Email : in
thoi: 0983.317.327
Lời mở đầu
Công nghệ viễn thông đã và đang phát triển nhanh chóng. Mạng viễn thông
ngày nay có khả năng cung cấp nhiều loại dịch vụ tới khách hàng, tuy nhiên nhiều
loại dịch vụ đợc cung cấp trên các mạng khác nhau dẫn đến việc khách hàng ( và cả
nhà khai thác) phải đầu t chồng chéo. Trong những năm 80 mạng tổ hợp số băng
hẹp ISDN đã đợc triển khai, thử nghiệm và thơng mại hoá.
Tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và nhu cầu trao đổi
thông tin ngày càng tăng nhanh tới mức chóng mặt về cả số lợng và chất lợng thì
mạng tích hợp băng hẹp đã nhanh chóng trở nên quá tải và không thể đáp ứng đợc
một khi có các yêu cầu bổ xung thêm vào các dịch vụ đòi hỏi băng thông lớn cũng
nh thời gian thực. Mạng tổ hợp băng rộng B-ISDN đã ra đời đang dần từng bớc thay
thế mạng thông tin băng hẹp tại nhiều quốc gia trên thế giới. Mạng B-ISDN đáp ứng
các dịch vụ của truyền hình số, truyền hình có độ phân giải cao (HDTV), điện thoại
truyền hình với chất lợng cao, các dịch vụ truyền số liệu với tốc độ cao và nhiều các
loại dịch vụ khác .
Năm 1988 ITU-T đã quyết định kiểu truyền dẫn không đồng bộ ATM sẽ là
phơng pháp truyền cho mạng B-ISDN trong tơng lai. Năm 1990 ITU-T đa ra 13
khuyến nghị về phơng thức truyền dẫn không đồng bộ. Chính những khuyến nghị
này đã đặt cơ sở cho mạng truyền dẫn không đồng bộ.
Với công nghệ truyền không đồng bộ ATM cho phép chúng ta xây dựng các
mạng xơng sống có khả năng tơng thích nhiều chủng loại thiết bị, tốc độ truyền cao,
sử dụng băng thông hiệu quả, băng thông đủ rộng để thoả mãn các nhu cầu ngày
càng tăng của xã hội trong việc khai thác các dịch vụ liên mạng Internet.
Để có thể hiểu rõ bản chất của công nghệ truyền dẫn không đồng bộ ATM
cũng nh khai thác hiệu quả, áp dụng công nghệ mới phù hợp với nhu cầu sử dụng,
khai thác các dịch vụ băng rộng, chất lợng cao, cũng nh khả năng kết nối các chủng
loại khác nhau vào cùng một mạng thì việc tìm hiểu các vấn đề quản lý tài nguyên
cũng nh quá trình trao đổi dữ liệu tại các lớp trong mô hình tham chiếu ATM là một
việc rất quan trọng.
cách riêng rẽ, ứng với mỗi một loại dịch vụ thông tin lại có ít nhất một loại mạng
viễn thông riêng biệt để phục vụ dịch vụ đó. Thí dụ:
Mạng điện thoại công cộng, còn gọi là mạng POTS (Plain Old Telephone
Service): ở đây thông tin tiếng nói đợc số hoá và chuyển mạch ở hệ thống
chuyển mạch điện thoại công cộng PSTN (Public Switched Telephone
Network).
Mạng truyền số liệu: Bao gồm các mạng chuyển mạch gói để trao đổi số liệu
giữa các máy tính dựa trên các giao thức của X.25 và hệ thống truyền số liệu
chuyển mạch kênh dựa trên các giao thức X.21.
Các tín hiệu truyền hình có thể đợc truyền theo ba cách: Truyền bằng sóng vô
tuyến, truyền qua hệ thống truyền hình CATV (Community Antenna TV)
bằng cáp đồng trục hoặc truyền qua hệ thống vệ tinh, còn gọi hệ thống truyền
hình trực tiếp DBS (Direct Broadcast System).
Mỗi mạng trên đợc thiết kế cho các dịch vụ riêng biệt và không thể sử dụng
cho các mục đích khác. Thí dụ, ta không thể truyền tiếng nói qua mạng chuyển
mạch gói X.25 vì trễ qua mạng này lớn.
Hậu quả là hiện nay có rất nhiều loại mạng khác nhau cùng song song tồn tại.
