Tình hình lạm phát trên thế giới và ở nước ta - Pdf 95

TIỂU LUẬN VỀ LẠM PHÁT
Định nghĩa lạm phát
lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế.
Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức
mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự
phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường
theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong
phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta
hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm
vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa
các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số
lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn
định giá cả.
Các hiệu ứng tiêu cực
1.Lạm phát dự kiến: trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì
các thực thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy
vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:
• Chi phí mòn giày: lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người
giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm
phát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hơn hay làm giảm cầu
về tiền. Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền
hơn. Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ
những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà
người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát.
• Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các
doanh nghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản
phẩm.
• Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trường
hợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh
chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không
muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh nghiệp giữ

dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát. Điều này có thể giải thích qua sơ đồ
AD-AS. Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến
cho mức giá và sản lượng cùng tăng.
Trong khi đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng
cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để
đáp ứng. Do đó có lạm phát.
Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt
hàng khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá
cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì
mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có
lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là
lạm phát.
Lạm phát do chi phí đẩy
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp
tăng. Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá
thành sản phẩm. Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.
Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao
động. Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền
công cho người lao động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi
nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm
phát nảy sinh vì điều đó.
Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm
được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường
trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do
tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
Lạm phát do nhập khẩu
Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu. Khi giá

đầu năm tăng 9,19%, là quý có mức tăng cao nhất tính từ năm 1995 trở lại
đây, và đã vượt xa chỉ tiêu của cả năm. Việt Nam hiện là nước có tỷ lệ lạm
phát cao nhất ở Đông Á. Và sự gia tăng tốc độ lạm phát vẫn chưa có dấu
hiệu sớm chấm dứt.Không chỉ tầng lớp lao động phổ thông và công nhân
trong các nhà máy chịu ảnh hưởng tiêu cực nặng nề từ tình trạng giá cả leo
thang. Nhiều người có trình độ học vấn cao thừa nhận bằng cấp của họ cũng
chẳng giúp ích gì nhiều trong việc tìm kiếm một cuộc sống đảm bảo.
Kiềm chế lạm phát
Kiềm chế lạm phát còn gọi là giảm lạm phát. Có một loạt các phương thức
để kiềm chế lạm phát. Các ngân hàng trung ương như Cục dự trữ liên bang
Mỹ có thể tác động đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết
lập các lãi suất và thông qua các hoạt động khác (ví dụ: sử dụng các chính
sách tiền tệ). Các lãi suất cao (và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ) là cách
thức truyền thống để các ngân hàng trung ương kiềm chế lạm phát, sử dụng
thất nghiệp và suy giảm sản xuất để hạn chế tăng giá.
Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương xem xét các phương thức kiểm soát
lạm phát rất khác nhau. Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phát
một cách cân xứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi
nó ở mức cao.
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhấn mạnh việc tăng lãi suất bằng cách
giảm cung tiền thông qua các chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát.
Những người theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung,
thông thường là thông qua các chính sách tài chính để giảm nhu cầu. Các
nhà kinh tế học trọng cung chủ trương kiềm chế lạm phát bằng cách ấn định
tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ và một số đơn vị tiền tệ tham chiếu ổn định như
vàng, hay bằng cách giảm thuế suất giới hạn trong chế độ tỷ giá thả nổi để
khuyến khích tích lũy vốn. Tất cả các chính sách này đã được thực hiện
trong thực tế thông qua các tiến trình nghiệp vụ thị trường mở.
Một phương pháp khác đã thử là chỉ đơn giản thiết lập lương và kiểm soát
giá cả (xem thêm "Các chính sách thu nhập"). Ví dụ, nó đã được thử tại Mỹ

nhập rất lớn chưa được quản lý thích ứng, trong một môi trường dùng tỷ giá
hối đoái làm neo danh nghĩa (nominal anchor) nhằm ổn định thị trường.
