ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VĂN HÓA ĐỜI SỐNG VÀO CÔNG CUỘC
XÂY DỰNG NẾP SỐNG VĂN HÓA MỚI
Ở HUYỆN ANH SƠN, NGHỆ AN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S. Hoàng Ngọc Vĩnh
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Thanh Nga
HUẾ, 05/2010
1
Để hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc đối với các thầy, cô trong khoa Giáo dục Chính trị, bạn bè và
người thân, đặc biệt là thầy Thạc sỹ Hoàng Ngọc Vĩnh (ĐHKH Huế)
giáo viên hướng dẫn, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em giải quyết
những vướng mắc, khó khăn trong thời gian nghiên cứu.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Thư viện trường Đại học Sư
phạm Huế; Trung tâm Học liệu Đại học Huế đã tạo điều kiện cho em
hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do kiến thức còn hạn chế, thời
gian không nhiều và những lý do khách quan khác, nên không tránh
khỏi những thiếu sót. Em kính mong các thầy, cô giáo góp ý để Khóa
luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin cảm ơn!
Người thực hiện:
Nguyễn Thị Thanh Nga
Khoa: GDCT
bên ngoài, vấn đề gia phong, gia lễ của từng gia đình; về mối quan hệ
giữa người với người; giữ gìn nếp sống truyền thống… bị chi phối bởi
nhân tố kinh tế, văn hóa vật chất, pháp luật, lối sống, chất lượng cuộc
3
sống, vấn đề công danh, mưu sinh lập nghiệp, chuyện thị hiếu và giải trí.
Điều đó không những đã làm cho việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại bị hạn chế mà còn làm cho nét đẹp truyền thống đang có nguy cơ
mai một.
Với những lí do khách quan và chủ quan trên, hơn nữa, cuộc vận
động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và nếp sống
văn hóa của Người đã được tuyên truyền rộng rãi, nhưng đâu đó vẫn còn
mang nặng tính hình thức, chưa thực sự thấm nhuần và trở thành ý thức,
hành động của mỗi người dân. Qua đây, thiết nghĩ cần phải tăng cường
tìm hiểu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt tư tưởng của Người
về nếp sống văn hóa trong bối cảnh hiện nay, để tư tưởng của Người
mãi trường tồn, bất diệt và thực sự trở thành kim chỉ nam hành động,
lưu giữ những nét đẹp trong văn hóa không chỉ ở thành thị mà còn ở
nông thôn, từ thành phố đến miền núi xa xôi, hẻo lánh. Đây cũng là lý
do chủ yếu để tôi lựa chọn “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
đời sống vào công cuộc xây dựng nếp sống văn hóa mới ở huyện Anh
Sơn, Nghệ An hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình đổi mới của đất nước, để làm sáng rõ tư tưởng Hồ
Chí Minh nói chung và tư tưởng của Người về văn hóa nói riêng đã có
nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước, ở mọi cấp độ liên
quan đã được công bố như:
Lê Xuân Vũ, “Trong ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nhà xuất
bản Văn học, Hà Nội, năm 2005.
Giáo sư Song Thành, “Hồ Chí Minh - Nhà văn hóa kiệt xuất”, Nhà
xuất bản?, Nơi xuất bản?, Năm xuất bản?.
6. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: Phép biện chứng duy vật về xã hội;
Đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam; Tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hóa.
Phương pháp cụ thể: Khóa luận là sự kết hợp các phương pháp:
Điền dã; Phương pháp logic-lịch sử; Phương pháp phân tích-tổng hợp;
Phương pháp khái quát hóa.
7. Phạm vi đề tài
5
Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi nội dung cơ bản của tư tưởng
Hồ Chí Minh về nếp sống văn hóa mới. Quá trình nhận thức, vận dụng
tư tưởng của Người của Đảng bộ huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An trong
xây dựng nếp sống văn hóa mới hiện nay.
8. Đóng góp khoa học
Về lý luận: Khóa luận là sự khái quát “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về văn hóa đời sống vào công cuộc xây dựng nếp sống văn hóa
mới ở huyện Anh Sơn, Nghệ An hiện nay”
Về thực tiễn: Khóa luận có thể trở thành tài liệu tham khảo cho
những người học tập, nghiên cứu có nội dung liên quan.
9. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận gồm 2 chương: Chương 1, Những quan điểm cơ bản về nếp sống
văn hoá mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh; Chương 2, Huyện Anh Sơn
với việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về nếp sống văn hóa mới hiện
nay.
B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Những quan điểm cơ bản về nếp sống văn
hoá mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm tư tưởng
phương pháp luận) nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một
giai cấp, một dân tộc, được hình thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và
trở lại chỉ đạo hoạt động, cải tạo hiện thực”[7; 11]
1.1.2 Khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong cuộc đời hơn 60 năm chiến đấu cho lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh đã lập nên một sự nghiệp to lớn,
trong đó có sự nghiệp lí luận. Di sản tư tưởng lí luận Người để lại được
Đảng và nhân dân ta định danh là “tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Trên cơ sở nghiên cứu của các nhà khoa học, Đại hội Đại biểu
Toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4- 2001), xác định
khá toàn diện và có hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái
niệm tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
7
Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hóa nhân loại”[6;
22].
Dựa trên định hướng cơ bản của Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn
quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản, kế thừa thành tựu các định nghĩa tư
tưởng Hồ Chí Minh của Việt Nam trong thời gian qua, Giáo trình Tư
tưởng Hồ Chí Minh, xuất bản tháng 2/2009 của Bộ giáo dục và đào tạo
đã nêu lên định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh được coi là khá hoàn thiện
nhất cho đến hiện nay: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan
điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ
nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển của chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh
hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp và giải phóng con người”[7; 14].
hóa theo nghĩa thông thường để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống
(nếp sống văn hóa), hay theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển
của một giai đoạn, theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những
sản phẩm tinh vi hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao
động… Tuy nhiên, ngay cả cách hiểu rộng này trên thế gới cũng có
hàng trăm định nghĩa khác nhau.
Từ văn hóa được bắt nguồn từ Châu Âu được dịch từ danh từ
Lultere của tiếng La tinh có nghĩa là vun trồng, chăm bón, cải thiện. Còn
theo nghĩa tiếng Hán, văn hóa được dùng theo nghĩa văn trị, tức là cách
cai trị theo hình thức đẹp đẽ kết hợp với giáo hóa… Để định nghĩa được
khái niệm văn hóa, trước hết cần xác định được đặc trưng cơ bản của nó.
Đó là những nét tiểu biểu, riêng biệt cần và đủ để phân biệt khái niệm
văn hóa với những khái niệm khác.
Taylos – nhà nhân loại học đầu tiên của nước Anh cho rằng: “Văn
hóa là một tổng thể phức tạp bao gồm: tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật,
đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con
người đạt được trong xã hội”[5; 2].
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà văn hóa lớn của nước ta cho
rằng: “theo nghĩa hẹp, văn hóa thường được hiểu như một lĩnh vực của
9
hoạt động và sinh hoạt xã hội bao gồm các hoạt động văn hóa, nghệ
thuật, thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo chí, xuất bản…),
thư viện, câu lạc bộ, bảo tồn, bảo tàng… Theo nghĩa rộng, nói một cách
đơn giản, văn hóa là tất cả những gì không phải thiên nhiên, nghĩa là tất
cả những gì do con người, ở trong con người và liên quan trực tiếp nhất
đến con người”[3; 678].
Trần Ngọc Thêm phân tích cách tiếp cận văn hóa phổ biến hiện nay
(coi văn hóa như là một tập hợp, như là hệ thống giá trị, như hành động,
như thuộc tính xã hội…) đã đưa ra khái niệm văn hóa như sau: “Văn
hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
của xã hội mà mỗi cá nhân đã tự ý thức được, ở các hoạt động ổn định,
thường xuyên, thành “nếp” trong đời sống hằng ngày.
Xây dựng nếp sống văn hóa phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế -
xã hội, vào truyền thống, vào sự phổ biến và giáo dục văn hóa, đặc biệt
phụ thuộc vào định hướng lý tưởng của mỗi nền văn hóa và mức sống
thực tế của người dân.
