MỘT số vấn đề về XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ở VIỆT NAM - Pdf 95

Mục lục
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
I. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG GIỮA CÁC NƯỚC
1. KHÁI NIỆM XKLĐ
2. NGUYÊN NHÂN CỦA HOẠT ĐỘNG XKLĐ
II: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC XKLĐ TRÊN THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC CHÂU Á- THÁI BÌNH
DƯƠNG
1: TÌNH HÌNH XKLĐ TRÊN THẾ GIỚI
2: CÁC NƯỚC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG
CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN XKLĐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I: CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH XKLĐ Ở VIỆT NAM
II: TÌNH HÌNH XKLĐ Ở NƯỚC TA
1: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ XKLĐ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
2: XKLĐ NHỮNG NĂM 1980- 1990
3:XKLĐ TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY
III: TÁC ĐỘNG CỦA XKLĐ ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
1: TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC
2: TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC
IV: NHỮNG VẤN ĐỀ SAU XUẤT KHẨU
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XKLĐ
LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM.
I: MỘT SỐ GIẢI PHÁP
1: NGUỒN LAO ĐỘNG
2: THỊ TRƯỜNG
3: QUẢN LÝ LAO ĐỘNG
II: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1: ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ CÁC BỘ NGÀNH LIÊN QUAN
2: ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XKLĐ
3: ĐỐI VỚI CÁ NHÂN XUẤT KHẨU
4:ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN- TUYÊN TRUYỀN

2
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
như một hướng phát triển kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế chung của
đất nước.
Hơn nữa, nước ta với đặc điểm là một nước đông dân, vì thế nguồn lao động nước ta
phần nào chiếm ưu thế hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Để tranh thủ sự
thuận lợi này thì nước ta cần chú trọng phát triển lực lượng lao động và hoạt động xuất
khẩu lao động ra nước ngoài.
Hiện nay xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đã tác động mạnh đến nền kinh tế Việt
Nam, vấn đề hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu. Việt Nam phải hội nhập trên mọi lĩnh vực,
khi đẩy manh xuất khẩu lao động, Việt Nam cũng đã rút ngắn khoảng cách hội nhập với
lao động trong khu vực và trên thế giới, góp phần hội nhập toàn nền kinh tế.
Như vậy xét cả tầm nhìn vi mô và vĩ mô thì vấn đền xuất khẩu lao động của Việt Nam
không phải là một vấn đề mới, nhưng hiện nay nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc
thực hiện những mục tiệu quan trọng của đất nước như: Giảm thất nghiệp, xóa đói giảm
nghèo, tăng trưởng kinh tế…Vì vậy xuất phát từ thực trạng và tình hình đó chúng em đã
nghiên cứu và tiến hành viết đề tài” MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT
NAM”
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu của đề tài
Như đã trình bày ở trên, xuất khẩu lao động đóng vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế, tự bản thân nó là một vấn đề phức tạp, phụ thuộc nhiều yêu tố như: Chính sách lao
động, công tác quản lý, đào tạo lao động…Vì vậy đề tài này chủ yếu đi sâu tìm hiểu kỹ về
vấn đề thực trạng hoạt động trong và sau xuất khấu . Thông qua đó nêu lên xu thế vận
động của xuất khẩu lao động, những mặt tích cực và tiêu cực của nó và đưa ra một số giải
pháp dể khắc phục những hạn chế, nhằm tăng hiệu quả và những đóng góp của xuất khẩu
lao động vào sự phát triển kinh tế nước nhà.
Bằng phương pháp tiến hành điều tra đối tượng trên cơ sở tập hợp thu thập thông tin,
phương pháp thống kê, tính toán. Chúng tôi đã đưa ra những vấn đề cơ bản của XKLĐ với
những số liệu cụ thể về cơ cấu XKLĐ (cơ cấu thị trường, cơ cấu nghề, cơ cấu giới tính…)
và XKLĐ với những nội dung chủ yếu sau.