Mặc dù giá dầu trên thế giới, giá thực phẩm và nhu cầu tiêu dùng vào dịp
Tết, tất cả đều gia tăng bổ sung vào mức lạm phát 15% trong tháng 2 vừa
qua; nhưng những yếu tố này, theo quan điểm của chúng tôi, không quan
trọng bằng quản lý dòng vốn ngoại nhập.Thật vậy, VN nhận được dòng vốn
ngoại nhập rất lớn trong các năm qua, chiếm đến 39% GDP trong giai đoạn
2004-2007, riêng năm 2007 chiếm 15%. Vì chương trình cổ phần hóa tiến
triển chậm nên các cơ hội đầu tư vào sản xuất hữu hiệu càng bị giới hạn. Các
dòng vốn do vậy được chuyển vào TTCK, bất động sản (BĐS) và các khu
vực phi thương mại khác (non-tradable sectors). Phần lớn các dòng vốn
ngoại nhập được hướng đến thị trường BĐS. Đây là một lý do khiến giá đất
tại các thành phố lớn VN được xếp vào hạng cao nhất thế giới. Tương tự, chỉ
số TTCK đã tăng gấp ba vào tháng 9.2007, so với cuối năm 2005.Một số
dòng vốn ngoại nhập đã được niêm - cất (sterilized) bằng cách phát hành
trái phiếu để hút ngoại tệ ra khỏi thị trường, qua hoạt động của thị trường
mở, đã không tác động trên nguồn cung tiền. Nhưng các dòng vốn khác
không được niêm - cất, nghĩa là bị tiền tệ hóa, đã góp phần tăng nguồn cung
tiền. Khối lượng tiền tệ tăng 30% mỗi năm trong giai đoạn 2004 - 2006, và
tăng trên 40% trong nửa đầu năm 2007.Có nên hút đô la hay không?Vì
muốn giữ tỷ giá để cạnh tranh, Nhà nước đang ở thế "tránh vỏ dưa gặp vỏ
dừa": Nếu Nhà nước niêm - câæt vốn ngoại nhập (cho dù chưa kể cái giá
ngân sách nhà nước phải trả vì lãi suất cao hơn), đồng nội tệ sẽ tăng giá,
khiến cho một nền kinh tế hướng xuất khẩu như VN phải chịu giảm tỷ lệ
tăng trưởng.Nhưng nếu dòng vốn ngoại nhập không được niêm - cất đúng và
đủ, để thích nghi với số lượng tiền cần có để dùng cho giao dịch, kết quả sẽ
là nguồn cung tiền gia tăng, dẫn đến gia tăng giá cả nội địa. Đây chính là
trường hợp của VN.Kể từ giữa năm 2007, chính sách ghìm cương gia tăng
tín dụng đã được thực hiện bằng cách nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các mức
lãi suất căn bản, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu. Quản lý các dòng vốn

khủng hoảng tiền tệ. Việc dòng vốn nước ngoài đổ vào chậm lại, hay thậm
chí sẽ đảo chiều, sẽ khiến người trong nước kiếm cách gửi tiền ra nước
ngoài. Trong khi đó, cấu trúc của cán cân thu chi quốc tế rất dễ làm cho nền
kinh tế VN bị tác động bởi khủng hoảng. Kể từ năm 2004, nhập siêu lớn của
cán cân thương mãi - 2,5 tỉ đô la và gia tăng trong năm 2007 - đã được tài
trợ bằng chuyển khoản tư nhân rất đáng kể, chủ yếu từ đầu tư của kiều bào,
cao hơn số kiều hối thường nhận được (ước khoảng 5 tỉ đô la, tương đương
7% GDP). Gần đây hơn, các khoản vay ngày càng tăng đã đóng một vai trò
đáng kể hơn về nguồn tiền dùng để tài trợ nhập siêu. Như vậy, đây là có một
sự chuyển hướng so với trước đây, khi nhập siêu chủ yếu được tài trợ bằng
đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và hỗ trợ tài chính ưu đãi.Các chuyển khoản
tư nhân này, cùng với các dòng vốn ngoại nhập khác, có thể ngừng lại, nếu
sự tin tưởng trong nền kinh tế không được mau chóng củng cố thêm. Các
dòng vốn ngoại nhập bị cạn kiệt, kết hợp với xu hướng chuyển tiền ra nước
ngoài gia tăng, sẽ gây một áp lực kinh khủng khiến giá tiền đồng phải giảm
xuống.Các chuyển khoản tư nhân này, cùng với các dòng vốn ngoại nhập