1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nền văn hoá
mới
1.2.1 Cơ sở khách quan
1.2.1.1 Văn hóa truyền thống dân tộc
Việt Nam là một dân tộc có truyền thống văn hóa lâu đời, được
hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước
và giữ nước, có bản sắc riêng, trở thành nguồn nuôi dưỡng tinh thần cho
dân tộc, nguồn sống mãnh liệt giúp cho dân tộc ta chiến thắng âm mưu
đồng hóa của mọi kẻ thù xâm lược.
Nói về văn hóa của truyền thống dân tộc Việt Nam, trước hết phải
nói đến văn hóa lấy nhân nghĩa làm gốc, như Nguyễn Trãi đã nói: Phàm
mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc. Nên công to phải lấy nhân
nghĩa làm đầu. Đó là một nền văn hóa trọng đạo lý làm người, đề cao
trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với gia đình, làng, nước, cộng
đồng. Văn hóa đó dạy cho con người không được quên cội nguồn, đất tổ
của mình.
11
Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa khoan dung, hòa nhập. Nhờ
có tư duy khoan dung, hòa nhập, không kỳ thị nên nền văn hóa Việt
không ngừng thâu hóa, Việt hóa những giá trị văn hóa từ bên ngoài để
thăng hoa thành một nền văn hóa phong phú, đa dạng và độc đáo.
Những yếu tố tích cực, hợp lý của Nho, Phật, Lão vào Việt Nam đều
được người Việt tiếp nhận, cùng tồn tại bổ sung cho nhau. Nho cần thiết
cho an dân trị quốc. Phật thỏa mãn cho nhu cầu tâm linh của con người.
cách mạng. Người nói “tuy Khổng tử là phong kiến và tuy trong học
thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng, song những điều hay
trong đó thì ta nên học”. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người
cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu
của các đời trước để lại”[22; 46].
Bên cạnh học thuyết Khổng Tử thì tư tưởng Phật giáo cũng ảnh
hưởng rất lớn đến tư tưởng của Người. Phật giáo vào Việt Nam rất sớm,
thoạt đầu từ con đường Ấn Độ, sau đó từ Trung Quốc truyền vào. Bước
vào thời kỳ đất nước độc lập (thế kỷ X), Phật giáo có điều kiện để phát
triển và ngày nay đã trở thành tôn giáo chính của Việt Nam. Bên cạnh
những hạn chế thì Phật giáo có tính nhân văn sâu sắc như tư tưởng vị
tha, từ bi bác ái, mong muốn xây dựng một cuộc sống “thẩm mỹ, chí
thiện, bình đẳng, yên vui, no ấm” cho dân chúng.
Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc và tiếp nhận tinh hoa nhân ái
của đạo Phật. Người nói: “Đức Phật là đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn,
Người phải hi sinh tranh đấu diệt lũ ác ma”[21; 197].
Tư tưởng nhân văn của đạo Phật đã góp phần hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa và nhân văn cao cả.
• Tinh hoa văn hóa phương Tây
Hồ Chí Minh tiếp nhận tinh hoa văn hóa phương Tây sau khi đã
tiếp nhận văn hóa phương Đông đến một trình độ nhất định, rất cơ bản.
Việc tiếp xúc trực tiếp với văn hóa phương Tây không phải thông qua
con đường chính thống của nhà trường mà bằng con đường tìm hiểu học
hỏi trong quá trình thâm nhập quần chúng lao động mở rộng giao du với
các tầng lớp hoạt động văn hóa trong các chuyến hành trình khảo sát ở
nhiều nước và đặc biệt là trong việc thường xuyên lui tới đọc sách trong
những thư viện lớn.
13
Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu tinh hoa của văn hóa phương Tây
trước hết là lý tưởng cách mạng dân chủ tự do tiến bộ của cách mạng tư
1.2.2 Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh - Danh nhân văn hoá kiệt
xuất
Tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc sâu xa là nền văn hóa của dân
tộc Việt Nam, đồng thời cũng là nơi hội tụ và kết tinh của truyền thống
văn hóa dân tộc Việt Nam với tinh hoa của văn hóa thế giới mà Người là
hiện thân cho nền văn hóa tương lai. Vừa mang bản sắc dân tộc của
mình vừa tiếp nhận được những giá trị tiêu biểu nhất của thời đại dân
chủ và tiến bộ xã hội.