lượng lao động di cư bất hợp pháp lớn.
Hình thức di cư lao động chính thức (di cư lao động theo hợp đồng) là việc xuất khẩu
lao động thông qua các chính phủ, các tổ chức kinh tế hoặc các pháp nhân, các nhân dưới
sự đồng ý của chính phủ các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu lao động. Hình thức di cư
này là hợp pháp, do đó ngày càng tăng về số lượng và chủng loại.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, xuất phát từ nước xuất khẩu
cũng như nhập khẩu thì hình thức di cư lao động chính thức ngày càng phát triển, mà biểu
hiện nổI bật chính là hoạt động XKLĐ của các nước. Trong tình hình mới XKLĐ cũng
được hiểu theo đầy đủ nghĩa của nó. Ta có thể nói: Xuất khẩu lao động là hoạt động của
các chính phủ, tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức pháp nhân nhằm đưa những người lao
động của nước mình đến tham làm việc tại những nước có nhu cầu về lao động nước ngoài
(gọi là nước XKLĐ và nước NKLĐ), nhằm đạt được những mục đích kinh tế, chính trị, xã
hội nhất định, dưới sự hợp tác, đồng ý của chính phủ cả hai nước XKLĐ và NKLĐ.
5
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
2. NGUYÊN NHÂN CỦA HOẠT ĐỘNG XKLĐ
Nguyên nhân tạo ra hoạt động XKLĐ có nhiêu nguyên nhân, nguyên nhân đó xuất
phát từ vấn đề lịch sử, vấn đề văn hóa, chính trị, xã hội…Nhưng nguyên nhân quan trọng
tác động mạnh mẽ đến hoạt động XKLĐ đó là xuất phát từ nguyên nhân kinh tế của cả
nước XKLĐ và nước NKLĐ.
Trước hết, xuất phát từ lợi ích thu được của nước XKLĐ như: XKLĐ giúp giải quyết
việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cả về vật chất và tinh
thần của người tham gia XKLĐ. Đây là một bộ phận có đóng góp quan trọng, chiếm tỷ lệ
lớn trong việc thu hút nguồn ngoại tệ, đóng góp lớn vào nguồn ngân sách quốc gia. Bên
cạnh đó XKLĐ còn giúp các nước tham gia tăng cường quan hệ ngoại giao của mình với
các nước khác, trên cơ sở đó phát triển một mối quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị, đôi
bên cùng có lợi.
Ngoài ra, sự mất cân đối giữa cung và cầu về việc làm trong mỗi quốc gia cũng là
nguyên nhân quan trọng dẫn đến XKLĐ quốc tế. Tại một số nước phát triển có tỷ lệ tăng
dân số hàng năm cao, nguồn nhân lực dồi dào trong khi sản xuất trong nước còn chậm phát

lược phát triển của mình do đó họ đã xây dựng một hệ thống chính sách, luật lệ, quản lý
nhà nước nhằm tăng cường XKLĐ trên quy mô lớn.
2: CÁC NƯỚC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG
Tình hình hoạt động XKLĐ ở các nước này ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Bởi lẽ,
về mặt địa lý, các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương ở gần Việt nam, bên cạnh đó lại có
sự tương đồng về khí hậu, phong tục tập quán, lối sống…Các nước trong khu vực Châu Á
như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia…đã và đang nhập khẩu lao động Việt Nam trên nhiều
lĩnh vực, mang nhiều hình thức. Đồng thời họ cũng nhận lao động của các nước khác như:
Trung Quốc, Thái Lan, Philipin…cho nên sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu lao động
không thể tránh khỏi. Các nước XKLĐ đều phát huy hết lợi thế của mình, khiến cho hình
thức và cách tiến hành XKLĐ hết sức đa dạng, phong phú. Một số nước yêu cầu nhập khẩu
lao động có trình độ cao, một số nước lại có nhu cầu sử dụng lao động dịch vụ, nhất là lao
động giúp việc gia đình, lao động giản đơn…Một số nước Châu Á vừa có chính sách nhập
khẩu và xuất khẩu lao động, nhập lao động của nước này rồi lại xuất lao động của mình
sang nước khác, tạo nên thị trường lao động thật sôi động nhưng cũng nhiều vấn đề mới
phát sinh. Ví dụ: Thái Lan cho phép hàng chục ngàn dân Myanmar sang làm thuê cho nông
7
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
dân Thái Lan, trong khi đó nông dân Thái Lan tràn vào thành phố tìm việc, còn dân thành
thị lại đi tìm việc ở nước ngoài có thu nhập cao hơn. Nhiều sinh viên, thanh niên Nhật Bản,
Hàn Quốc, Đài Loan sang Mỹ, Newzeland, Úc để du học và tìm việc trong khi đất nước họ
lại tiếp nhận nhiều lao động của các nước khác đến làm việc.
Các nước ở khu vực Thái Bình Dương, chủ yếu là có nhu cầu nhập khẩu lao động ở
một số ngành may mặc, xây dựng, lao động giản đơn…Tuy nhiên việc sử dụng lao động
cũng gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt phong tục tập quán, bất đồng ngôn ngữ…
8
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN XKLĐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I: CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH XKLĐ Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một nước ở khu vực Đông Nam Á với đặc điểm xã hội là một nước nông