khác, có thể ngừng lại, nếu sự tin tưởng trong nền kinh tế không được mau
chóng củng cố thêm. Các dòng vốn ngoại nhập bị cạn kiệt, kết hợp với xu
hướng chuyển tiền ra nước ngoài gia tăng, sẽ gây một áp lực kinh khủng
khiến giá tiền đồng phải giảm xuống. Để ngăn ngừa sự mất giá đột ngột,
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ cố gắng nâng đỡ đồng nội tệ bằng cách
bán dự trữ ngoại tệ, nhưng làm như vậy chắc chắn không thể xoay chuyển
được tình hình và rốt cuộc sẽ buông xuôi, càng khiến cho tiền đồng tuột giá
hơn nữa.Để ngăn ngừa sự mất giá đột ngột, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
sẽ cố gắng nâng đỡ đồng nội tệ bằng cách bán dự trữ ngoại tệ, nhưng làm
như vậy chắc chắn không thể xoay chuyển được tình hình và rốt cuộc sẽ
buông xuôi, càng khiến cho tiền đồng tuột giá hơn nữa. Đó chính là tình
huống đã xảy ra ở Thái Lan năm 1997. Chính người nghèo phải gánh chịu
những hậu quả nặng nề nhất của đợt khủng hoảng đó. Đó chính là tình
huống đã xảy ra ở Thái Lan năm 1997. Chính người nghèo phải gánh chịu

những hoạt động tương đồng giữa những thành viên chính trong giới kinh tế
và tài chính, trong đó có NHNN, Bộ Tài chính, các bộ khác và các ngân
hàng thương mại. Các biện pháp cần thực hiện bao gồm: NHNN cần tham
khảo ý kiến của các ngân hàng thương mại để đánh giá lại tác động của các
biện pháp gần đây trên thị trường; giảm lãi suất tiết kiệm cao quá mức là hệ
quả của cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng để huy động tiền ký thác bằng
cách cho phép giảm lượng trái phiếu chính phủ mà các ngân hàng phải mua,
và/hoặc cho phép sử dụng ngoại tệ để mua trái phiếu chính phủ, qua đó, hút
bớt thanh khoản nhờ việc giảm lượng đô la dư thừa; xem xét lại và trì hoãn
việc tăng giá xăng dầu, điện và các mặt hàng khác thông qua kiểm toán và
các biện pháp nhằm giảm lãng phí và tăng hiệu quả của các doanh nghiệp
sản xuất các loại hàng hóa này.Các biện pháp cần thực hiện bao gồm:
NHNN cần tham khảo ý kiến của các ngân hàng thương mại để đánh giá lại
tác động của các biện pháp gần đây trên thị trường; giảm lãi suất tiết kiệm
cao quá mức là hệ quả của cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng để huy động
tiền ký thác bằng cách cho phép giảm lượng trái phiếu chính phủ mà các
ngân hàng phải mua, và/hoặc cho phép sử dụng ngoại tệ để mua trái phiếu
chính phủ, qua đó, hút bớt thanh khoản nhờ việc giảm lượng đô la dư thừa;
xem xét lại và trì hoãn việc tăng giá xăng dầu, điện và các mặt hàng khác
thông qua kiểm toán và các biện pháp nhằm giảm lãng phí và tăng hiệu quả
của các doanh nghiệp sản xuất các loại hàng hóa này. NHNN nên mở rộng
đáng kể biên độ tỷ giá hối đoái để cho tiền đồng có thể lên giá uyển chuyển
hơn, hầu phản ánh mau chóng hơn thay đổi của thị trường. Từ năm 2004 đến
giữa năm 2007, tỷ giá hối đoái danh nghĩa hữu hiệu (nominal effective
exchange rate) đã giảm 7,6%; như vậy vẫn còn chỗ để cơ quan chức năng
điều chỉnh tỷ giá hối đoái.NHNN nên mở rộng đáng kể biên độ tỷ giá hối
đoái để cho tiền đồng có thể lên giá uyển chuyển hơn, hầu phản ánh mau
chóng hơn thay đổi của thị trường. Từ năm 2004 đến giữa năm 2007, tỷ giá
hối đoái danh nghĩa hữu hiệu (nominal effective exchange rate) đã giảm
7,6%; như vậy vẫn còn chỗ để cơ quan chức năng điều chỉnh tỷ giá hối đoái.

