vài nét về tổ chức thương mại thế giới(wto) - Pdf 94

Lời mở đầu
Doanh nghiệp là một tế bào quan trọng, một nhân tố quyết định sự lớn
mạnh của nền kinh tế đất nước. Vì vậy, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính
sách nhằm phát triển doanh nghiệp, những chính sách đó đã đưa lại kết quả
khả quan, tạo bước đột phá về tăng trưởng doanh nghiệp.WTO, với tư cách là
một tổ chức quốc tế đã và đang quản lý, kiểm soát và tạo ra thị trường cho sự
phát triển của thương mại toàn cầu. Vì vậy, khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ
có nhiều cơ hội tiếp cận với thương mại thế giới trong vị thế được đối xử bình
đẳng với các quốc gia là thành viên của tổ chức này. Việt Nam sẽ được hưởng
các ưu đãi trong thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư mà các nước thành
viên giành cho nhau thông qua Chế độ đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), Chế độ
Đãi ngộ quốc gia (NT), và sẽ ngày càng nâng cao thế và lực trong thương mại
quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ được thừa hưởng nhiều thành tựu của các
vòng đàm phán đa phương về thuế quan của các tổ chức tiền thân WTO là
thỏa ước thuế quan và mậu dịch.Nhưng bên cạnh những cơ hội đó là vô vàn
những thách thức mà các cấp chính quyền, các doanh nghiệp phải đối mặt,
tìm các phương cách giải quyết để vượt qua.
Ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam trong quá trình đàm
phán diễn ra rất gay go và quyết liệt nhưng cuối cùng đã đi đến thành công
trên khía cạnh phù hợp với chủ trương của chính phủ và các cam kết của
WTO.Cũng giống như các DN khác,các DN ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự
cạnh tranh ngày càng cao nhưng ngược lại cũng có thêm nhiều cơ hội .Vậy
làm thế nào để tận dụng thời cơ một cách tốt nhất và làm thế nào để ngăn
chặn sự cạnh tranh của các đối thủ khác .
Vài nét về tổ chức thương mại thế giới(WTO)
1.Tìm hiểu chung:
Tổ chức Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade
Organization, viết tắt WTO)là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève,
Thụy Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định thương mại giữa các
nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại. Hoạt động của
WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để

thức cạnh tranh khi hệ thống ngân hàng trong nước vốn còn quá nhỏ bé so
với các ngân hàng nước ngoài.Sức ép đối với các ngân hàng trong nước
sau khi Việt Nam ra nhập WTO:
Điểm mạnh của các ngân hàng trong nước:
Theo Ông Douglas A. Jaffe - Phó Giám đốc Dịch vụ tài chính khu vực
Châu Á - Thái Bình Dương của Financial Insights đã nhận định:
“Nhiều người cho rằng tham gia vào WTO thì sẽ khó
khăn, nhưng tôi cho rằng đây là một cơ hội để tăng
cường thêm hoạt động kinh doanh, hiểu biết trong
ngành NH, học từ các mô hình tốt nhất của thế giới để
các NH VN chọn ra mô hình tốt nhất cho mình. Ví dụ
về các NH bên Trung Quốc dựa vào đối tác để học hỏi kinh nghiệm, tiếp
cận môi trường mới. Tham gia vào WTO, vì thế, sẽ có thuận lợi.
Các NH VN có ưu thế mạnh là nắm vững khách hàng của mình, họ cần
dựa vào đối tác nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm, mô hình để tạo ra các
dịch vụ tốt hơn cho khách hàng.”
-Trước hết là mạng lưới.Các NHTM trong nước trước hết có một mạng
lưới rộng khắp thông qua các chi nhánh và cơ sở giao dịch.
Vd: Đến nay mạng lưới hoạt động của VietinBank đã hoạt đông ở
56/64 tỉnh, thành phố trong cả nước với 3 sở giao dịch, 138 chi nhánh và
gần 700 phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm.
-Thứ hai,các ngân hàng trong nước đã thiết lập được mối quan hệ
với các hệ thống khách hàng .Mỗi ngân hàng đã có hệ thống khách hàng
truyền thống để chăm sóc và ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ từ nhiều
năm , đặc biệt là khối ngân hàng thương mại nhà nước .
-Thứ ba,với thâm niên hoạt động của mình ,các ngân hàng nội địa rất
am hiểu tập quán phong tục ,tâm lý khách hàng Việt Nam. Đây là một lợi
thế trong việc chăm sóc khách hàng.
Những hạn chế:
-Năng lực tài chính còn non yếu .Theo dự đoán của VAFI-Hiệp hội các