lao động có tay nghề vững vàng, đáp ứng được yêu cầu phát triển nền kinh tế nước ta sau
này.
Đến năm 1983 – 1984, Chính phủ chủ trương tiếp tục đưa lao động đi làm việc ở các
nước ngoài hệ thống XHCN, mở rộng thị trường sang các nước Irắc, angeri.
Tháng 12/1986. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định “mở rộng việc đưa lao
động ra nước ngoài bằng nhiều hình thức thích hợp, coi đó là một bộ phận hữu cơ của
chương trình lao động nói chung”. Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, từ năm
1987 chính phủ đã cho phép ký các hiệp định, nghị định thư đưa hàng chục vạn lao động đi
Liên Xô, Đông Âu, LiBi, Irắc, đồng thời để phát triển thêm loại hình mới về XKLĐ, chính
phủ đã có Quyết định số 398/CT ngày 26/12/1987 giao cho bộ xây dựng chủ trì hợp tác lao
động kĩ thuật xây dựng với nước ngoài, nhằm tổ chức lực lượng xây dựng đồng bộ đi nhận
thầu ở nước ngoài và ban hành chỉ thị số 108/HĐBT ngày 30/06/1988 cho phép mở rộng
hợp tác lao động và chuyên gia với nước ngoài theo các hình thức hợp tác trực tiếp.
Ngày 22/09/1998, Bộ chính trị ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số
41-CT/TW về xuất khẩu lao động và chuyên gia khẳng định: xuẩt khẩu lao động và chuyên
gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc
làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại
tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước khác.
Chủ trương về XKLĐ đã được quy định trong bộ luật lao động được Quốc hội thông
qua năm 1994, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật lao động được Quốc hội thông qua năm 2002.
Chính phủ đã cụ thể hóa Bộ luật lao động về xuất khẩu lao động bằng việc ban hành các
nghị định số 07/CP ngày 20/01/1995 và nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/09/1999
sau đó chính phủ đã ban hành nghị định số 81/2003 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Bộ luật lao động về người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài. Đến năm 2005,
Nghị định 141/2005/NĐ-CP được ban hành về việc quản lí lao động Việt Nam làm việc ở
nước ngoài. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ( Luật
XKLĐ) đã được ban hành năm 2006 và chính thức có hiệu lực vào ngày 01/07/2007.
Trong năm 2007 Cục Quản lý Lao động Ngoài nước và Trung tâm Lao động Ngoài nước
đã soạn thảo 18 văn bản hướng dẫn thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng, trong đó có 2 nghị định của Chính phủ, 1 quyết định của thủ