đầu tư trong khu vực nhà nước, đặc biệt đầu tư của các doanh nghiệp quốc
doanh. Về khía cạnh này, Chính phủ có thể kiểm soát các dự án đang tiến
hành và công bố mau chóng kết quả cùng danh sách các dự án ưu tiên phải
tiếp tục thực hiện. Các biện pháp nhằm hạn chế tính không ổn định của dòng
vốn ngoại nhập có thể tiến hành bằng cách củng cố chặt chẽ khung luật lệ và
quy tắc thận trọng (Regulatory and prudential framework) về hoạt động ngân
hàng. Đặc biệt, chính quyền có thể siết chặt luật lệ liên quan đến phòng nguy
cơ thanh khoản và tỷ suất hối đoái, và đồng thời, thẩm định và giám sát nguy
cơ của mỗi ngân hàng gắn liền với số tiền cho vay để dùng vào TTCK và
BĐS.Các biện pháp nhằm hạn chế tính không ổn định của dòng vốn ngoại
nhập có thể tiến hành bằng cách củng cố chặt chẽ khung luật lệ và quy tắc
thận trọng (Regulatory and prudential framework) về hoạt động ngân hàng.
Đặc biệt, chính quyền có thể siết chặt luật lệ liên quan đến phòng nguy cơ
thanh khoản và tỷ suất hối đoái, và đồng thời, thẩm định và giám sát nguy cơ
của mỗi ngân hàng gắn liền với số tiền cho vay để dùng vào TTCK và BĐS.
Việc đánh thuế lợi nhuận kinh doanh BĐS để chống đầu cơ cần được thực
hiện nhanh chóng. Như vậy sẽ làm giảm lượng vốn đầu cơ đổ vào từ nước
ngoài, giảm áp lực lạm phát và dần dần "xì hơi" bong bóng BĐS. Việc đánh
thuế lợi nhuận kinh doanh BĐS để chống đầu cơ cần được thực hiện nhanh
chóng. Như vậy sẽ làm giảm lượng vốn đầu cơ đổ vào từ nước ngoài, giảm
áp lực lạm phát và dần dần "xì hơi" bong bóng BĐS. Nếu cần, các khoản
vay liên quan đến các TTCK và BĐS có thể bị hạn chế hơn nữa, hay thậm
chí có thể bị chặn đứng tạm thời.Nếu cần, các khoản vay liên quan đến các
TTCK và BĐS có thể bị hạn chế hơn nữa, hay thậm chí có thể bị chặn đứng
tạm thời. Về trung hạn Cải cách cơ cấu để hướng dòng vốn ngoại nhập vào
những sản xuất hữu hiệu, có thể được thực hiện thông qua đẩy mạnh cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước, cải cách hệ thống sử dụng đất và cải cách khu
vực tài chính.Cải cách cơ cấu để hướng dòng vốn ngoại nhập vào những sản
xuất hữu hiệu, có thể được thực hiện thông qua đẩy mạnh cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước, cải cách hệ thống sử dụng đất và cải cách khu vực tài

đến thiếu hụt tiền đồng và dao động trên thị trường tài chính VN. Chúng ta
hãy cùng nhau phân tích căn nguyên lạm phát tại VN và tại sao cần sự xử lý
thận trọng đối với tình hình hiện tại để tránh những khủng hoảng lớn, có thể
gây tác hại nghiêm trọng đến ổn định xã hội.Căn nguyên lạm phát là gia tăng
tín dụng, chủ yếu vì dòng vốn ngoại nhập rất lớn chưa được quản lý thích
ứng, trong một môi trường dùng tỷ giá hối đoái làm neo danh nghĩa
(nominal anchor) nhằm ổn định thị trường. Mặc dù giá dầu trên thế giới, giá
thực phẩm và nhu cầu tiêu dùng vào dịp Tết, tất cả đều gia tăng bổ sung vào