Mặt khác, đứng trên góc độ khoa học mà xét, tư tưởng Hồ Chí
Minh còn có cội nguồn từ cơ sở khoa học, trước hết là khoa học Mác-
Lênin mà hạt nhân của nó là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Những yếu
tố này hội tụ trong con người Hồ Chí Minh mà không phải ai cũng có
được. Chúng ta phải thừa nhận rằng ở Người có một bộ óc vĩ đại, sự
thông minh, sáng tạo luôn cầu thị học hỏi trong mọi hoàn cảnh, với ý chí
kiên trì và sắt đá.
Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất. Người đã khởi xướng phong
trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giải phóng
các dân tộc thuộc địa, giành lại độc lập tự do. Đó không chỉ là sự nghiệp
chính trị phi thường mà còn là sự nghiệp văn hóa cao cả. Đổi người nô
lệ thành người tự do, phát động phong trào yêu nước và chủ nghĩa anh
hùng của dân tộc vùng dậy đấu tranh đòi giải phóng, đó là sự nghiệp
gian nan và phi thường, đồng thời cũng là sự nghiệp văn hóa vĩ đại. Bởi
vì giải phóng con người khỏi thân phận nô lệ, khỏi cái đói, cái rét, cái
dốt là một sự nghiệp văn hóa có ý nghĩa cao cả nhất, đầy đủ nhất, một
ước mơ ngàn đời của nhân loại.
Hồ Chí Minh đã thấy được vai trò và sức mạnh của văn hóa, đã
sớm đưa văn hóa vào chiến lược phát triển của phất triển. Giành được
độc lập, Hồ Chí Minh đã nâng dân tộc mình lên một tầm văn hóa mới.
Người đề nghị mở ngay chiến dịch chống giặc dốt. Người coi dốt nát
cũng một thứ giặc, xem thói quen và những truyền thống lạc hậu là một
phương đông sâu sắc. Trên đường học tập và nghiên cứu, Người đã từng
bước hấp thụ văn hóa nhân đạo và dân chủ của phương Tây, đặc biệt là
tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của truyền thống văn hóa Pháp. Chính
trí tuệ siêu việt, vốn sống thực tế phong phú và vốn văn hóa rộng lớn đã
dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, đỉnh cao và kết tinh thành tựu
16
văn hóa của loài người. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác
nhau, sử dụng một cách thành thạo trong viết văn, viết báo, làm thơ, viết
kịch…
Khi xuất hiện như một nhà báo sành sỏi, khi lại trầm tính, hàm súc
như một thi sỹ cổ điển phương Đông. Trải qua mấy chục năm học tập,
rèn luyện, người đã từng bước vươn lên đỉnh cao của trí tuệ thời đại, để
từ đó vận dụng và phát triển, sáng tạo và đổi mới đóng góp vào kho tàng
văn hóa thế giới những giá trị đặc sắc, in đậm dấu ấn Việt Nam – Hồ
Chí Minh.
Bản thân Hồ Chí Minh là nhà thơ, nhà văn, nhà báo cách mạng vĩ
đại. Thơ Hồ Chí Minh có bài viết bằng tiếng Việt, có bài viết bằng tiếng
Hán, song không bài nào vắng bóng con người. Khát vọng tự do, cơm
áo, hòa bình, sự cổ vũ cho cái đẹp và mối quan hệ nhân văn giữa người
với người, đó là những nội dung chủ yếu trong thơ Hồ Chí Minh. Vì vậy
những bài thơ ngẫu hứng, sản phẩm của một thời, trong đó không ít bài
đã ra đời trong cảnh tù đày, biệt xứ, đã trở thành “thơ của muôn đời”, đã
làm “xáo trộn cả nhân loại” bởi những giá trị nhân văn cao quý, tỏa sáng
từ một tâm hồn lớn.
1.3 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống
văn hoá mới
Đời sống văn hóa thực chất là đời sống mới, được Hồ Chí Minh
nêu ra với ba nội dung: đạo dức mới, lối sống mới và nếp sống mới. Ba
nội dung này có quan hệ mật thiết trong đó đạo đức mới giữ vai trò chủ
yếu. Bởi vì, chỉ có thể dựa trên một nền đạo đức mới thì mới xây dựng
Liêm tức là luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân; không
xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân. Phải:
trong sạch, “không tham lam, không tham địa vị, không tham tiền tài,
không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy, mà
quang minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là
ham học, ham làm, ham tiến bộ”[21; 252].