làm ngoài nước; rồi ban hành chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa mà người
lao động mang về nước, khuyến khích lao động mang ngoại tệ về nước, giải quyết chế độ
trợ cấp thôi việc theo chính sách mới quy định riêng cho lao đông đã làm việc ở nước
ngoài.
11
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
Như vậy, trong xu thế phát triển kinh tế mới hiện nay thì Đảng và Nhà nước ta cũng
ngày càng cải thiện, đổi mới để ngày càng hoàn chỉnh hệ thống cơ chế chính sách để đảm
bảo công bằng và có lợi nhất cho những người làm việc ở nước ngoài, qua đó cũng khuyến
khích nhiều người tham gia vào việc XKLĐ (đặc biệt là lao động nhàn rỗi) để từ đó cải
thiện đời sống nhân dân, thực hiện được mục tiêu kinh tế của nhà nước.
12
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
II: TÌNH HÌNH XKLĐ Ở NƯỚC TA
1: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ XKLĐ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
13
ti nghiờn cu khoa hc H ni- 2008
14
Bộ ngành liên quan Bộ lao động- thơng binh XH
Bộ ngoạigiao
Bộ tài chính
Bộ công an
Bộ y tế
Bộ KH&ĐT
Bộ TM&NH
Bộ VHTT
Bộ t pháp
UBND các
tỉnh
Cục quản lý

đồng và thu lệ phí, phí quản lý theo quy định;
7. Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra các cơ quan và doanh nghiệp có liên quan đến
việc thực hiện đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 6 và khoản 3 Điều 24 của
Nghị định này;
8. Định kỳ báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về tình hình lao động Việt Nam làm việc
có thời hạn ở nước ngoài;
9. Phối hợp với Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành có liên quan giải quyết các vấn đề
phát sinh trong việc quản lý người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài ;
10. Phối hợp với Bộ Ngoại giao và Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ nghiên cứu tổ
chức bộ phận quản lý lao động trong cơ quan đại diện Việt Nam ở những nước và khu vực
có nhiều lao động Việt Nam làm việc hoặc có nhu cầu và khả năng nhận nhiều lao động
15
ti nghiờn cu khoa hc H ni- 2008
Vit Nam vi s lng biờn ch, chc nng, nhim v v quyn hn phự hp vi Phỏp lnh
v c quan i din nc Cng ho xó hi ch ngha Vit Nam nc ngoi.
Theo điều 19: Nghị định số 152/1999/NĐ- CP quy định quyền và nghĩa vụ của các
bên liên quan nh sau
1. B Ti chớnh ch trỡ phi hp vi B Lao ng - Thng binh v Xó hi quy nh
chi tit vic thu v s dng l phớ, phớ qun lý v phớ dch v; mc v th thc gi tin t
cc ca ngi lao ng.
2. C quan i din Vit Nam nc ngoi thc hin qun lý Nh nc i vi lao
ng Vit Nam nc s ti; thụng qua B Ngoi giao cung cp kp thi cho B Lao ng
- Thng binh v Xó hi thụng tin v tỡnh hỡnh th trng lao ng ngoi nc v tỡnh hỡnh
ngi lao ng Vit Nam nc s ti; liờn h vi cỏc c quan chc nng ca nc s ti
giỳp B Lao ng - Thng binh v Xó hi thit lp quan h hp tỏc s dng lao ng;
phi hp vi cỏc t chc, c quan hu quan ca nc s ti v cỏc t chc quc t gii
quyt cỏc vn phỏt sinh nhm bo v quyn li chớnh ỏng ca ngi lao ng v ca
doanh nghip Vit Nam.
3. B Cụng an trong phm vi trỏch nhim ca mỡnh phi hp vi B Lao ng -