mức lạm phát 15% trong tháng 2 vừa qua; nhưng những yếu tố này, theo
quan điểm của chúng tôi, không quan trọng bằng quản lý dòng vốn ngoại
nhập.Thật vậy, VN nhận được dòng vốn ngoại nhập rất lớn trong các năm
qua, chiếm đến 39% GDP trong giai đoạn 2004-2007, riêng năm 2007 chiếm
15%. Vì chương trình cổ phần hóa tiến triển chậm nên các cơ hội đầu tư vào
sản xuất hữu hiệu càng bị giới hạn. Các dòng vốn do vậy được chuyển vào
TTCK, bất động sản (BĐS) và các khu vực phi thương mại khác (non-
tradable sectors). Phần lớn các dòng vốn ngoại nhập được hướng đến thị
trường BĐS. Đây là một lý do khiến giá đất tại các thành phố lớn VN được
xếp vào hạng cao nhất thế giới. Tương tự, chỉ số TTCK đã tăng gấp ba vào
tháng 9.2007, so với cuối năm 2005.Một số dòng vốn ngoại nhập đã được
niêm - cất (sterilized) bằng cách phát hành trái phiếu để hút ngoại tệ ra khỏi
thị trường, qua hoạt động của thị trường mở, đã không tác động trên nguồn
cung tiền. Nhưng các dòng vốn khác không được niêm - cất, nghĩa là bị tiền
tệ hóa, đã góp phần tăng nguồn cung tiền. Khối lượng tiền tệ tăng 30% mỗi
năm trong giai đoạn 2004 - 2006, và tăng trên 40% trong nửa đầu năm
2007.Có nên hút đô la hay không?Vì muốn giữ tỷ giá để cạnh tranh, Nhà
nước đang ở thế "tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa": Nếu Nhà nước niêm - câæt vốn
ngoại nhập (cho dù chưa kể cái giá ngân sách nhà nước phải trả vì lãi suất
cao hơn), đồng nội tệ sẽ tăng giá, khiến cho một nền kinh tế hướng xuất
khẩu như VN phải chịu giảm tỷ lệ tăng trưởng.Nhưng nếu dòng vốn ngoại
nhập không được niêm - cất đúng và đủ, để thích nghi với số lượng tiền cần

Malaysia ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997. Dù tỷ lệ này đã
giảm, tính từ thời điểm đó, nhiều nhà quan sát tin rằng chiều hướng "giảm
đến giá trị thật" sẽ tiếp tục. Những vấn đề về lạm phát và đầu tư đang được
nhiều người dân quan tâm - Ảnh: D.Đ.MKhủng hoảng tài chính này có thể
diễn ra đồng thời với một đợt khủng hoảng tiền tệ. Việc dòng vốn nước
ngoài đổ vào chậm lại, hay thậm chí sẽ đảo chiều, sẽ khiến người trong nước
kiếm cách gửi tiền ra nước ngoài. Trong khi đó, cấu trúc của cán cân thu chi
quốc tế rất dễ làm cho nền kinh tế VN bị tác động bởi khủng hoảng. Kể từ
năm 2004, nhập siêu lớn của cán cân thương mãi - 2,5 tỉ đô la và gia tăng
trong năm 2007 - đã được tài trợ bằng chuyển khoản tư nhân rất đáng kể,
chủ yếu từ đầu tư của kiều bào, cao hơn số kiều hối thường nhận được (ước
khoảng 5 tỉ đô la, tương đương 7% GDP). Gần đây hơn, các khoản vay ngày
càng tăng đã đóng một vai trò đáng kể hơn về nguồn tiền dùng để tài trợ
nhập siêu. Như vậy, đây là có một sự chuyển hướng so với trước đây, khi
nhập siêu chủ yếu được tài trợ bằng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và hỗ trợ
tài chính ưu đãi.Các chuyển khoản tư nhân này, cùng với các dòng vốn
ngoại nhập khác, có thể ngừng lại, nếu sự tin tưởng trong nền kinh tế không