nước chưa có hoặc có ít kinh nghiệm, như kinh doanh ngoại hối, thanh
toán quốc tế, tín dụng thương mại quốc tế, dịch vụ ngân hàng điện tử, quản
lý quỹ, môi giới tiền tệ, quản lý rủi ro, v.v.
Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam cho phép các ngân hàng
nước ngoài được đầu tư mua cổ phần của các ngân hàng trong nước. Do
đó, đây cũng là cơ hội cho các ngân hàng trong nước tăng vốn, tiếp thụ
kiến thức, kinh nghiệm và công nghệ hiện đại về quản lý và hoạt động
ngân hàng, vì các ngân hàng nước ngoài được lựa chọn làm đối tác chiến
lược đều là các ngân hàng lớn có danh tiếng.
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam, tính đến nay
các Ngân hàng nước ngoài (NHNNg) đã có mặt tại Việt Nam dưới các
hình thức: 34 chi nhánh NHNNg, 4 NH liên doanh và trên 40 văn phòng
đại diện đến từ hơn 10 quốc gia, hiện tập trung chủ yếu tại TP: Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh. Hầu hết các NHNNg có mặt tại VN đều trong Top
1.000 ngân hàng lớn trên thế giới.
Tăng trưởng nhanh, sinh lời, và thâm nhập sâu vào thị trường - đó là
những dấu hiệu khởi sắc của các chi nhánh NHNNg tại Việt Nam thời gian
qua. Mới đây, HSBC - NHNNg lớn nhất tại Việt Nam đã chính thức mua
lại 10% vốn điều lệ của Techcombank để trở thành nhà đầu tư chiến lược
của NHCP này. Trước đó, ANZ đã mua cổ phần Sacombank; Standard
Chartered mua cổ phần ACB, OCBC Singapore mua cổ phần của VPBank
theo tỷ lệ 10% vốn điều lệ Xu hướng này đang tiếp diễn rất khả quan với
việc một số NHNNg khác cũng đang tiếp cận và sẽ sớm tham gia các
NHTMCP khác (giới quan sát đang dự đoán tới đây có thể là Citibank ở
NHCP Đông Á -PV ).
Đặc biệt, các Cty tài chính nước ngoài cũng bắt đầu bày tỏ mối quan
tâm và tìm hiểu để thành lập Cty tài chính 100% vốn nước ngoài tại Việt
Nam. Những cuộc “kết hôn” giữa NH “nội” và NH “ngoại”, theo các
chuyên gia, chính là sự chuẩn bị khôn ngoan của các NHNNg để đặt chân
vào thị phần vốn rất màu mỡ mà các NH nội đang chiếm giữ.

trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng tăng, các ngân hàng
trong nước sẽ đối mặt với nguy cơ mất dần lợi thế về dịch vụ ngân hàng
bán lẻ với mạng lưới các kênh phân phối và cơ sở khách hàng đã có sẵn.
Ngoài ra, mở cửa thị trường tài chính ngân hàng không chỉ buộc các
ngân hàng trong nước cạnh tranh thị trường với các ngân hàng nước ngoài
mà còn phải cạnh tranh thị trường với các định chế tài chính phi ngân
hàng. Nhiều quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty tài chính nước ngoài
đang nghiên cứu thị trường Việt Nam, một thị trường được đánh giá là rất
nhiều tiềm năng, với tốc độ tăng trưởng nhanh trong khi mức độ và trình
độ cung cấp dịch vụ tài chính còn ở giai đoạn phát triển ban đầu. Các tổ
chức này sẽ cạnh tranh thị trường mạnh với ngân hàng về các hoạt động
huy động vốn cũng như đầu tư.
Thêm vào đó, với việc mở cửa thị trường tài chính, các ngân hàng trong
nước phải đối mặt với nhiều rủi ro thị trường. Chẳng hạn rủi ro về giá, tỷ
giá và lãi suất và các rủi ro hệ thống, bắt nguồn từ sự lan truyền của các
cuộc khủng hoảng, các cú sốc kinh tế tài chính khu vực và trên thế giới.
Rủi ro cũng có thể đến từ các doanh nghiệp là khách hàng của ngân hàng
do làm ăn thua lỗ, thất bại trong cạnh tranh. Khi có bất cứ một biến động
tài chính nào thì những ngân hàng quy mô nhỏ dễ bị tổn thương hơn cả.
Theo TS Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ chiến lược phát triển NHNN,
thách thức lớn nhất đối với các NHTM Việt Nam khi mở cửa đó chính là
gia tăng áp lực cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa.
Điểm yếu của các NHTM “nội” là quy mô tài chính của các NH còn rất
nhỏ (trung bình từ 20 đến 250 triệu USD - PV); nợ xấu của các NH Việt
Nam theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế còn lớn; 5 NHTMNN chiếm thị phần
tín dụng đến 75% nhưng tổng vốn tự có cũng chỉ trên 1 tỷ USD, chưa đạt
hệ số an toàn vốn tối thiểu (8%), khả năng tăng vốn và xử lý nợ xấu của
các NHTMNN còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, sản phẩm dịch vụ
của các NH trong nước còn đơn điệu, tính tiện ích chất lượng chưa cao.
Theo yêu cầu gia nhập WTO, Việt Nam không được áp dụng các hạn