Và theo điều21: Trong trường hợp bất khả kháng phải khẩn cấp đưa người lao động
Việt Nam về nước, cơ quan chủ quản của doanh nghiệp đưa lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài có trách nhiệm chỉ đạo doanh nghiệp tổ chức đưa người lao động về nước;
trường hợp vượt quá thẩm quyền và khả năng thì cơ quan chủ quản phối hợp với Bộ Ngoại
giao, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính lập phương án trình Thủ
tướng Chính phủ quyết định.
Những năm gần đây, cùng với đà tăng trưởng kinh tế của đất nước, công tác XKLĐ
cũng đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ. Quy mô XKLĐ hàng năm liên tục gia tăng
với tốc độ nhanh. Năm 2007, số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài đạt đến con số
85.020 người vượt 6.3% kế hoạch năm, so với nhiều quốc gia khác thì con số này là khiêm
tốn song tự bản thân nó đã minh chứng cho những nỗ lực của các ngành các cấp, các doanh
nghiệp XKLĐ. Bên cạnh đó, hiện vẫn còn tồn tại hạn chế trong công tác quản lý hoạt động
XKLĐ, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng XKLĐ.
Trước hết là về công tác quản lý XKLĐ trong nước vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém.
Doanh nghiệp không đủ năng lực khai thác thị trường, tuyển dụng và đào tạo lao động. Đã
17
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
có những hợp đồng ký kết với nội dung không chặt chẽ gây bất lợi cho người lao động.
Hợp đồng tuyển dụng lao động chưa được thực hiện đồng bộ, việc thực hiện hợp đồng còn
bị buông lỏng: Có trường hợp lao động không được làm việc theo đúng hợp đồng, trường
hợp lao động Việt Nam bị hành hung. Tất cả nhưng rủi ro, thiệt thòi đó của người lao động
Việt Nam ở nước ngoài có thể ngăn chặn và xử lý kịp thời nếu như công tác quản lý lao
động được thực thi tốt tại nước ngoài. Hiện tại Việt Nam mới chỉ có 5 cơ quan đại diện về
vấn đề XKLĐ ở Nga, Cộng Hòa Séc, Đức, Hàn Quốc và Đài Loan. Còn ở các thị trường
khác thì người lao động bị phó mặc cho doanh nghiệp các nước sở tại. Thực tế ở Việt Nam
hiện nay, những vụ lừa đảo trong XKLĐ diễn ra rất phức tạp gây tâm lý hoang mang của
người lao động khi có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài. Đây chính là khuyết điểm
trong công tác quản lý XKLĐ.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được hoạt động XKLĐ của nước ta hiện nay đang
bộc lộ một số vấn đề cần giải quyết để có thể tạo dựng một hình ảnh lành mạnh về lao

trong chi tiêu và trả nợ.
Mục tiêu XKLĐ của Việt Nam trong giai đoạn này không phải đặt hiệu quả kinh tế
lên hàng đầu mà chỉ nhằm giải quyết vấn đề việc làm và đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn người lao động, có thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhằm bù đắp
một phần những thiếu hụt trong nước và nợ đến hạn.
Trong vòng 10 năm 1980 – 1990 nước ta đã đưa được 277.183 người đi lao động có
thời hạn ở nước ngoài, bình quân mỗi năm có trên 2.7 vạn người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài. Đây là giai đoạn có quy mô lao động đi làm việc ở nước ngoài có quy
mô tương đối lớn. Nhưng nó cũng mang những đặc trưng nhất định trong cơ cấu thị
trường, ngành nghề, giới tính…
Về thị trường, trong giai đoạn này nước ta chủ yếu đưa lao động sang Liên Xô và các
nước Đông Âu. Ngày 01/02/1980, chính phủ đã ra quyết định số 46-CP chủ trương đưa
một bộ phận lao động, kỹ thuật đi làm việc và bồi dưỡng tay nghề ở các nước XHCN. Sau
đó các hiệp định về hợp tác lao động lần lượt được ký với các nước: CHDC Đức
(14/04/1980), Bungari (03/10/1980) và Tiệp Khắc (27/11/1980).
Nước Liên Xô CHDC Đức Bungari Tiệp Khắc Tổng số
Người 112.338 72.786 35.099 37.659 257.880
Bảng 1: Cơ cấu thị trường XKLĐ trong giai đoạn 1980 - 1990
19
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
Ngoài thị trường chủ yếu là Liên Xô và Đông Âu, trong giai đoạn này Việt Nam còn
ký hiệp định chính phủ về hợp tác chuyên gia với một số nước Châu Phi. Trong tổng số
277.183 người đi lao động ở giai đoạn này chủ yếu ở Liên Xô và Đông Âu là 257.880
người chiếm 93% trong đó Liên Xô chiếm số lượng lớn 112.338 người, còn lại phân bổ ở
các nước như: CHDC Đức 72.186 người, Bungari 35.099 người, Tiệp Khắc 37.659 người.
Số còn lại được phân bổ ở các nước Irắc, Angieri, Cônggô (19.301 người). Trong đó riêng
Irắc đã chiếm 16.408 người.
Về giới tính, trong giai đoạn này tỷ lệ lao động Nam chiếm tỷ trọng cao, trung bình
trong cả giai đoạn là lao động Nam chiếm 61,6% với số lượng là 148.063 người trong tổng
số 240.301 người, trong khi đó lao động nữ chỉ có 92.238 người chiếm 38,4%. Nhìn chung