được mau chóng củng cố thêm. Các dòng vốn ngoại nhập bị cạn kiệt, kết
hợp với xu hướng chuyển tiền ra nước ngoài gia tăng, sẽ gây một áp lực kinh
khủng khiến giá tiền đồng phải giảm xuống.Các chuyển khoản tư nhân này,
cùng với các dòng vốn ngoại nhập khác, có thể ngừng lại, nếu sự tin tưởng
trong nền kinh tế không được mau chóng củng cố thêm. Các dòng vốn
ngoại nhập bị cạn kiệt, kết hợp với xu hướng chuyển tiền ra nước ngoài gia
tăng, sẽ gây một áp lực kinh khủng khiến giá tiền đồng phải giảm xuống. Để
ngăn ngừa sự mất giá đột ngột, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ cố gắng
nâng đỡ đồng nội tệ bằng cách bán dự trữ ngoại tệ, nhưng làm như vậy chắc
chắn không thể xoay chuyển được tình hình và rốt cuộc sẽ buông xuôi, càng
khiến cho tiền đồng tuột giá hơn nữa.Để ngăn ngừa sự mất giá đột ngột,
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ cố gắng nâng đỡ đồng nội tệ bằng cách
bán dự trữ ngoại tệ, nhưng làm như vậy chắc chắn không thể xoay chuyển

tăng, tỷ lệ hàng hóa mậu dịch quốc tế trong rổ tiêu dùng do đó sẽ tăng. Vì
vậy giá nội địa sẽ có xu hướng tăng, nếu giá nhập khẩu cũng như chất lượng
hàng nhập tăng. Để củng cố lòng tin, chính quyền có thể cho thấy rõ ràng
hơn năng lực phối hợp hữu hiệu các biện pháp thích ứng để chống lạm phát
cũng như khả năng phối hợp những hoạt động tương đồng giữa những thành
viên chính trong giới kinh tế và tài chính, trong đó có NHNN, Bộ Tài chính,
các bộ khác và các ngân hàng thương mại. Các biện pháp cần thực hiện bao
gồm: NHNN cần tham khảo ý kiến của các ngân hàng thương mại để đánh
giá lại tác động của các biện pháp gần đây trên thị trường; giảm lãi suất tiết
kiệm cao quá mức là hệ quả của cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng để huy
động tiền ký thác bằng cách cho phép giảm lượng trái phiếu chính phủ mà
các ngân hàng phải mua, và/hoặc cho phép sử dụng ngoại tệ để mua trái
phiếu chính phủ, qua đó, hút bớt thanh khoản nhờ việc giảm lượng đô la dư
thừa; xem xét lại và trì hoãn việc tăng giá xăng dầu, điện và các mặt hàng
khác thông qua kiểm toán và các biện pháp nhằm giảm lãng phí và tăng hiệu
quả của các doanh nghiệp sản xuất các loại hàng hóa này.Các biện pháp cần
thực hiện bao gồm: NHNN cần tham khảo ý kiến của các ngân hàng thương
mại để đánh giá lại tác động của các biện pháp gần đây trên thị trường; giảm
lãi suất tiết kiệm cao quá mức là hệ quả của cuộc cạnh tranh giữa các ngân
hàng để huy động tiền ký thác bằng cách cho phép giảm lượng trái phiếu
chính phủ mà các ngân hàng phải mua, và/hoặc cho phép sử dụng ngoại tệ
để mua trái phiếu chính phủ, qua đó, hút bớt thanh khoản nhờ việc giảm
lượng đô la dư thừa; xem xét lại và trì hoãn việc tăng giá xăng dầu, điện và
các mặt hàng khác thông qua kiểm toán và các biện pháp nhằm giảm lãng
phí và tăng hiệu quả của các doanh nghiệp sản xuất các loại hàng hóa này.