Mỗi mạng lại yêu cầu phơng pháp thiết kế, sản xuất, vận hành và bảo dỡng khác
nhau. Nh vậy hệ thống mạng viễn thông hiện tại có rất nhiều nhợc điểm mà quan
trọng là:
Chỉ truyền đợc các dịch vụ độc lập tơng ứng với từng mạng
Thiếu tính mềm dẻo: Sự ra đời của các thuật toán nén tiếng nói, nén ảnh và
tiến bộ trong công nghệ VLSI ảnh hởng mạng mẽ tới tốc độ truyền tín hiệu.
Ngoài ra còn có nhiều dịch vụ truyền thông trong tơng lai mà hiện nay cha dự
đoán đợc, mỗi loại dịch vụ sẽ có tốc độ truyền khác nhau. Ta dễ dàng nhận
thấy rằng hệ thống hiện nay rất khó thích nghi với yêu cầu của các dịch vụ
khác nhau trong tơng lai.
4
Email : in
thoi: 0983.317.327
1.3 Khái niệm về ATM và khả năng của ATM
1.3.1 Khái niệm về ATM
Ngời ta đã nghiên cứu và biết rằng tất cả các loại thông tin đều có tính chất
bột phá bùng nổ và không bao giờ là liên tục.
5
Email : in
thoi: 0983.317.327
Hãy thử phân tích tiếng nói. Quan sát hai ngời đang nói chuyện ta sẽ thấy
năng lợng tiếng nói phát ra liên tục bị ngắt quãng do ngời nói phải dừng lại nghỉ hay
nghe ngời kia nói. Từ rất lâu rồi, những năm đầu thập kỷ 60, khi nghiên cứu tín hiệu
tiếng nói, ngời ta đã tìm ra đợc rằng năng lợng âm thanh chỉ đợc phát ra trong 40%
của thời gian nói chuyện. Nh vậy là nếu ta tận dụng đợc thời gian không nói ấy cho
việc khác thì thực tế ta đã tăng thông lợng đờng truyền lên gấp 2 lần mà nó đặc biệt
có ý nghĩa đối với những đờng truyền dài. Và từ đó có ý tởng là truyền những số
liệu khác nh th tín điện tử trong thời gian im lặng đó. Qua nghiên cứu thông tin
truyền số liệu, ngời ta thấy rằng thông tin truyền số liệu có đặc tính là bột phá, bùng
nổ, và tín hiệu hình video cũng vậy.
Với những hệ thống chuyển mạch tơng tự (Analog) thông thờng trớc đây
( Circuit Switching ), một cuộc gọi sau khi đợc hình thành sẽ chiếm toàn bộ băng
thông của mạch đó. Còn với hệ thống chuyển mạch số (Digital) sau này thì toàn bộ
tốc độ truyền một rãnh thời gian (Single Time Slot) của mỗi khung truyền đợc gán
cho cuộc gọi. Phơng pháp này đợc gọi là ghép kênh theo thời gian (Time Division
Multiplexing). Trong một chu kỳ của khung truyền, nó sẽ phát ra một số bít nhất
định của tín hiệu số ( ví dụ 8 bít đại diện cho một mức của một mức tín hiệu điện
thoại analog) và nhóm bit này sẽ đợc nhóm ở trong một rãnh thời gian nhất định đợc
gán cho cuộc gọi đó. Tín hiệu thoại của cuộc gọi đó sẽ đợi để gửi tiếp số liệu đi ở
rãnh thời gian ấn định đó trong các khung truyền tiếp theo. Phơng thức này có tên là
gọi là hệ thống phân cấp số đồng bộ (SDH). Nói tóm lại là toàn bộ băng thông đợc
gán cho cuộc gọi đó mà không cần biết là nó có truyền thông tin trên đó hay nghỉ
trong suốt cuộc gọi.
cố định là 53 byte gọi là tế bào ATM. Và thế là giống nh công nghệ ghép kênh theo
thời gian với việc tạo ra các rãnh thời gian (cell slot ) bằng thời gian truyền một tế
bào để cho các tế bào đợc truyền đi.
Hình 1. 1: Cấu trúc khung thời gian trong STM
Hình 1. 2: Cấu trúc luồng thông tin trong ATM
Trong kiểu truyền không đồng bộ, thuật ngữ "truyền" bao gồm cả lĩnh vực
truyền dẫn và chuyển mạch, do đó "dạng truyền" ám chỉ cả chế độ truyền dẫn và
chuyển mạch thông tin trong mạng.