240.301 148.063 92.238
Bảng 2: Cơ cấu giới tính XKLĐ trong giai đoạn 1980 – 1990
( không bao gồm 7.200 chuyên gia và gần 24.000 thực tập sinh, học nghề tại các nước
Đông Âu.)
Nguồn: Một số điều cần biết về xuất khẩu lao động – NXB Thanh niên 2003.
Trong giai đoạn này ta thấy một đặc trưng nổi bật nữa là: Đối tượng đưa đi XKLĐ
chủ yếu là: Bộ đội phục viên, đây là lực lượng chiếm tỷ trọng lớn, vì trong những năm
chiến tranh nước ta đã huy động một số lượng lớn người tham gia vào quân đội để phục vụ
cuộc chiến tranh vệ quốc. Vì vậy sau chiến tranh yêu cầu giải quyết việc làm cho lực lượng
này là một yêu cầu cấp bách. Tiếp theo là những lao động trong khu vực nhà nước thuộc
diện giảm biên và số thanh niên mới bước vào tuổi lao động – là con em của những đối
tượng được ưu tiên (con thương binh liệt sỹ, anh hùng lực lượng vũ trang, gia đình có công
với cách mạng). Đây chủ yếu là nguồn đáp ứng những nhu cầu lao động không cần tay
nghề, chuyên môn kỹ thuật, chủ yếu là lao động phổ thông.
Còn để đáp ứng về cầu lao động trong khu vực II thì nguồn của nước ta chủ yếu tuyển
chọn những lao động có tay nghề, có kinh nghiệm, đã làm việc lâu năm trong nghề.
Hình thức hợp tác lao động chủ yếu là làm xen ghép trong dây chuyền sản xuất với lao
động nước bạn. Những năm 1983, 1984 có thêm hình thức nhận thầu công trình và hợp tác
trực tiếp giữa các bộ, các ngành và các địa phương kết nghĩa của hai nước với nhau (Hà
Nội – Matxcơva, Nghệ Tĩnh – Ulianop…). Lao động Việt Nam thường được tổ chức thành
các đội (40 – 50 người), có một đội trưởng và phiên dịch phụ trách. Trên cấp quản lý đội
lao động, có cán bộ quản lý vùng, quản lý khu, quản lý chung về mặt nhà nước đối với
LĐXK.
Lao động Việt Nam thường được bố trí làm những công việc mà lao động nước bạn
không thích làm (những công việc không đòi hỏi chuyên môn cao, có lương thấp) hoặc
được phân công đến vùng xa xôi, hẻo lánh. Trong giai đoạn này cơ cấu lao động xuất khẩu
của Việt Nam được phân bổ vào các ngành: Hơn 40% vào công nghiệp nhẹ với 117.432
người mà chủ yếu là các nghề dệt, da, may mặc; 25,3% vào cơ khí với 71.077 người. Phân
bố vào ngành xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng 22,9% là 64.247 người; vào các
21

