Ti`m kiê´m
Kiểm toán viên đối với vấn đề
Going concern theo ISA
Đã đọc: 12546 lượt.
Phạm Văn Cung - ACCA
1. Thế nào là Going concern (GC)
Một doanh nghiệp thông thường được coi là hoạt động liên tục trong một tương lai gần
(foreseeable future) mà không có ý định hay không bắt buộc phải giải thể, ngừng hoạt động
hoặc phá sản.
2. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế điều chỉnh- chuẩn mực 570 quy định các vấn đề sau:
a. Trách nhiệm của kiểm toán viên
b. Lập kế hoạch như thế nào để đánh giá GC
c. Đánh giá GC như thế nào
d. Báo cáo như thế nào
3. Trước hết, hãy xem vai trò của Ban giám đốc công ty được kiểm toán
a. BGĐ công ty chịu trách nhiệm đánh giá GC của công ty (theo yêu cầu của IAS 1)
b. Ban Giám đốc cần đánh giá các vấn đề sau:
i. Mức độ chắc chắn của các thông tin
ii. Đánh giá dựa trên các thông tin đó.
c. Các yếu tố cho thấy có thể có nghi ngờ đối với tính GC của DN
i. Công nợ ròng, công nợ ngắn hạn ròng (nghĩa là tài sản nhỏ hơn công nợ)
ii. Các khoản vay tới hạn trả mà không có khả năng trả cũng như không được gia hạn
iii. Dựa quá nhiều vào các khoản vay ngắn hạn
iv. Có dấu hiệu cho thấy sự hỗ trợ về tài chính của các chủ nợ sẽ chấm dứt
v. Lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh là âm
vi. Các chỉ số tài chính ở tình trạng xấu
vii. Lỗ hoạt động hoặc có tình trạng mất giá của các tài sản
viii. Chậm trả hoặc ngừng trả cổ tức
ix. Không có khả năng thanh toán cho các chủ nợ khi tới hạn
x. Phương thức thanh toán hàng mua chuyển từ phương án được mua chịu sang thanh toán bằng
tiền mặt khi hàng được giao (COD- cash on delivery)
- Có thể lấy thư cam kết hõ trợ (support letter) từ công ty mẹ- trong trường hợp này phải đánh giá khả
năng tài chính của công ty mẹ
- Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày Báo cáo tài chính
Báo cáo của kiểm toán viên
i. Nếu không có nghi ngờ mang tính trọng yếu về GC ==> ý kiến chấp nhận toàn phần không sửa đổi
(unqualified, unmodified)
ii. Nếu có nghi ngờ mang tính trọng yếu, kiểm toán viên phải xem xét tới các yếu tố loại trừ: với hai
khả năng sau:
a. Nếu có đủ các yếu tổ loại trừ thích hợp, kiểm toán viên phải xem xét xem các yếu tố loại trừ đó có
được trình bày đầy đủ trên các báo cáo tài chính hay không:
- nếu có, ý kiến chấp nhận toàn phần có sửa đổi theo đó ý kiến kiểm toán sẽ bao gồm một đoạn nhấn
mạnh giải thích về GC (unqualified, modified)
- nếu không được trình bày đầy đủ, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến loại trừ, nêu lý do là GC không
được trình bày dâyd đủ trong báo cáo tài chính
b. Nếu không có các yếu tố loại trừ thích hợp, kiểm toán viên phải xem xét xem các baó cáo tài chính
được soạn lập trên cở sở nào:
- nếu sử dụng cơ sở GC ==> Kiểm toán viên đưa ra ý kiến trái ngược (adverse)
- nếu sử dụng cơ sở khác ==> Kiểm toán viên đánh giá tình phù hợp của cơ sở đó và có thể đưa ra ý
kiền chấp nhận toàn phần nhưng được sửa đổi, ý kiến kiểm toán thêm một đoạn nhấn mạnh trình bày
về cơ sở soạn lập không phải là GC
(Theo Webketoan)
Báo cáo tài chính, phơi bày hay che
dấu (Phần đầu)
Đã đọc: 28438 lượt.
Hoàn toàn lặng im khi nghe bồi thẩm đoàn đọc cáo trạng, Bernard Ebbers, cựu giám đốc điều
hành tập đoàn viễn thông World Com, Mỹ đã bị buộc tội gian lận và cung cấp các số liệu không
chính xác tại các báo cáo tài chính liên quan đến khoản tiền 11 tỷ USD trong vụ phá sản của
một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất nước Mỹ.