7
Email : in
thoi: 0983.317.327
Thuật ngữ "không đồng bộ" giải thích cho một kiểu truyền trong đó các gói
trong cùng một cuộc nối có thể lặp lại một cách bất thờng nh lúc chúng đợc tạo ra
theo yêu cầu cụ thể mà không theo chu kỳ.
Để minh hoạ, hình 1.1 và 1.2 biểu diễn sự khác nhau giữa dạng truyền không
đồng bộ và đồng bộ:
Trong dạng truyền đồng bộ (STM - Synchronous Transfer Mode), các phần tử
số liệu tơng ứng với kênh đã cho đợc nhận biết bởi vị trí của nó trong khung
truyền (hình 1.1)
Trong khi ở ATM, các gói thuộc về một cuộc nối lại tơng ứng với các kênh
ảo cụ thể và có thể xuất hiện tại bất kỳ vị trí nào (hình 1.2).
1.3.2 Các đặc điểm và khả năng của ATM
ATM là phơng thức truyền tải mang đặc tính của chuyển mạch gói, sử dụng
kỹ thuật ghép kênh chia thời gian không đồng bộ, bằng việc ghép các luồng tín hiệu
vào các khối có kích thớc cố định, gọi là tế bào. Tế bào gồm có trờng thông tin
mang thông tin của khách hàng và mào đầu mang thông tin về mạng, ví dụ thông tin
định tuyến. Vì trên cùng một đờng truyền, có thể có nhiều tế bào từ các nguồn tín
hiệu ghép lại với nhau nên cần phải có biện pháp phân biệt các tế bào cùng chung
một nguồn tín hiệu, biện pháp này đợc thực hiện bằng thông tin đợc mang trong
phần mào đầu tế bào. Trong ATM, một tế bào sẽ có 48 byte cho số liệu và 5 byte
kênh truyền thông tin của cuộc nối đó, tức là nó sử dụng một số hiệu nhận dạng
khác. Vì vậy báo hiệu trong ATM là báo hiệu ngoài băng. Ngoài ra, B-ISDN còn sử
dụng thêm thủ tục báo hiệu Meta.
Do những đặc điểm trên của phơng thức truyền không đồng bộ ATM mà các
tế bào có kích thớc nhỏ với tốc độ truyền lớn sẽ làm cho trễ và biến động trễ là đủ
nhỏ đối với các dịch vụ thời gian thực.
Kích thớc của các tế bào nhỏ sẽ tạo điều kiện cho việc kết hợp kênh chuyển
mạch ở tốc độ cao đợc dễ dàng hơn.
ATM có khả năng nhóm nhiều kênh ảo VC (Virtual Channel) thành đờng ảo
(Virtual Path) giúp cho việc định tuyến đợc dễ dàng, thông tin đợc truyền đi với tốc
độ cao hơn.
Việc nhóm kênh và khả năng chuyển mạch trên cơ sở tế bào cho phép định ra
tốc độ mềm dẻo có khả năng thích ứng với tính chất của từng loại dịch vụ.
Các đặc điểm chính của mạng ATM đợc ITU-T đa ra trong khuyến nghị
I.237, theo đó các khả năng về báo hiệu và truyền dẫn của ATM bao gồm:
Khả năng cung cấp các dịch vụ băng rộng.
Khả năng cung cấp các dịch vụ cho N-ISDN với tốc độ cơ sở
64 Kbit/s.
Cung cấp các chức năng báo hiệu từ ngời sử dụng tới mạng.
Cung cấp các chức năng báo hiệu giữa các nút mạng.
Cung cấp các chức năng báo hiệu từ ngời sử dụng tới ngời sử dụng.
9
Email : in
thoi: 0983.317.327
Chơng 2
Kỹ thuật B-ISDN
2.1 Cấu trúc phân lớp Mô hình tham chiếu giao thức của mạng B-ISDN
Giống nh bất kỳ một công nghệ truyền tin mới nào, dầu rằng rất khó khăn
nhng ngời ta cũng phải cố gắng xem xét nó trên cấu trúc phân lớp. Cũng nh vậy đối
với ATM.
quản lý có liên quan tới tài nguyên và thông số nằm ở các thực thể có giao thức (nh
báo hiệu chẳng hạn). Đối với mỗi lớp, quản lý lớp xử lý dòng thông tin OAM tơng
ứng
Mặt phẳng ng ời sử dụng :
Nhiệm vụ của mặt phẳng này là để truyền thông tin của ngời sử dụng từ
điểm A tới điểm B trên mạng. Tất cả các cơ chế có liên quan nh điều khiển luồng,
điều khiển tắc nghẽn, chống lỗi đều đợc thực hiện ở mặt phẳng này. Nó cũng có cấu
trúc phân lớp, mỗi lớp thực hiện một chức năng riêng biệt liên quan tới việc cung
cấp dịch vụ cho ngời sử dụng.
