không ngừng phát triển.
Việc mở rộng diện tích nuôi, đa dạng hoá mô hình nuôi, đối tượng nuôi, di nhập và thuần hoá
nhiều đối tượng kinh tế đã góp phần nâng cao hiệu quả của nghề nuôi cá nước ngọt nước ta.
Vào nửa đầu thế kỷ XX, việc nuôi cá nước ngọt chủ yếu phát triển và phổ biến ở khu
vực Miền Bắc. Điều này có lẽ do nguồn cá tự nhiên có phần hạn chế, trong khi nhu cầu tiêu thụ
5
sản phẩm ngày càng tăng theo nhịp độ phát triển dân số, đây có lẻ là một trong số các nguyên
nhân chính thúc đẩy cư dân Miền Bắc khởi đầu với nghề chăn nuôi – thủy sản này. Cho đến
thập niên 1930, nuôi cá nước ngọt đã trở thành nghề lan rộng khắp các tỉnh thuộc châu thổ sông
Hồng, thậm chí đến cả những khu vực miền núi phía tây và phía bắc. Sự mở rộng phạm vi nuôi
cá và số lượng ao hồ thả cá ngày càng tăng lên không ngừng có liên quan mật thiết đến một bộ
phận cư dân chuyên nghiệp trong nghề thu vớt và nuôi cá giống con từ tự nhiên.
Hàng năm vào khoảng tháng 5, các loài cá thường đẻ trứng trong các vùng thượng
nguồn sông Hồng và các chi lưu của nó. Trứng cá bám vào bờ nước, dính vào những rong rêu,
lượng cá dồi dào từ Campuchia đổ về thường xuyên là nguyên nhân khiến cho nông dân không
cần nghĩ đến việc đào ao, hồ hay mương vườn để thả cá. Mãi đến những năm 1940, khi nguồn
cá này ngày càng có xu hướng giảm thấp và số lượng cư dân liên tục gia tăng, ở đây mới bắt
đầu thịnh hành với nghề nuôi cá nước ngọt. Hàng năm, vào khoảng tháng 6, cá tra bột, hương
và giống (Pangasius hypothamus) từ biển hồ ở Cambodge trôi về, thì cư dân ven bờ sông Mê
kông vùng giáp biên giới Việt Nam - Cambodge chuyên làm nghề vớt cá và nuôi cá giống bắt
đầu hoạt động. Lúc bấy giờ, tại các ao, hầm nuôi cá ở miền Nam, người ta cũng tiến hành
những bước chuẩn bị như ở Bắc bộ. Thức ăn của cá tra chủ yếu cũng là chất thải từ chuồng heo
và phân người. Việc phát triển nghề nuôi cá tra ở miền Nam đã góp phần duy trì nguồn thực
phẩm chính yếu của người Việt có mặt trên thị trường quanh năm. Ngoài cá tra, ở Nam bộ lúc
bấy giờ cũng có nuôi một vài loài cá nước ngọt khác, như cá vô đém, cá chép, cá rô phi, tai
tượng và hường…..
6
Nhìn chung, đến giữa thế kỷ XX, nghề nuôi cá nước ngọt cũng chỉ phát triển nhiều ở
miền Bắc, còn ở miền Nam chỉ mới bắt đầu với những bước đi chập chững. Trong khi đó ở khu
vực miền Trung xem như vẫn chưa có sự đổi thay nào đáng kể trong tiến trình hình thành nghề
nuôi cá ở Việt Nam. Sự phát triển thiếu đồng bộ đó một phần do khác nhau về điều kiện địa lý,
vùng sinh thái thủy sinh vật và dân số..., khác nhau về tập quán sinh hoạt, họat động sản xuất
nông nghiệp, họat động kinh tế và đời sống (Tiến, 1996) chi phối.
Nghề nuôi cá nước ngọt Việt nam từ năm 1954 -1975
Từ ngày miền Bắc được hòan toàn giải phóng và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nghề nuôi
cá đã được Đảng và nhà nước quan tâm khuyến khích và chỉ đạo nên ngày càng phát triển với
bước đi cụ thể. Nghề vớt cá bột trên sông Hồng vẫn tiếp tục phát triển và cung cấp nguồn cá
giống chủ yếu cho nghề nuôi cá nước ngọt ở miền Bắc.Các loài cá bột chủ yếu được vớt là cá
mè, trôi, trắm, cá trăm đen, cá cháy, cá vền, tuy nhiên 3 loài cá nuôi chủ yếu là cá mè, cá trôi,
cá trắm.. nhờ học tập kinh nghiệm của các nhà khoa học Trung quốc, các nhà khoa học Việt
nam đã tìm ra bãi đẻ của cá trôi trên Sông Thao. Năm 1957 nhân dân đã vớt được 757.540 ngàn
cá bột, năm 1958 là 898.610 ngàn và sang năm 1959 là hơn 1,135 triệu con (Lê văn Đán, 1960).
Cùng với nghề vớt cá bột, nghề ương cá giống cũng không ngừng được cải tiến để nâng cao tỷ
lệ sống của cá bột.
7