hợp đồng lao động ( 4 – 5 năm) mỗi lao động còn tiết kiệm được từ 3000 – 5000 rúp, chưa
kể các khoản thu ngoài lương. Lao động ở các khu vưc II, sau một hợp đồng lao động 2
năm, mỗi người còn tiết kiệm được bình quân từ 1500 – 2000 USD. Riêng trong ngành xây
22
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
dựng, một lao động có tay nghề bậc 3, sau 2 năm làm việc ở LiBi đã đem về được 5000
USD, lao động không có tay nghề cũng dành dụm được 3500 USD.
Nhìn chung XKLĐ của nước ta trong giai đoạn 1980 – 1990, do những điều kiện kinh
tế, xã hội, do hạn chế của chính sách đối ngoại, do những ảnh hưởng của thị trường kinh tế
quốc tế, nên XLKĐ có những nét đặc trưng nhất định: Thị trường chủ yếu là các nước phe
xã hội chủ nghĩa, tỷ trọng lao động không nghề lớn, phần lớn lao động trước khi đi không
qua đào tạo, khi đến nước tiếp nhận, lao động được phân phối về các đơn vị sản xuất, được
kèm cặp đào tạo tại chỗ, được trang bị tay nghề phù hợp với các xí nghiệp, nhà máy bạn
yêu cầu.
3:XKLĐ TỪ NĂM 1990 ĐẾN NAY
Năm 1986 với tinh thần phê và tự phê, Đại hội VI của Đảng đã họp và thẳng thắn
nhận ra sai lầm của mình và sớm đã có biện pháp khắc phục là chuyển từ cơ chế quan liêu,
tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường cạnh tranh tự do. Từ đại hội VI của Đảng ta cũng
đã có những thay đổi trong nhận thức về việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Sau
chỉ thị số 73-CT ngày 13/03/1990 của chủ tịch HĐBT về việc tạm ngừng XKLĐ để củng
cố, chấn chỉnh tổ chức hệ thống lao động ở nước ngoài. Ngày 09/11/1991 Hội đồng bộ
trưởng đã ra quyết định 370/HĐBT, ban hành quy chế về việc đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Bản quy chế này đã trở thành kim chỉ nam
trong hành động, mở ra một thời kỳ mới cho XKLĐ dưới thời “mở cửa”.
XKLĐ dưới thời kỳ này không chỉ đơn thuần là giải quyết việc làm và học hỏi kinh
nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn nữa. Mà chính phủ Việt Nam coi XKLĐ: “Là một
hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho
đất nước góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế - văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa
Việt Nam với các nước sử dụng lao động theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi,
tôn trọng pháp luật và truyền thống dân tộc của nhau”.

lớn, như vào năm 1993, 1994, 1995, 1996 số lao động đưa sang Hàn Quốc lần lượt là:
1.352, 4.378, 5.674, 6.275 lao động.
Năm Tổng
số
Hàn
Quốc
Đài
Loan
Nhật
Bản
Malaysia Các
nước khác
1992 816 56 0 210 0 550
1993 3.968 1.352 0 289 53 2.274
1994 9.228 4.378 37 257 15 4.541
1995 9.569 5.674 87 723 2 3.083
24
Đề tài nghiên cứu khoa học Hà nội- 2008
1996 12.66
8
6.275 122 1.343 2 4.916
1997 18.44
7
4.880 191 2.250 0 11.126
1998 12.18
4
1.322 197 1.926 7 8.732
1999 19.97
0
4.518 558 1.856 1 13.037

Ta thấy, sở dĩ lao động phần lớn được đưa sang Hàn Quốc ở giai đoạn này bởi vì đây
là một thị trường mới, nhiều tiềm năng, và điều kiện sống ở Hàn Quốc cũng gần với Việt
Nam. Là 1 nước Châu Á, Hàn Quốc thu hút nhiều lao động Việt Nam như năm 1997 con
số này lên tới 18.447 lao động. Nhưng đến năm 1998 được coi là năm khó khăn cho
XKLĐ Việt Nam, lượng lao đông xuất khẩu giảm hẳn (từ 18.447 người năm 1997 xuống
25

Trích đoạn Giải quyết việc làm Tăng thu nhập cải thiện đời sống nhõn dõn Tạo nguồn thu ngoại tệ Phỏt triển nguồn nhõn lực 3:ĐỐI VỚI CÁ NHÂN XUẤT KHẨU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status