Mặt phẳng điều khiển (hoặc báo hiệu) :
Mặt phẳng điều khiển cũng có cấu trúc phân lớp. Mặt phẳng này có nhiệm
vụ thực hiện các chức năng điều khiển đờng nối (Connection control) và cuộc gọi
(Call control). Chúng thực hiện các chức năng báo hiệu có liên quan tới việc thiết
lập, giám sát và giải phóng đờng nối hoặc cuộc gọi.
2.2 Lớp vật lý trong ATM
Có một sự khác nhau rất quan trọng trong việc phân biệt giữa lớp vật lý của
ATM và lớp vật lý truyền thống của các hệ thống mở OSI. Tại lớp vật lý truyền
11
Hình 2.1 : Mô hình tham chiếu giao thức B-ISDN(BISDN-BRM)
Email : in
thoi: 0983.317.327
thống công việc của nó là liên quan đến việc tải các phần tử nhỏ bé nhất (ở đây là
các bit ) từ lớp này đến lớp khác.Thế nhng trong ATM phần tử nhỏ bé nhất lại là tế
bào. Do đó rõ ràng lớp vật lý của ATM phải có chức năng tải tế bào và chức năng
này đợc mang tên là lớp con hội tụ truyền. Dới nó là lớp con đờng truyền vật lý có
nhiệm vụ liên quan đến nhiệm vụ thông thờng của lớp vật lý truyền thống. Nh vậy
trong ATM, lớp vật lý đợc chia làm 2 lớp con là lớp con đờng truyền và lớp con hội
tụ truyền.
2.2.1 Lớp con đờng truyền vật lý (Physical Medium PM)
Lớp con đờng truyền vật lý là lớp thấp nhất, các chức năng của nó hoàn toàn
12
Email : in
thoi: 0983.317.327
bào. Bình thờng đầu thu đợc đặt ở chế độ sửa sai, khi phát hiện ra một lỗi đơn trong
tiêu đề của tế bào ATM thì lỗi này sẽ đợc sửa. Nếu xuất hiện lỗi nhóm thì cả tế bào
sẽ bị huỷ. Trong cả hai trờng hợp, sau khi tìm ra lỗi đơn hoặc lỗi chùm, hệ thống sẽ
tự động chuyển qua chế độ phát hiện lỗi, ở trạng thái phát hiện lỗi này thì khi có lỗi
đơn hoặc lỗi chùm xuất hiện thì tế bào sẽ bị huỷ. Hệ thống duy trì ở chế độ phát
hiện lỗi cho tới khi không tiếp tục phát hiện ra tế bào lỗi nữa, lúc đó sẽ tự động quay
lại chế độ sửa sai.
Nhận biết giới hạn tế bào (Cell Delineation)
Chức năng này cho phép bên thu nhận biết giới hạn của một tế bào. Sự nhận
biết này dựa trên cơ sở sự tơng quan của các bit tiêu đề và mã HEC tơng ứng.
Biến đổi dòng tế bào thành các khung truyền dẫn (Transmission Frame
Adaptation)
Tại đầu phát, chức năng này có nhiệm vụ làm cho dòng tế bào tới từ các lớp
trên thích ứng với các cấu trúc khung số liệu đợc sử dụng trong hệ thống truyền dẫn.
Tại đầu thu, dòng tế bào đợc khôi phục lại từ các khung truyền dẫn. Các hệ thống
thờng đợc dùng là hệ thống phân cấp số đồng bộ SDH và hệ thống truyền dẫn dựa
trên cơ sở các tế bào
Khung truyền dẫn
Nó có nhiệm vụ tạo ra các khung truyền dẫn và ghép các tế bào ATM vào
những khung này. Kích thớc khung truyền dẫn phụ thuộc vào tốc độ truyền. Tại đầu
thu các khung truyền dẫn đợc nhận biết và khôi phục lại. Từ các khung này ta có thể
khôi phục lại dòng tế bào ATM. Cấu trúc các khung truyền dẫn có thể khác nhau
tuỳ thuộc vào từng hệ thống truyền dẫn cụ thể. Trong chế độ truyền SDH các tế bào
ATM đợc đóng vào các khung truyền dẫn gọi là container, phần đầu của các
container này chứa các thông tin điều khiển.