Người đã chỉ ra những hành vi trái với chữ liêm như: “…cậy quyền
thế mà đục khoét dân, ăn của đút hoặc trộm của công, làm của tư…”[21;
640].
18
“Dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo
là trộm)”
Gặp việc phải mà không sợ khó nhọc, nguy hiểm, không dám làm
là tham vật úy lạo
Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử.
Chính “có nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn”[21;
643].
Đối với mình không tự cao tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến
bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản
thân mình.
Đối với người - không nịnh hót người trên, không xem khinh người
dưới: luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không
dối trá lừa lọc.
Đối với việc – để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Đã
phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn,
không sợ khó khăn, nguy hiểm; việc thiện thì nhỏ máy cũng làm, việc ác
thì nhỏ mấy cũng tránh. Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước cho
dân.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng các đức tính cần, kiệm, liêm, chính có
quan hệ chặt chẽ với nhau, ai cũng phải thực hiện, song cán bộ, Đảng
Đời sống mới không phải cao xa gì, cũng không phải khó khăn gì. Ta
chỉ sửa đổi những việc gì rất cần thiết, rất phổ thông trong đời sống của
mọi người.
Cách ăn, mặc phải sạch sẽ, giản đơn, chất phác, chớ lượt thượt, xa
xỉ, lòe loẹt.
Cách làm việc phải siêng năng, có ngăn nắp, có tinh thần phụ trách,
đã làm việc gì thì phải làm cho kỳ được, làm đến nơi đến chốn. Chớ làm
dối.
Cách cư xử, đối xử với đồng bào thì nên thành thực, thân ái, sẵn
sàng giúp đỡ.
Ở thì phải sạch sẽ, tục ngữ đã có câu “Đói cho sạch, rách cho
thơm” mình dù nghèo, ai cấm mình ăn ở sạch sẽ. Sạch sẽ tức là một
phần đời sống mới. Sạch sẽ thì ít ốm đau. Có sức khỏe thì mới có thể
làm được việc, làm được việc thì mới có ăn.
20
Người nhấn mạnh cần phải biết ham học. Trước hết, là học chữ,
học làm tính. Biết chữ, biết tính thì làm việc gì cũng dễ dàng hơn. Một
người không biết chữ, biết tính thì như nửa mù, nửa quáng. Biết rồi, ta
học thêm.
Ngoài ra, còn có nhiều điều cần học. Việc thế giới rất nhiều, học
không bao giờ hết. Người có học mới có tiến bộ, càng học càng tiến bộ.
Với tác phong thiết thực, cụ thể Hồ Chí Minh đề cập đến sự cần
thiết xây dựng phong cách sống: khiêm tốn, giản dị, chừng mực, điều
độ, ngăn nắp, vệ sinh, yêu quý lao động, yêu quý thời gian. Ít lòng ham
muốn về vật chất, về chức–quyền–danh–lợi. Trong quan hệ với nhân
dân, bạn bè, đồng chí, anh em thì cởi mở, chân tình, ân cần, tế nhị; giàu
tình yêu thương, quý mến, trân trọng con người; với mình thì chặt chẽ,
nghiêm khắc, đối với người thì độ lượng, khoan dung.
Hồ Chí Minh chỉ rõ một cách tỉ mỉ về việc xây dựng đời sống mới
ở trong một nhà, một làng, một trường học, một đơn vị bộ đội hay công
nhiên trong hoàn cảnh bấy giờ đất nước còn chiến tranh (1947), Người
nhấn mạnh phải dùng những lời lẽ giản đơn, những thí dụ thiết thực mà
giải thích: dân chủ là gì, tự do là gì, thuộc địa là gì, vì sao ta phải kháng
chiến, họ có thể làm những việc gì để giúp đỡ kháng chiến, nên giữ bí
mật như thế nào… Một điều lưu ý đó là trong lúc dạy, chớ nên làm cho
học trò có tư tưởng vị quốc như bọn phát xít, vị quốc nghĩa là chỉ biết
yêu trọng nước mình mà khinh ghét nước người. Cũng phải tránh cách
nói vu vơ, như có người nói chuyện với các em nhi đồng mà đem “tân
tân chủ” và “cựu dân chủ” ra mà nói. Nói tóm lại, trong chương trình
học phải trọng về môn tinh thần và đạo đức. Phải tẩy sạch óc kiêu ngao,
tự phụ. Hơn nữa, phải khuyên học trò tham gia việc tăng gia sản xuất…
điều này cũng quan trọng lắm, một là làm cho họ biết kính trọng sự cần
lao. Hai là tập cho họ quen khổ. Ba là cho họ cái chí khí tự thực kỷ lực
(làm lấy mà ăn), không ăn bám xã hội. Bốn là có ích cho sức khỏe của
họ. Lớp này nên thi đua với lớp khác, trường này với trường khác, làm
cho học trò thêm hăng hái.