xấp xỉ 50% GDP, nguồn vốn nước ngoài chảy vào Việt Nam nhiều hơn (cả
FDI, thông qua thị trường chứng khoán và kiều hối)…
1. Về phía Ngân hàng Nhà nước
Việc khởi động chung và có lẽ cũng là quan trọng nhất của Ngân hàng
Nhà nước (NHNN)nhằm đáp ứng yêu cầu đã cam kết khi gia nhập WTO là
việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật với phương châm: Hoàn thiện và minh
bạch. Việc hoàn thiện pháp luật của NHNN tức là việc nghiên cứu bổ
sung, sửa đổi hoặc ban hành mới các quy định pháp luật phục vụ công tác
quản lý của NHNN. Chính vì vậy, ngay từ khi chuẩn bị thực hiện hội nhập,
NHNN đã khởi động và đang xúc tiến các chương trình: Xây dựng NHNN
Việt Nam trở thành Ngân hàng Trung ương hiện đại; Chỉ đạo việc tổng kết
các Luật Ngân hàng và tiến hành thành lập Ban soạn thảo Luật Ngân hàng
Nhà nước và Luật các Tổ chức tín dụng cũng như thực hiện các bước triển
khai Đề án thanh toán không dùng tiền mặt, tiếp tục thực hiện Đề án hiện
đại hoá công nghệ ngân hàng giai đoạn II…
Trong việc xây dựng NHNN Việt Nam trở thành Ngân hàng Trung
ương hiện đại, NHNN đã và đang thực hiện các công việc chủ yếu như:
- Tổng kết và đang xúc tiến khẩn trương hoàn thành Dự thảo mới Luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các Tổ chức tín dụng. Trong quá
trình soạn thảo Luật Ngân hàng Nhà nước, việc xác định địa vị pháp lý của
NHNN Việt Nam đã được chú trọng, trong đó: xác định rõ mục tiêu, chức
năng, nhiệm vụ; các hoạt động quản lý và thanh tra giám sát theo thông lệ
quốc tế, phù hợp với đặc điểm Việt Nam.
- Hoàn thành dự thảo và trình Chính phủ ban hành Nghị định về tổ
chức và hoạt động của NHNN thay thế Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày
19/5/2003 của Chính phủ.
- Khẩn trương hoàn thành dự thảo Luật giám sát an toàn hoạt động
ngân hàng, Luật bảo hiểm tiền gửi để trình Chính phủ ban hành trong thời
gian tới.
- Hoàn thành Đề án cải cách Thanh tra ngân hàng và xây dựng hệ thống

cực triển khai các biện pháp nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt
Nam, khắc phục tình trạng đô la hoá nền kinh tế. Lượng kiều hối chảy vào
Việt Nam tăng mạnh, ước cả năm trên 7,5 tỷ USD, vượt khá nhiều so với
2006…
-Nâng cao hiệu lực pháp lý và đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong
hệ thống pháp luật về thị trường ngân hàng nhằm tạo ra hành lang pháp lý
phù hợp cho các ngân hàng hoạt động. Tạo điều kiện cho các ngân hàng
thương mại thực sự kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, tách bạch kinh
doanh và chính sách. Sắp xếp, sáp nhập, giải thể một số ngân hàng thương
mại không đủ điều kiện. Bãi bỏ một số hạn chế đang cản trở các ngân hàng
thương mại mở rộng các hoạt động dịch vụ mới
-Nâng cao hiệu quả quản lý của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về
dịch vụ ngân hàng.
-Nâng cao hiệu lực của công tác kiểm tra, giám sát. Nghiêm cấm cạnh
tranh bất hợp pháp, gây mất ổn định thị trường. Giám sát hoạt động của
các ngân hàng trong việc cung cấp thông tin trung thực cho khách hàng,
đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên cung cấp và sử dụng dịch vụ.
Từng bước nghiên cứu và thành lập cơ quan giám sát tài chính thống nhất,
trực thuộc Chính phủ, độc lập với Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính,
thực hiện chức năng giám sát toàn bộ các hoạt động của các tổ chức tài
chính.
-Chủ động nới lỏng các quy chế về sự tham gia của các ngân hàng nước
ngoài trên cơ sở đảm bảo kiểm soát hiệu qủa. Cần tính toán số lượng các
chủ thể nước ngoài. Việc cấp phép cần phải căn cứ vào nhu cầu và khả
năng cung cấp của thị trường, số lượng các chủ thể cung cấp dịch vụ tài
chính trong nước tại thời điểm đó trên thị trường.
2. Về phía các ngân hàng thương mại
Đối chiếu với những cam kết khi gia nhập WTO, những việc mà
NHTM Việt Nam đã và đang thực hiện có thể kể đến là:
- Cơ bản hoàn thành xử lý nợ xấu, đẩy mạnh cơ cấu lại tài chính và tiến