NHNN nên mở rộng đáng kể biên độ tỷ giá hối đoái để cho tiền đồng có thể
lên giá uyển chuyển hơn, hầu phản ánh mau chóng hơn thay đổi của thị
trường. Từ năm 2004 đến giữa năm 2007, tỷ giá hối đoái danh nghĩa hữu
hiệu (nominal effective exchange rate) đã giảm 7,6%; như vậy vẫn còn chỗ
để cơ quan chức năng điều chỉnh tỷ giá hối đoái.NHNN nên mở rộng đáng

lượng cho vay, nên dành ưu tiên cho giảm lạm phát và nên để thị trường
quyết định mức lãi suất, nhờ vậy có thể đạt được một mức lãi suất thực
dương. Để thực hiện mục tiêu này, số lượng các kỳ phiếu bắt buộc các ngân
hàng thương mại phải mua cần được cắt giảm đáng kể. Biện pháp này cần
được kết hợp với việc chặt chẽ đối với đầu tư trong khu vực nhà nước, đặc
biệt đầu tư của các doanh nghiệp quốc doanh. Về khía cạnh này, Chính phủ
có thể kiểm soát các dự án đang tiến hành và công bố mau chóng kết quả
cùng danh sách các dự án ưu tiên phải tiếp tục thực hiện. Các biện pháp
nhằm hạn chế tính không ổn định của dòng vốn ngoại nhập có thể tiến hành
bằng cách củng cố chặt chẽ khung luật lệ và quy tắc thận trọng (Regulatory
and prudential framework) về hoạt động ngân hàng. Đặc biệt, chính quyền
có thể siết chặt luật lệ liên quan đến phòng nguy cơ thanh khoản và tỷ suất
hối đoái, và đồng thời, thẩm định và giám sát nguy cơ của mỗi ngân hàng
gắn liền với số tiền cho vay để dùng vào TTCK và BĐS.Các biện pháp
nhằm hạn chế tính không ổn định của dòng vốn ngoại nhập có thể tiến hành
bằng cách củng cố chặt chẽ khung luật lệ và quy tắc thận trọng (Regulatory
and prudential framework) về hoạt động ngân hàng. Đặc biệt, chính quyền
có thể siết chặt luật lệ liên quan đến phòng nguy cơ thanh khoản và tỷ suất
hối đoái, và đồng thời, thẩm định và giám sát nguy cơ của mỗi ngân hàng
gắn liền với số tiền cho vay để dùng vào TTCK và BĐS. Việc đánh thuế lợi
nhuận kinh doanh BĐS để chống đầu cơ cần được thực hiện nhanh chóng.
Như vậy sẽ làm giảm lượng vốn đầu cơ đổ vào từ nước ngoài, giảm áp lực
lạm phát và dần dần "xì hơi" bong bóng BĐS. Việc đánh thuế lợi nhuận kinh
doanh BĐS để chống đầu cơ cần được thực hiện nhanh chóng. Như vậy sẽ
làm giảm lượng vốn đầu cơ đổ vào từ nước ngoài, giảm áp lực lạm phát và
dần dần "xì hơi" bong bóng BĐS. Nếu cần, các khoản vay liên quan đến các
TTCK và BĐS có thể bị hạn chế hơn nữa, hay thậm chí có thể bị chặn đứng
tạm thời.Nếu cần, các khoản vay liên quan đến các TTCK và BĐS có thể bị
hạn chế hơn nữa, hay thậm chí có thể bị chặn đứng tạm thời. Về trung hạn
Cải cách cơ cấu để hướng dòng vốn ngoại nhập vào những sản xuất hữu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status