2.3 Lớp ATM
Lớp ATM là thành phần chính của mạng ATM, trong đó hầu hết các dịch vụ
kênh nh vậy nên VCI có độ dài 16 bit (tơng ứng với 65535 kênh).
Do mạng ATM có đặc điểm hớng liên kết nên mỗi cuộc nối đợc gắn một số
hiệu nhận dạng VCI tại thời điểm thiết lập. Mỗi giá trị VCI chỉ có ý nghĩa tại từng
14
Email : in
thoi: 0983.317.327
liên kết từ nút tới nút của mạng. Khi cuộc nối kết thúc, VCI đợc giải phóng để dùng
cho cuộc nối khác. Ngoài ra VCI còn có u điểm trong việc sử dụng cho các cuộc nối
đa dịch vụ. VCI đợc sử dụng để thiết lập cuộc nối đờng ảo cho một số cuộc nối kênh
ảo VCC. VPI cho phép đơn giản hoá các thủ tục chọn tuyến cũng nh quản lý, nó có
độ dài 8 hoặc 12 bit tuỳ thuộc tế bào ATM đang đợc truyền qua giao diện UNI hay
NNI.
Tổ hợp của VCI và VPI tạo thành một giá trị duy nhất cho mỗi cuộc nối. Tuỳ
thuộc vào vị trí đối với hai điểm cuối của cuộc nối mà nút chuyển mạch ATM sẽ
định đờng dựa trên giá trị của VPI và VCI hay chỉ dựa trên giá trị VPI. Tuy vậy cần
lu ý rằng VCI và VPI chỉ có ý nghĩa trên từng chặng liên kết của cuộc nối. Chúng đ-
ợc sử dụng để việc chọn đờng trên các chặng này đợc dễ dàng hơn. Do số VPI và
VCI quá nhỏ nên chúng không thể đợc sử dụng nh một số hiệu nhận dạng toàn cục
vì khả năng xảy ra hai cuộc nối sử dụng ngẫu nhiên cùng một số VPI và VCI là rất
cao. Để khắc phục ngời ta cho VCI và VPI là duy nhất trên mỗi đoạn liên kết. Trên
từng đoạn liên kết này, hai nút chuyển mạch sử dụng VPI và VCI nh số hiệu nhận
dạng cho mỗi cuộc nối trên đoạn đó. Khi đã qua nút chuyển mạch, VPI và VCI nhận
các giá trị mới phù hợp với đoạn tiếp theo.
2.3.1.2 Trờng kiểu tế bào (PT - Payload Type)
PT là một trờng gồm 3 bit có nhiệm vụ phân biệt các kiểu tế bào khác nhau
nh: tế bào mang thông tin của ngời sử dụng, tế bào mang thông tin về giám sát, vận
hành, bảo dỡng (OAM - Operation Administration Maintenance).
Nếu bit đầu của PT có giá trị 0 thì đây là tế bào của ngời sử dụng. Khi đó bit thứ
hai trong PT báo hiệu tắc ngẽn trong mạng còn bit thứ 3 có chức năng báo hiệu
cho lớp thích ứng ATM (ALL - ATM Adaption Layer).
Đa thức sinh đợc dùng ở đây là đa thức: x
8
+x
2
+x+1. Đa thức này có thể sửa toàn bộ
các lỗi đơn và phát hiện ra phần lớn các lỗi nhóm.
2.3.1.5 Trờng điều khiển luồng chung (GFC - Generic Flow Control)
ở giao diện giữa ngời sử dụng và mạng (UNI), phần tiêu đề có vài khác biệt
so với ở giao diện (NNI). Sự khác nhau căn bản nhất là trờng VPI bị rút ngắn còn lại
8 bit (so với 12 bit ở giao diện NNI), thay vào chỗ 4 bit của VPI là trờng điều khiển
luồng chung (GFC).