Với các tội danh trên, Ebbers có thể phải chịu hình phạt lên đến 85 năm tù giam. Lúc đó, phản ứng
duy nhất của mọi người trong phiên toà là từ phía vợ Ebbers, bà ngồi khóc lặng lẽ với sự an ủi của cô
Những gian lận tài chính của Worldcom được đưa ra ánh sáng chưa đầy một năm sau việc Enron phá
sản do những scandal tài chính hàng chục tỷ USD. Vụ việc của Worldcom và Enron được đánh giá là
hai vụ phá sản lớn nhất trong lịch sự nước Mỹ. Theo ước tính thì Worldcom bị phá sản đã khiến các
cổ đông của hãng chịu thiệt hại khoảng 180 tỷ USD và trên 20000 nhân viên bị mất việc làm. Sau khi
chính thức tuyên bố phá sản, Worldcom đã đổi tên thành MCI.
Điều đáng quan tâm là không chỉ có hai đại gia Enron và Worldcom trực tiếp tham gia vào những gian
lận trong báo cáo tài chính mà lúc đó còn có rất nhiều “thế lực ngầm” khác trợ giúp. Và ngân hàng
CIBC (Canadian Imperial Bank of Commerce) là một trong những thế lực ngầm như vậy. Mới đây, tập
đoàn ngân hàng này đã chấp nhận bỏ ra 80 triệu USD để dàn xếp các khoản chi phí của hãng liên
quan đến việc sụp đổ của Enron. SEC cho biết sẽ kiện ba thành viên đang và nguyên là nhân viên
điều hành cao cấp của CIBC. Hai trong số ba nhân viên trên đã giải quyết vụ kiện và đảm bảo sẽ bồi
thường 600.000 USD. SEC đã khởi tố CIBC và ba nhà điều hành của tập đoàn này về tội “đã giúp
Enron lừa dối các nhà đầu tư thông một dãy các giao dịch trong báo cáo tài chính với cấu trúc phức
tạp trong một vài năm trước khi Enron phá sản”.
Bản án được tuyên đã khiến rất nhiều công tố viên thở phào nhẹ nhọm bởi gần 2 năm nay việc xét xử
các thành viên của Worlcom luôn được xem là khó khăn nhất trong lịch sử ngành toà án Mỹ. Và việc
tuyên bố Ebber phạm tội sẽ làm nền tảng cho việc xét xử ba thành viên khác của của Worlcom trong
thời gian tới với nhiều chứng cứ và đánh giá phức tạp hơn nhiều. Nhiều chuyên gia kinh tế Mỹ nhận
định rằng việc xét xử “thẳng tay” các thành viên ban lãnh đạo Worldcom là một trong những thành
công lớn nhất của ngành tòa án Mỹ trong cuộc chiến chống tham nhũng và gian lận tài chính.
Theo Stephen Culter, giám đốc Ban hoà giải của SEC thì “ngày nay, các hành động che dấu thua lỗ
trong báo cáo tài chính của các công ty Mỹ bị phanh phui đã chứng tỏ rằng chẳng có một sự thiết lập
tài chính nào hay bất kể một nhà điều hành nào có thể che dấu các giao dịch tài chính mang đầy tính
chất phức tạp và gian lận của các ông chủ giàu có”.
Có thể nói rằng, báo cáo tài chính của mỗi công ty sẽ chứng minh rằng công ty đang hoạt động bình
thường và cung cấp những thông tin cần thiết cho các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư hiện tại và
tương lai, các chủ nợ,… về tình hình tài chính của công ty. Vì vậy, tính trung thực trong báo cáo tài
chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tiếc thay, hiện nay tính trung thực trong các báo cáo tài chính
không còn được trung thực! Câu hỏi đặt ra là, vì sao xảy ra tình trạng ấy và cần làm gì để khắc phục?
Báo cáo tài chính, phơi bày hay che
dịch trước khi Ahlod công bố rộng rãi về vụ “xì căng đan” của mình. Một điểm giống Eron nữa là Ahold
đã gặp phải những rắc rối ngay chính tại “trong ruột mình”. Trong bản báo báo cáo tài chính hàng
năm, năm 2001, Ahold đã che giấu sự thật rằng khoản lợi nhuận 1 tỷ USD theo Luật kiểm toán Hà Lan
của mình đáng lẽ chỉ đáng 109 triệu USD theo Luật kiểm toán Mỹ vì Hà Lan có những cơ chế rất
thoáng cho các công ty khi tính giá thu mua.