Đối với bộ đội, một là kỷ luật phải nghiêm minh. Hai là siêng năng
luyện tập. Ba là làm cho trong bộ đội ai cũng biết chữ. Bốn là mỗi người
binh sĩ phải biết chính trị ít nhiều. Họ đem xương máu ra giữ gìn Tổ
quốc, thì chẳng những họ phải biết vì sao mà hi sinh, họ lại phải có thể
22
nói cho người khác biết vì sao phải yêu nước. Năm là bộ đội cũng phải
tham gia sản xuất. Cố nhiên những bộ đội ở trước mặt trận, phải luôn
luôn lo việc đánh giặc, không có thì giờ đâu mà làm việc khác. Song
những bộ đội ở hậu phương thì cần làm và quyết làm được. Tùy theo
hoàn cảnh của mỗi bộ đội, hoặc làm vườn, nuôi lợn, hoặc làm giúp dân.
Có lúc bộ đội thay phiên nhau, lớp đánh giặc, lớp làm ruộng làm vườn,
để tự cấp tự túc, không phiền đến dân tất cả mọi việc. Sáu là phải tiết
kiệm, tiết kiệm thuốc đạn, bắn cho đúng không phí đạn. Nhờ thế mà bớt
được nguyên liệu, bớt được công khó rèn đúc, công khó vận tải, đem tài
trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài hoặc xoay tiền của chính phủ hoặc
đục khoét của nhân dân. Đến khi lộ ra, bị phạt thì mất hết cả danh giá,
mà của phi nghĩa đó cũng không được hưởng. Vì vậy, những người
trong công sở phải lấy chữ liêm làm đầu.
4. Chính: Mình là người làm việc công phải có công tâm, công đức.
Chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đen người tư làm việc công.
Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên tư ân, tư huệ hoặc tư
thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài
năng., làm được việc. Chớ vì bà con, bầu bạn mà kéo vào chức nọ, chức
kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Phải
trung thành với chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách
mệnh.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn về
cách làm việc, về công tác cán bộ, về các căn bệnh cần phải chống toát
lên sự quyết tâm của Người trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới,
theo Người thì “nói khó thì nó khó, nói dễ thì nó dễ, khó hay dễ là tại
mình, có quyết tâm thì làm được”. Yêu cầu được Người nhấn mạnh số
một đó là nêu gương, “Nếu miệng thì tuyên truyền bảo người ta siêng
làm mà tự mình ăn trưa, ngủ trễ, bảo người ta tiết kiệm mà mình thì xa
xỉ, lung tung thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích.”
Ở các xưởng máy, Hồ Chí Minh lí giải, từ trước đến nay, chủ bao
giờ cũng muốn lời nhiều mà trả công ít. Thợ thì muốn làm việc ít mà
tiền công nhiều. Vì thế, xích mích, không lợi cho cả hai bên. Nên làm
theo đời sống mới thì có lợi cho cả chủ lẫn thợ. Chủ phải hiểu rằng: nếu
công nhân đủ ăn, đủ mặc thì mới đủ sức; đủ sức thì làm được việc. Một
con ngựa no mới chạy nhanh. Một cái máy đủ mỡ mới quay đều. Người
24
ta cũng thế. Nếu công nhân biết rằng họ chẳng những làm lợi cho chủ,
mà họ cũng có một phần lợi thì học sẽ hăng hái làm. Vì vậy, chủ muốn
làm được việc thì đối với lương bổng, nhà ở, vệ sinh và cách đối đãi