Chức năng của GFC đợc nêu ra trong khuyến nghị I.150 của ITU-T. Cơ chế
của GFC cho phép điều khiển luồng các cuộc nối ATM ở giao diện UNI. Nó đợc sử
dụng để làm giảm tình trạng quá tải trong thời gian ngắn có thể xảy ra trong mạng
của ngời sử dụng. Cơ chế GFC dùng cho cả các cuộc nối từ điểm tới điểm và từ
điểm tới nhiều điểm.
16
Email : in
thoi: 0983.317.327
Việc buộc phải sử dụng trờng điều khiển luồng chung GFC là một nhợc
điểm cơ bản của ATM, nó tạo ra sự khác nhau giữa các tế bào tại giao diện UNI và
NNI do các giao thức trong ATM không phải là giao thức đồng nhất. Trong mạng sử
dụng các giao thức đồng nhất, các thiết bị viễn thông có thể đợc lắp đặt vào bất kỳ
một nơi nào trong mạng. Trong khi đó trong ATM, ta phải chú ý xem thiết bị đợc
lắp đặt có thích hợp với giao diện đã cho hay không.
2.3.1.6 Các giá trị mặc định của tiêu đề tế bào ATM
Để phân biệt các tế bào đợc sử dụng ở lớp ATM với những tế bào của lớp vật
lý và các tế bào không xác định, ngời ta sử dụng các giá trị tiêu đề mặc định. Quá
trình xử lý tế bào đợc tiến hành dựa trên các giá trị này.
2.3.2 Xác định độ dài cho tế bào ATM
có độ dài cố định. Việc tính toán kích thớc hàng đợi một cách tối u trong trờng
hợp này sẽ hêt sức khó khăn.
Về độ trễ, rõ ràng là nều gói có kích thớc thay đổi sự biến đổi trễ là không thể l-
ờng trớc đợc ở đầu thu dẫn đến việc loại bỏ tiến vọng echo là rất khó khăn,
ngoài ra nếu gói có kích thớc lớn dẫn đến độ trễ tăng lên.
Do đó có thể dẫn đến kết luận sau khi đối chiếu với yêu cầu về tốc độ hoạt
động và kích thớc bộ nhớ hàng đợi, điều khiển trễ, giải pháp gói có kích thớc cố
định là hợp lý nhất đối với các dịch vụ băng rộng ATM.
2.3.2.2 Lựa chọn về kích thớc của tế bào.
Tại sao lại là 53 byte cho chiều dài một tế bào ?. Sau đây là một số lý do:
Lợi ích về trễ đóng gói tế bào có kích thớc nhỏ.
Xem xét về một chế độ điều chuẩn PCM cho tín hiệu tiếng nói, nơi mà mỗi
cuộc nói chuyện sử dụng kênh 64Kb/s, tiếng nói đợc mã hoá với tốc độ là 8000 mẫu
trong một giây (mỗi rãnh thời gian lấy mẫu là 125às ), mỗi mẫu là 8 bit và có khả
năng phản ánh đợc mức năng lợng tại điểm đó. 8000 mẫu/s ( 8 bit 1 mẫu) là kết quả
của tốc độ truyền số liệu đạt tới 64Kb/s.
Bây giờ hãy xem xét việc đa các số liệu đó vào trong các tế bào: Nếu mỗi tế
bào có độ dài là 40 byte, thì mẫu đầu tiên của tín hiệu tiếng nói khi đến phải ngồi
đợi cho 39 mẫu còn lại truyền tới để có thể làm đầy đợc một tế bào, sau đó mới
truyền đi trên mạng. Nh vậy nó đã có độ trễ bằng 40 lần thời gian lấy mẫu tức là có
5ms trễ trớc khi đợc truyền đi. Độ trễ này đợc gọi là trễ đóng gói và là môt chỉ số rất
quan trọng cho những đờng truyền thời gian thực nh tín hiệu tiếng nói.
Trễ này có thể gây nhiễu cho tín hiệu tiếng nói làm cho ta rất khó nhận dạng.
Do đó có thể thấy rằng nếu tăng chiều dài của tế bào lên sẽ là tăng độ trễ đóng gói
lên. Vì vậy ngời ta muốn giữ độ trễ này là nhỏ nhất, tế bào có kích thớc càng nhỏ
càng tốt.