Ngoài ra, có một nghịch lý khác đó là nhiều công ty nhỏ cũng cố ý “biến tướng” báo cáo tài chính theo
chiều hướng ngược lại, tức là “biến lãi thành lỗ”. Lý do chính là để tránh thuế. Bán hàng không phát
hành hoá đơn làm giảm doanh thu, giảm thuế phải nộp, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tại Mỹ và châu Âu, các cơ quản lý than phiền về các báo cáo tài chính gian dối nhưng nhiều khi chính
họ cũng tự cần xem lại những biện pháp quản lý và pháp luật đã tạo ra “sức ép” và những thuận lợi
cho tình trạng thiếu trung thực trong báo cáo tài chính của các công ty.
Thuế cao tại Mỹ là một động cơ đẩy các công ty vào hành vi trốn thuế nếu muốn phát triển và nâng
cao sức cạnh tranh trên thương trường. Bên cạnh đó, công tác quản lý tài chính của các cơ quan
chức năng Mỹ đã bị buông lỏng trong thời gian khá dài. Các quy định pháp luật về kế toán khá lạc hậu
từ hàng chục năm nay. Chỉ sau khi xảy ra hai vụ scandal động trời của Enron và Worldcom thì một số
quy định về tài chính mới được ban hành nhưng vẫn còn khiên cưỡng, đôi khi khập khiễng đến mức
không thế chấp nhận được”, H.Barringer, giám đốc Công ty Luật Willikie Farr&Gallagher cho biết.
Câu hỏi đặt ra là làm gì để Mỹ và châu Âu không còn chứng kiến những Enron, Worldcom hay Ahold
tương tự trong tương lai? Đây là câu hỏi không dễ trả lời song cũng có những căn cứ hy vọng nếu:
Thứ nhất, các cơ quan chức năng xem xem xét lại các quy định về kế toán và tài chính, sớm ban
hành những quy định mới và thi hành mộ cách nhất quán.
Thứ hai, cải tổ công tác kiểm toán đối với tập đoàn, công ty trên toàn nước Mỹ và châu Âu. Chất
lượng các cuộc kiểm toán cũng cần được coi trọng.
Thứ ba, giảm thuế để các công ty có cơ hội nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường vốn đã vô
cùng khốc liệt.
Người Mỹ và châu Âu hy vọng những năm tới vấn đề trên sẽ được giải quyết để họ không còn phải
nơm nớp lo sợ một lúc đó những cổ phiếu mình đang cầm trong tay sẽ trở thành “tờ giấy vụn” chỉ
trong vòng một đêm chỉ vì những gian lận trong báo cáo tài chính bị phanh phui.
(Theo www.bwportal.com)
Bản chất hơn hình thức
Nhưng về mặt bản chất, một tài sản được chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền quyền sở
hữu tài sản thì có nghĩa là tài sản đó thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Và tài sản này
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đem lại lợi ích kinh tế trong tương
lai cho doanh nghiệp. Như vậy, tài sản thuê tài chính thoả mãn định nghĩa Tài sản theo VAS 01 -
Chuẩn mực chung.
2. Hoạt động bán, tái thuê Tài sản
Lấy ví dụ về trường hợp Công ty kiểm toán ABC thực hiện hoạt động bán toà nhà trụ sở của mình
cho một công ty cho thuê tài chính và thực hiện thuê lại theo một hợp đồng thuê tài chính. Giả
định, giá trị toà nhà bán và thuê lại của Công ty cao hơn giá trị còn lại trên sổ kế toán tại thời điểm
giao dịch. Lúc này tạo ra phần thu nhập do hoạt động bán. Tuy nhiên, phần thu nhập này được ghi
nhận hoãn lại trên Bảng cân đối kế toán (tài khoản 3387) thay vì ghi nhận vào Báo cáo Kết quả
kinh doanh trong kỳ. Vì sao?
Về mặt hình thức, đây là hoạt động bán tài sản, có sự chuyển giao quyền sở hữu và phát sinh
khoản thu nhập. Và tài sản thuê lại tài chính là tài sản đi thuê. Lúc này phát sinh 02 giao dịch được
hạch toán là giao dịch bán và giao dịch thuê. Các giao dịch này hoàn toàn tách biệt.