minh chứng cụ thể là: Cùng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, thị phần
tín dụng tăng khá mạnh tăng từ 60 - 120% năm.
Cùng với gia tăng các hoạt động dịch vụ, hiệu quả hoạt động của các
NHTM đã được nâng cao. Năm 2007 được coi là năm “làm ăn phát đạt”
của các NHTM, đặc biệt là các NHTMCP. Tính đến cuối tháng 9/2007, lợi
nhuận trước thuế của các NHTM tăng khoảng 2 lần; Đến cuối tháng
9/2007, một số NHTMCP đạt lợi nhuận cao như: ACB đạt 1.400 tỷ đồng,
ước tính cả năm sẽ vượt 20 - 30% kế hoạch năm; lợi nhuận của
SacomBank hay Eximbank cũng phát triển khá mạnh, đều đạt trên 1.000 tỷ
đồng.
- Ứng dụng công nghệ vào hoạt động của các NHTM được tăng cường
hơn, do đó đã đẩy mạnh hoạt động dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ
thanh toán, trong đó thanh toán bằng thẻ ATM tăng khá mạnh (năm 2006
có 2500 máy, đến nay đã có 4300 máy). NHNN đang chỉ đạo các NHTM
thực hiện kết nối thanh toán thẻ rút tiền tự động qua Công ty chuyển mạch
tài chính quốc gia theo Đề án đã được Chính phủ phê duyệt và đến nay 2
công ty là: Banknet và Pvnet đã ký hợp đồng về việc kết nối 2 hệ thống
thanh toán giữa 2 nhóm ngân hàng thương mại, chiếm phần lớn các
NHTM lớn ở nước ta.
Các ngân hàng cần tăng cường cải cách một cách triệt để, nâng cao
năng lực tài chính và hoạt động, thông qua huy động các nguồn đầu tư
trong nước, tạo sự liên kết giữa các ngân hàng để hình thành các ngân
hàng lớn hơn, lựa chọn các đối tác chiến lược lớn có uy tín để tranh thủ
vốn, công nghệ và mạng lưới hoạt động toàn cầu của các ngân hàng này.
Các ngân hàng cũng cần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng
dịch vụ, và mở rộng khách hàng. Dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ
có tính đặc thù, đòi hỏi uy tín cao. Vì vậy, mỗi ngân hàng cần xây dựng
cho mình một hình ảnh đẹp, một thương hiệu mạnh, tin cậy. Thực tế hiện
nay, các ngân hàng chưa chú trọng công tác quản lý rủi ro, kể cả các ngân
hàng thương mại nhà nước lẫn các ngân hàng thương mại cổ phần. Do vậy,

đạo chặt chẽ của Chính phủ, và sự phối hợp có hiệu quả của các cấp, các
ngành như: Kế hoạch đầu tư, Tài chính, Công thương… Chúng ta không
còn đường lùi mà chỉ có đường hướng tới và phải đạt được những cam kết
của WTO, đây không chỉ là việc tổ chức thực hiện mà phải thể hiện sự
quyết tâm của cả Ngành và mỗi cán bộ công nhân viên chức ngân hàng.

Kết bài
Tài chính-ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất
ngay sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Cùng
với các nỗ lực tự thân của các ngân hàng thương mại trong nước,các giải pháp
từ phía Chính phủ và Ngân hàng nhà nước là rất cần thiết cho các ngân hàng
trong nước có thể hòa vào tiến trình tự do hóa dịch vụ ngân hàng .Bức tranh
thị phần ngân hàng tại Việt Nam sẽ có thay đổi đáng kể,hệ thống ngân hàng
nói chung sẽ hoạt động tốt hơn và đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển
nhanh chóng của nền kinh tế!
Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam Ayumi Konishi cho rằng, việc
gia nhập WTO tuy chưa đem lại “phép màu” nhưng nền kinh tế Việt Nam
đang phát triển lành mạnh và tiếp tục phát triển nhanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status