Tuy nhiên tiêu đề cho mỗi một tế bào là cần thiết, không thể thiếu đợc, để bảo
đảm cho tế bào đến đúng nơi cần đến. Nếu sử dụng 5 byte trong phần tiêu đề ta có
số phần trăm của băng thông đợc sử dụng cho phần tiêu đề đợc minh hoạ nh trên
hình vẽ dới đây. Rõ ràng là ta không thể làm cho tế bào quá nhỏ bởi vì nh vậy sẽ dẫn
lớn. Do đó các công ty điện thoại Mỹ phải triển khai bộ chống tiếng vọng ở khắp
nơi. Điều đó dẫn đến hai quan điểm khác nhau, Bắc Mỹ muốn đa ra tiêu chuẩn tế
bào với 64 byte dữ liệu và tiêu đề, trong khi đó châu Âu lại muốn đa ra tiêu chuẩn
32 byte dữ liệu và tiêu đề. Do đó, ITU-T và năm 1989, đã đa ra một chuẩn chung có
tính chất dung hoà đó là tế bào ATM với 48 byte dữ liệu và 5 byte tiêu đề.
2.3.3 Đờng ảo và kênh ảo
19
Email : in
thoi: 0983.317.327
Kênh ảo (Virtual Channel): Là kênh thông tin cung cấp khả năng truyền đơn
hớng các tế bào ATM tơng ứng với một giá trị nhận dạng chung nhất VCI (Virtual
Channel Identifier
Đờng ảo (Virtuan Path): Là khái niệm dùng để chỉ việc truyền đơn hớng các
tế bào ATM có cùng một giá trị nhận dạng đờng ảo VPI.
Hình 2. 5: Mối quan hệ giữa giữa đờng ảo, kênh ảo và đờng truyền dẫn
Trong đờng truyền dẫn có thể có một vài đờng ảo, trong mỗi đờng ảo có thể
có một vài kênh ảo VC. Mỗi VP và VC trong đờng truyền dẫn đều có một giá trị
VCI và VPI riêng, số các VP và VC phụ thuộc vào độ dài của VPI và VCI trong tiêu
đề của tế bào ATM. Hình 2. 5 thể hiện mối quan hệ giữa VP, VC và đờng truyền
dẫn.
2.3.4 Các khái niệm khác liên quan đến đờng ảo và kênh ảo
2.3.4.1 Liên kết kênh ảo và liên kết đờng ảo
Theo ITU-T liên kết kênh ảo là sự truyền đơn hớng các tế bào ATM giữa
điểm mà tại đó các giá trị VCI đợc gán vào tế bào và điểm mà các giá trị đó bị thay
đổi hoặc bị xoá.
Liên kết đờng ảo là liên kết giữa hai điểm mà tại đó giá trị VPI đợc gán, thay
đổi hoặc xoá.
2.3.4.2 Cuộc nối kênh ảo VCC(Virtual Channel Connection) và cuộc nối đờng
ảo VPC(Virtual Path Connection
Cuộc nối kênh ảo
1) Thiết lập VPC không cần đến các thủ tục báo hiệu: Việc thiết lập hoặc giải
phóng một VPC đợc thực hiện qua các kênh dành sẵn (trên cơ sở của thuê
bao).
2) Thiết lập VPC đợc điều khiển bởi ngời sử dụng hoặc mạng: Các giá trị VPI đ-
ợc cung cấp bởi thiết bị của ngời sử dụng hoặc các điểm cung cấp dịch vụ
trong mạng. Lúc này cần phải sử dụng các thủ tục của mặt phẳng quản lý
mạng.
Hình 2.6 trình bày mối quan hệ giữa các lớp mạng ATM qua cuộc nối kênh
ảo, liên kết đờng ảo, liên kết kênh ảo .v.v.
Các ứng dụng cuộc nối kênh ảo và đờng ảo.
Các VPC và VCC đợc sử dụng giữa:
Ngời sử dụng và ngời sử dụng.
Ngời sử dụng và mạng.
Mạng và mạng.
21
Email : in
thoi: 0983.317.327
Các tế bào tơng ứng với một VPC và VCC riêng rẽ đợc truyền qua mạng trên
cùng một tuyến.
Các VPC giữa ngời sử dụng và ngời sử dụng đợc dùng để mang thông tin của
ngời sử dụng và thông tin báo hiệu giữa hai đầu cuối.
VCC giữa ngời sử dụng và mạng có thể đợc dùng để truy nhập với các chức
năng nằm ở nút chuyển mạch địa phơng có liên quan đến cuộc nối (nh báo hiệu tại
giao diện UNI).