Nhưng xét về bản chất, Công ty kiểm toán ABC vẫn hoạt động bình thường tại trụ sở của mình mà
không bị ảnh hưởng gì của hoạt động bán và thuê. Tất cả các hoạt động bán và thuê chỉ là các
hoạt động được thực hiện thông qua các giao dịch qua lại bằng nhiều hình thức như fax, mail, văn
bản,.. các hoạt động này không tác động đến hoạt động của trụ sở của công ty ABC. Thực tế cho
thấy, chi phí khấu hao mà ABC được khấu trừ vào thu nhập trong tương lai chỉ bằng giá trị còn lại
của Toà nhà trụ sở. Trong khi đó hoạt động bán và thuê lại làm phát sinh chi phí bằng giá trị thuê
lại (lớn hơn giá trị còn lại) và một khoản thu nhập (chênh lệch giữa giá bán và thuê lại với giá trị
còn lại). Do đó, để đảm bảo nguyên tắc "Bản chất hơn hình thức", trong trường hợp này kế toán
phải hoãn lại khoản thu nhập qua hoạt động bán và thuê lại, khoản thu nhập này sẽ được phân bổ
dần giảm chi phí thuê lại Trụ sở tương ứng với thời gian thuê lại. Việc hạch toán như vậy đảm bảo
chi phí được khấu trừ vào thu nhập trong tương lai của ABC đúng bằng giá trị còn lại của Trụ sở.
Chi tiết hạch toán kế toán đối với hoạt động bán và thuê lại tài sản là thuê tài chính được trình bày
tại Thông tư 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003.
Bản quyền:
www.kiemtoan.com.vn giữ bản quyền bài viết này. Khi sử dụng hoặc trích dẫn từng phần của bài
sản phẩm cuối cùng?
Quyết định mang tính dài hạn: Các quyết định này giúp doanh nghiệp giải quyết các bàii toán kinh tế
hoạch định chiến lược đầu tư dài hạn như: Trong trường hợp nào doanh nghiệp quyết định thay thế
mua sắm thêm các máy móc thiết bị hay thực hiện phát triển thêm lĩnh vực kinh doanh.
Còn kế toán tài chính là kế toán phản ánh hiện trạng và sự biến động về vốn, tài sản của doanh
nghiệp dưới dạng tổng quát hay nói cách khác là phản ánh các dòng vật chất và dòng tiền tệ trong
mối quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường kinh tế bên ngoài. Sản phẩm của kế toán tài chính là
các báo cáo tài chính. Thông tin của kế toán tài chính ngoài việc được sử dụng cho ban lãnh đạo
doanh nghiệp còn được sử dụng để cung cấp cho các đối tượng bên ngoài như: Các nhà đầu tư,
ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê.
2. Để hiễu rõ được mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính ta cần phân tích sự
giống nhau và khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
2.1. Sự giống nhau
* Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế toán, đều nhằm vào việc phản ánh
kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đều quan tâm đến doanh thu, chi phí và sự vận động của tài
sản, tiền vốn.
* Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin. Các số liệu của kế toán tài
chính và kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng từ gốc. Một bên phản ánh thông tin tổng quát,
một bên phản ánh thông tin chi tiết.
* Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của Nhà quản lý.
2.2. Sự khác nhau
* Mục đích:
- Kế toán quản trị có mục đích: Cung cấp thông tin phục vụ điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Kế toán tài chính: Cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài chính.
* Đối tượng phục vụ:
- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán quản trị là: Các nhà quản lý doanh nghiệp (Hội đồng quản trị,
ban giám đốc)
- Đối tượng sử dụng thông tin về kế toán tài chính là: Các nhà quản lý doanh nghiệp và các đối tượng
bên ngoài doanh nghiệp (Nhà đầu tư, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê)
* Đặc điểm của thông tin:
* Tính bắt buộc theo luật định:
- Kế toán quản trị không có tính bắt buộc.
- Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định.
Kế toán tài chính có tính bắt buộc theo luật định có nghĩa là sổ sách báo cáo của kế toán tài chính ở
mọi doanh nghiệp đều phải bắt buộc thống nhất, nếu không đúng hoặc không hạch toán đúng chế độ
thì báo cáo đó sẽ không được chấp nhận (tham khảo thêm về luật kế toán vừa ban hành).
3. Có phải kế toán tài chính là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị là kế toán chi tiết không?
Để hiểu rõ và tránh nhầm lẫn về các "thuật ngữ" trên ta cần phân tích mối quan hệ giữa kế toán tài
chính với kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết.
Kế toán tài chính và kế toán tổng hợp: Kế toán tổng hợp là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằn
trình bày các số liệu báo cáo mang tính tổng hợp về tình hình tài sản, doanh thu chi phí và kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán vào một thời điểm nhất định. Nói cách khác kế
toán tổng hợp chỉ liên quan đến tài khoản của sổ cái tổng hợp và báo cáo tài chính.
Kế toán tài chính và kế toán chi tiết: Kế toán chi tiết là một bộ phận của kế toán tài chính, nhằm chứng
minh các số liệu ghi trong tài khoản tổng hợp là đúng trong quá trình ghi chép và lập báo cáo kế toán,
đây cũng là công việc phải làm trước khi khoá sổ kế toán để quyết toán. Thuật ngữ thông thường gọi
là đối chiếu giữa tổng hợp và chi tiết.