VCC giữa các nút mạng đợc dùng để mang các thông tin về quản lý lu lợng
mạng, định tuyến và báo hiệu tại giao diện NNI.
VPC liên kết giữa những ngời sử dụng cung cấp cho họ các "ống truyền dẫn",
tổ chức của các VC sẽ phụ thuộc vào ống này. Những VPC giữa ngời sử dụng và
mạng đợc dùng để kết hợp các luồng thông tin từ ngời sử dụng tới các phần tử của
mạng nh chuyển mạch địa phơng. VPC giữa mạng và mạng đợc sử dụng để tổ chức
Chức năng chính của SAR là chia các PDU của lớp cao hơn thành các phần t-
ơng ứng với 48 byte của trờng dữ liệu trong tế bào ATM tại đầu phát. Tại đầu thu,
SAR lấy thông tin trong trờng dữ liệu của tế bào ATM để khôi phục lại các PDU
hoàn chỉnh.
Lớp con CS phụ thuộc vào loại dịch vụ. Nó cung cấp các dịch vụ của lớp
AAL cho các lớp cao hơn thông qua: điểm truy nhập dịch vụ (SAP).
Bảng 2.1: Bảng phân loại các nhóm ALL
Nhóm A Nhóm B Nhóm C Nhóm D
Mối quan hệ thời gian
giữa nguồn và đích
Yêu cầu thời gian thực
Không yêu cầu thời
gian thực
Tốc độ truyền
Không
đổi
Thay đổi
Kiểu liên kết Hớng liên kết Không
23
Email : in
thoi: 0983.317.327
liên kết
Nhóm A (mô phỏng chuyển mạch kênh): Phục vụ các dịch vụ yêu cầu thời
gian thực, tốc độ truyền không đổi, kiểu truyền hớng liên kết. Các dịch vụ thuộc về
loại này thờng là tiếng nói và tín hiệu Video có tốc độ không đổi.
Nhóm B: Là các dịch vụ thời gian thực, tốc độ truyền thay đổi, kiểu truyền
hớng liên kết. Các dịch vụ của nó thờng là tín hiệu Audio và Video có tốc độ thay
đổi.
Nhóm C: Là các dịch vụ không yêu cầu thời gian thực, tốc độ truyền thay
đệm tràn thì một số bit sẽ bị huỷ.
Xử lý các tế bào bị mất hoặc chèn nhầm.
Khôi phục tín hiệu đồng bộ: sử dụng phơng pháp đánh dấu thời gian d đồng
bộ (SRTS - Synchronous Residual Time Stamp). Mốc thời gian d (RTS -
Residual Time Stamp) đợc sử dụng để đo đạc và mang thông tin về độ khác
nhau giữa đồng hồ đồng bộ chung lấy trong mạng và đồng bộ của thiết bị
cung cấp dịch vụ. Bốn bit RTS đợc truyền đi trong trờng CSI của các tế bào
lẻ.
Truyền đi các thông tin về cấu trúc dữ liệu giữa nguồn và đích: đợc sử dụng
trong trờng hợp dữ liệu đợc truyền có dạng cấu trúc.
Sửa lỗi trớc (FEC - Forward Error Correction): để đảm bảo chất lợng dịch vụ
cao cho một số ứng dụng Video và Audio
Hình 2.7: Dạng SAR-PDU của AAL kiểu 1
Giá trị SC cho phép phát hiện
các tế bào bị mất hoặc bị truyền
nhầm. Bit CSI đợc sử dụng để
truyền thông tin đồng bộ hoặc
các thông tin về cấu trúc dữ liệu.
Trờng SNP chứa mã CRC với đa
thức sinh G(x)=x
3
+x+1 để phát
hiện và sửa lỗi cho SN, bit cuối
cùng là bit P (Parity) kiểm tra
chẵn lẻ cả bảy bit đầu của PCI.
2.4.2.2 AAL kiểu 2
AAL 2 sử dụng cho các dịch vụ có tốc độ thay đổi đợc truyền theo thời gian
thực (thuộc nhóm B). Các chức năng của AAL 2 vẫn cha đợc định nghĩa rõ ràng tuy
nhiên có thể cho rằng AAL 2 đợc phát triển từ AAL1 , nó có các chức năng sau: trao
đổi số liệu có tốc độ thay đổi giữa lớp cao hơn với lớp ATM, xử lý trễ tế bào, phân