Ví dụ: Như việc thực hiện đối chiếu giữa tài khoản phải thu với sổ công nợ chi tiết của từng khách
hàng, đối chiếu tài khoản phải trả với sổ chi tiết công nợ của từng nhà cung cấp hay việc đối chiếu tài
khoản nguyên vật liệu với sổ chi tiết vật tư, đối chiếu tài khoản chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
với thẻ chi tiết tính giá thành sản phẩm.
Tóm lại trong kế toán tài chính bao giờ cũng có kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, vì vậy kế toán tài
chính không phải là kế toán tổng hợp và kế toán quản trị không phải là kế toán chi tiết.
Kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt
động-đâu là lựa chọn ưu tiên ?
Đã đọc: 9981 lượt.
Có 3 phương pháp tiếp cận tài chính đối với Kiểm toán nhà nước, đó là: Kiểm toán tuân thủ,
Kiểm toán xác nhận ( Báo cáo tài chính) và Kiểm toán hoạt động ( hay Kiểm toán hiệu quả đồng
tiền).
1. Các phương pháp tiếp cận khác nhau đối với Kiểm toán nhà nước
quốc gia bao gồm: Kiểm toán kết quả, kiểm toán các chỉ số phi tài chính ( đang được xem xét tại Anh
Quốc, hiện tại các hệ thong tin đang được đánh giá); đánh giá các giả định lập ngân sách( đang được
áp dụng một số nội dung tại Anh Quốc và Đức), thường được thoả thuận thực hiện hang năm.
Về vấn đề này, tuyên bố Lima của INTOSAI đã đề cập như sau: Việc cần có loại kiểm toán tuân thủ
pháp luật thong thường đối với các vấn đề tài chính là điều không phải tranh cãi; tuy nhiên loại kiểm
toán này có thể được bổ sung bằng loại kiểm toán hoạt động.
2. Kiểm toán tài chính, nội dung cốt lõi của Kiểm toán Nhà nước
Tại hầu hết các quốc gia, các loại hình kiểm toán chủ yếu thường là kiểm toán tuân thủ và kiểm toán
tài chính. Cơ quan Kiểm toán Quốc gia ( Anh quốc) và Cơ quan Kiểm toán chính phủ ( Hoa kỳ)
thường sử dụng ba phần tư thời gian và nguồn lực mà họ có cho những loại hình kiểm toán này. Quy
trình kiểm toán công cần phải đưa ra đảm bảo đối với cử tri rằng Chính phủ không tiêu quá tổng số
tiền như đã cam kết trong ngân sách, số tiền đó được tiêu cho hang hoá và dịch vụ do Quốc hội quyết
định. Qui trình kiểm toán cũng đưa ra đảm bảo rằng các cơ quan công quyền hoạt động một cách
đúng đắn và tuân thủ pháp luật. Nếu chi tiêu của Chính phủ không hợp lệ thì các phương tiện thong
tin đại chúng sẽ là phương tiện chủ yếu thong tin các báo cáo kiểm toán có quan điểm trái ngược cho
cử tri và các nhóm có quan tâm khác.
Do vậy mục tiêu chính của kiểm toán nhà nước là phải trả lời cho những câu hỏi sau: Báo cáo tài
chính ( Báo cáo quyết toán) của chính phủ có được soạn lập, kiểm toán và phát hành trong vòng 9
tháng sau ngày kết thúc năm tài chính hay không? Có các hành động đáp ứng các chất vấn và kiến
nghị của Kiểm toán nhà nước hay không? Hệ thống kiểm soát nội bộ có giảm thiểu được các sai sót
và gian lận hay không?
3. Các vấn đề đối với kiểm toán hoạt động
Trong khu vực công kiềm soát chi phí phải đi đôi với chất lượng của dịch vụ. Vì thế tồn tại một áp lực
nhất định đối với tất cả các ý tưởng về hiệu quả đồng vốn. Điều đáng kể nhất là áp lực giữa khủng
hoảng tài chính dẫn tới các câu hỏi về tính kinh tế, tính hiệu suất, kiểm soát chi phí, do đó dẫn tới các
áp lực về tăng cường chất lượng dịch vụ hay tính hiệu quả. Kiểm toán viên được mong đợi hoặc chịu
sức ép để thực hiện loại hình kiểm toán này. Tuy nhiên, cần có các kỹ năng khác nhau và kết quả là
rất nhiều kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hiệu quả đồng vốn bị kẹt giữa một bên là sự hạn chế về
năng lực và một bên là yêu cầu cần phải thực hiện công việc có hiệu quả tốt hơn.
Hơn nữa, tồn tại một rủi ro là bản than kiểm toán hoạt động sẽ không mang lại hiệu quả đồng vốn.
IAS 37 - Phân biệt giữa Phải trả nhà
cung cấp và Chi phí trích trước.
Đã đọc: 8847 lượt.
Tại đoạn 11 - Chuẩn mực kế toán Quốc tế (IAS) số 37 có định nghĩa thế nào là khoản Phải trả
nhà cung cấp. Tương ứng khái niệm này được trình bày trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam
(VAS) số 18 - Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng.
Phải trả nhà cung cấp và Chi phí trích trước
Phải trả nhà cung cấp được định nghĩa là khoản công nợ phải trả cho việc cung cấp hàng hoá và dịch
vụ đã thực hiện và đã được bên bán cung cấp hoá đơn hoặc bên mua đồng ý chính thức bằng nhiều
hình thức khác nhau. Trong trường hợp bên bán chưa cung cấp hoá đơn hoặc bên mua chưa có sự
đồng ý chính thức thì khoản này được phân loại như là một khoản Công nợ trích trước hay Chi phí
trích trước.
Điều đó có nghĩa rằng tất cả các khoản phải trả cho việc mua hàng hoá và dịch vụ nếu đã được phát
hành hoá đơn hoặc chấp nhận thanh toán chính thức qua nhiều hình thức (ví dụ như thông qua Đơn
đặt hàng) thì cần được phân loại như là Phải trả nhà cung cấp mà không tính đến đặc điểm hoạt động
sản xuất kinh doanh của chính Doanh nghiệp, bất kể doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất
hay cung cấp dịch vụ.
Tuy nhiên, một khả năng khác được đặt ra là liệu việc phân loại giữa Phải trả nhà cung cấp và Chi phí
(công nợ) trích trước có ảnh hưởng bởi đặc điểm hoạt động kinh doanh của bản thân doanh nghiệp.
Ví dụ, khoản chi phí quảng cáo và xúc tiến thương mại sẽ được phân loại là Phải trả nhà cung cấp đối
với các doanh nghiệp sản xuất nếu thoả mãn một trong hai điều kiện là có hoá đơn phát hành hoặc
chấp nhận thanh toán chính thức. Nhưng đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, khoản chi phí
trên nên được ước tính dựa trên kết quả kinh doanh thực tế ví dụ như doanh thu, khối lượng hàng
bán, số lần truy cập vào website (đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ quảng cáo trên mạng),… cho
dù nhà cung cấp đã phát hành hoá đơn hay chưa.
Kiểm toán đối với Phải trả nhà cung cấp và Chi phí trích trước
Hai khoản mục này, thông thường, khác nhau ở sự chấp thuận giữa 2 bên về số nợ thực tế. Một
khoản công nợ được phân loại là Phải trả nhà cung cấp có nghĩa là sẽ được xác nhận bởi cả bên bán
và bên mua. Ngược lại, Chi phí trích trước thông thường phát sinh trong nội tại doanh nghiệp - bên
mua, chưa có sự đồng ý chính thức từ phía bên bán. Do đó, các kiểm toán viên, thông thường, chỉ gửi
đáng kể trong hệ thống các nghiệp vụ, khoản mục hay không?
• Nếu không ảnh hưởng trọng yếu lên các khu vực riêng biệt, hãy xem vấn đề này có lien quan đến hệ
thống quản lý hay không? Kiểm toán viên phải cân nhắc xem gian lận có bộc lộ là ảnh hưởng lên toàn
bộ và có cần mức độ chính trực của người quản trị hay không?
Nếu kiểm toán viên quyết định những sai sót xảy ra do gian lận và là trọng yếu hoặc kiểm toán viên
không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của gian lận đến báo cáo tài chính thì kiểm toán viên có
thể xem xét các hướng dẫn sau:
• Phải thu thập thêm bằng chứng
• Xem xét những ảnh hưởng của chúng lên những khu vực kiểm toán khác.
• Thảo luận vấn đề này, bao gồm cả những gì thu được trong việc điều tra bổ sung với cấp quản lý.
• Xem xét việc tham khảo ý kiến khách hàng trong việc phát hiện gian lận.
• Xem xét rút khỏi cuộc kiểm toán nếu kết quả cuộc kiểm toán chỉ ra rằng có tồn tại những sai sót
trọng yếu liên quan đến gian lận, và cần trao đổi rõ lý do rút khỏi cuộc kiểm toán với khách hàng.
• Xem xét việc tham khảo ý kiến tư vấn của các chuyên gia luật.
Cuối cùng, chuẩn mực kiểm toán yêu cầu kiểm toán viên phải thu thập những bảo đảm hợp lý rằng
Báo cáo tài chính không chứa đựng những sai sót trọng yếu, cho dù những sai sót đó là do gian lận
hay vô ý tạo nên.
Tuy nhiên,SAS 99 thừa nhận rằng, "do bản chất vốn có của một cuộc kiểm toán và tính chất của các
gian lận, không thể đảm bảo chắc chắn rằng gian lận luôn luôn được phát hiện". Trong thực tế, một
chuyên gia phát hiện gian lận nhiều kinh nghiệm cũng không thể đảm bảo chắc chắn phát hiện được
toàn bộ các gian lận khi chúng đã bị che dấu một cách cố ý.
Những sự kiện gần đây, bộ luật mới, hướng dẫn nghề nghiệp mới đã tăng kỳ vọng của khách hàng
đối với kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận. Kết quả là, sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm
toán viên, khi đương đầu với những gian lận tiềm ẩn, mang tính chất quyết định trong việc phát hiện
gian lận. Chuẩn mực nhấn mạnh ngay cả những cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch nhằm tuân thủ
GAAS cũng có thể không phát hiện hết các sai sót trọng yếu. Vì vậy kiểm toán viên phải xác định
được những mong muốn của khách hàng qua quá trình giao tiếp. Người quản lý cao cấp của khách
hàng cũng phải hiểu được bản chất và giới hạn của cuộc kiểm toán và trách nhiệm nào của kiểm toán
đối với báo cáo tài chính và gian lận tiềm ẩn.
Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số (tiếp theo và hết)
Việc phân tích thêm nữa được mở rộng, hoá đơn của công ty được kiểm toán viên yêu cầu. Kiểm
toán viên chứng minh được vài hoá đơn “dịch vụ đặc biệt” đã được giao cho khách hàng khi công ty
được chi trả. Những hoá đơn này ít chi tiết hơn hẳn những hoá đơn khác trong tập hồ sơ và không
được được làm sáng tỏ hơn qua các đơn đặt hàng hay là các giấy tờ phải thu. Tổng số hoá đơn đặc
biệt này đã chứng minh được rằng nghiệp vụ bán hàng đó hoàn toàn đáng nghi vấn.
Việc phát hiện này được trao đổi với Giám đốc tài chính, người sẽ đưa ra lời giải thích thiếu chính
xác. Sau khi tiếp xúc với ban quản trị, kiểm toán viên gặp lại Giám đốc tài chính và báo rằng việc điều
tra đang được xem xét.
Giám đốc tài chính đã thông đồng với Giám đốc điều hành xây dựng kế hoạch để tăng doanh số nhằm
đạt được mục tiêu doanh thu. Khi muốn hợp thức hoá, Giám đốc tài chính đã chọn một khách hàng
chính, để thực hiện kế hoạch này. Vị giám đốc tài chính sẽ từng kỳ trực tiếp hướng dẫn khách hàng
ghi hoá đơn và trả trong vòng 30 ngày. Sau đó, Giám đốc tài chính này sẽ phối hợp và “tạo ra” doanh
số ảo đến công ty của người mua với số tiền tương đương. Trong vòng 30 ngày chi trả doanh số ảo
này, khách hàng sẽ trì hoãn việc chi trả. Vào cuối kỳ kế toán, kế hoạch này đã khiến khoản bán hàng
không trung thực này được ghi nhận vào doanh thu. Điều này cho phép họ đạt được mục tiêu doanh
số.
Biển thủ tài sản:Trong khi đang tiến hành các thủ tục kiểm tra vật chất hàng tồn kho, các kiểm toán
viên đã phát hiện ra một sự mâu thuẫn trọng yếu hay là cụ thể hơn là sự thiếu hụt giữa việc ghi chép
liên tục với việc kiểm đếm để xác định tính hiện hữu của hàng tồn kho. Chủ nhiệm kiểm toán đã đưa
vấn đề này cho Giám đốc kiểm toán và được yêu cầu tiến hành điều tra thêm.
Việc phát hiện này chỉ ra rằng vấn đề này cần phải phân tích thêm. Các kiểm toán viên xem xét kỹ
lưỡng giấy tờ lien quan đến hang tồn kho thời gian trước đó ,đặc biệt chú ý các khoản thiếu hụt tương
tự với cùng một hàng tồn kho. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, khoản thiếu hụt này được cho là vụn vặt,
và chẳng có cuộc điều tra nào được tiến hành. Và khoản này đã được ghi vào tài khoản hao hụt
Kiểm toán viên sau đó yêu cầu kiểm tra khoản phải trả, việc mua hàng, và việc ghi các khoản phải thu.
Kế toán công nợ phải trả đã cung cấp một bảng báo cáo về các khoản phải trả của từng người bán
riêng lẻ và các tài liệu liên quan. Kiểm toán viên không được cung cấp các tài liệu liên quan đến khoản
phải trả được giữ bởi thủ kho. Kiểm toán viên đã trực tiếp yêu cầu người thủ kho cung cấp các tài liệu
đó. Chúng được hứa sẽ đưa vào tuần tới. Sau 2 tuần nhắc nhở liên tục, không một tài liệu liên quan
đến các khoản phải trả và hàng hoá đã nhận nào được cung cấp và vị thủ kho được báo là phải nằm
toán viên bắt đầu mở rộng điều tra hoặc các thủ tục pháp lý, có nhiều vấn đề nghề nghiệp cần phải
được xem xét. Kiểm toán viên sẽ xác định ranh giới giữa thủ tục kiểm tra báo cáo tài chính và thủ tục
phục vụ mục đích tư vấn cho khách hàng ở đâu? Kiểm toán viên có kinh nghiệm cần thiết để đưa ra ý
kiến Báo cáo tài chính hay không? Kiểm toán viên có độc lập trong khi đưa ra ý kiến thuộc về cảm tính
hay không? Hướng dẩn của GAAS cũng mơ hồ và bị giới hạn trong vấn đề này.
Phần kết:
Rõ ràng, kiểm toán viên được yêu cầu kiểm tra các trường hợp của gian lận tiềm tàng để đánh giá
ảnh hưởng lên Báo cáo tài chính cũng như ảnh hưởng lên toàn bộ cuộc kịểm toán. Sự xét đoán được
rèn luyện trong khi làm quyết định dựa vào thủ tục kiểm toán ban đầu và mở rộng, được yêu cầu cân
nhắc một cách cẩn thận. Nhiều vấn đề có thể phát sinh mà không được đề cập trong GAAS. Ví dụ:
• Ở thời điểm nào thủ tục kiểm toán mở rộng trở thành việc điều tra pháp lý riêng biệt bao gồm những
thủ tục không thường xuyên xảy ra trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính. GAAS - bao gồm cả
những yêu cầu liên quan đến việc đào tạo về mặt kỹ thuật và tính chuyên nghiệp của kiểm toán viên -
vì vậy phải xem xét GAAS có đề cập đến những kỹ năng tương tự yêu cầu đối với kiểm toán báo cáo
tài chính để thực hiện việc điều tra pháp lý hay không?
• Nếu không cần thiết phải mởi rộng các thủ tục kiểm toán nhằm đưa ra ý kiến kiểm toán viên, kiểm
toán viên kết luận họ thực hiện các thủ tục một cách thành thạo, tiếp theo kiểm toán viên có thể hoàn
thành công việc và vẫn giữ được tính độc lập. Tuy nhiên, kiểm toán viên phải hiểu rằng, có họ có thể
mất tính độc lập nếu họ đồng ý đóng vai trò là nhân chứng có chuyên môn hay là luật sư cho khách
hàng.
• Nếu kiểm toán viên điều tra thủ tục pháp lý tách biệt, họ cần phải xem xét có cần thiết phải bổ sung
các rủi ro kiểm toán hay không? Trước khi thực hiện việc điều tra pháp lý vượt qua yêu cầu của SAS
99, kiểm toán viên nên xem xét tất cả các vấn đề có thể xảy ra, các chuẩn mực nghề nghiệp liên quan
và những rủi ro kiểm toán tiềm ẩn có thể phát sinh cũng như khả năng nghề nghiệp của mình.
Các kiểm toán viên biết rõ rằng họ hoạt động trong một môi trường rủi ro cao, dễ xảy ra các tranh
chấp pháp lý, đặc biệt là với SAS 99 and Sarbanes-Oxley. Khi những rủi ro tiềm ẩn được phát hiện và
các kiểm toán viên mở rộng thủ tục kiểm toán đúng đắn phù hợp với tiêu chuẩn GAAS để đánh giá
được ảnh hưởng lên Báo cáo tài chính, Kiểm toán viên nên thảo luận những phát hiện của mình với
cấp quản lý phù hợp. Kiểm toán viên nên cân nhắc việc đề nghị khách hàng giữ lại những bằng chứng
có tính pháp lý cao để thực hiện các cuộc điều tra độc lập khác liên quan đến gian lận (nếu có) nếu