lạm phát và một số biện pháp khắc phục lạm phát trên thế giới và ở việt nam - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Lạm phát và một số biện pháp
khắc phục lạm phát trên thế giới
và ở Việt Nam
Lời nói đầu

Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của nền kinh tế
Việt Nam trong những thập niêm gần đây. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy
sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương
trường. Các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt
những vấn đề của nền kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là
những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm khác trong
kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát. Lạm phát như một căn bệnh
của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về
thời gian và trí tuệ mới có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát
không chỉ là việc của các nhà doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm
phát ảnh hưởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới

gây nên sự mất giá của đồng tiền và sự phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân.
Theo Samelson: lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi. Khi mức giá tăng lên
được gọi là lạm phát, khi mức giá giảm xuống được gọi là giảm phát. Vậy, lạm phát là
sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.
Theo Friedman và những nhà kinh tế khác: lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và
kéo dài, lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ - lạm phát bao giờ và ở
đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ.
Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số chung của giá cả và loại chỉ số biểu hiện lạm
phát gọi là chỉ số lạm phát hay chỉ số giá cả chung của toàn bộ hàng hoá cấu thành tổng
sản phẩm quốc dân: nó chính là GNP danh nghĩa/GNP thực tế. Trong thực tế thường được thay thế bằng một trong hai loại chỉ số giá thông dụng khác: chỉ số giá tiêu dùng
hay chỉ số giá bán buôn (còn gọi là chỉ số giá cả sản xuất).
Chỉ số giá cả tiêu dùng phản ánh sự biến động giá cả của một giỏ hàng hoá và dịch
vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của xã hội. Công thức tính:
I
P
=  i
p
. d
Trong đó:
I
P
: chỉ số giá cả của giỏ hàng
i
p
: chỉ số giá cả của từng loại hàng nhóm hàng trong giỏ
d : tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại nhóm hàng trong giỏ (với d=1)

Vậy, tỷ lệ lạm phát của năm 1992 là:
g
P
= ( Error! - 1 ) . 100 = 20%
2. Phân loại lạm phát
a. Theo khả năng định lượng.
Người ta thường chia lạm phát thành ba loại, tuỳ theo mức độ của tỷ lệ lạm phát
như sau:
* Lạm phát một chữ số: là loại lạm phát nhỏ hơn 10% mỗi năm. Lạm phát ở mức
độ này không gây ra những tác động đáng kể đối với nền kinh tế, biến động giá cả trong
nền kinh tế chưa gây ra ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế chính trị, xã hội hơn nữa tạo
động lực phát triển kinh tế, thông thường loại lạm phát một chữ số được xem là có thể
chấp nhận được.
* Lạm phát hai chữ số: khi giá cả bắt đầu tăng đến hai chữ số mỗi năm, lạm phát
trở thành kẻ thù của sản xuất và thu nhập, loại lạm phát này khi đã trở nên vững chắc sẽ
gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
* Siêu lạm phát:
Ngoài lạm phát hai chữ số có thể còn một vài loại khác với các tên gọi như lạm
phát ba chữ số, lạm phát phi mã, tuỳ theo quan điểm của các nhà kinh tế. Tuy nhiên,
hai loại lạm phát này đều có nét giống nhau nhất định và hoàn toàn có thể đưa chúng
vào dạng siêu lạm phát vì siêu lạm phát bao gồm cả hai đặc trưng: rất cao và phi mã.
Lạm phát ở Đức năm 1922-1923 là hình ảnh siêu lạm phát điển hình trong lịch sử lạm
phát thế giới, giá cả tăng từ 1 đến 10 triệu lần. Siêu lạm phát thường gây ra những thiệt
hại nghiêm trọng và sâu sắc, tuy nhiên chúng cũng ít khi xảy ra.
b. Theo khả năng định tính:
Lạm phát được gọi tên thêm các loại phổ biến sau:
* Lạm phát thuần tuý:
Lạm phát thuần tuý là trường hợp đặc biệt khi giá cả hàng hoá tiêu dùng và hàng
hoá sản xuất đều tăng lên gần như cùng tỷ lệ % trong một đơn vị thời gian. Đây là


vẫn được đảm bảo cho anh ta mua được ngần ấy hàng hoá (đại diện là 200kg gạo). Anh
ta không giàu hơn mà cũng không nghèo hơn so với tháng 5. Bởi vì, tuy lương tăng
được 8.000đ. Nhưng giá cả tăng lên vừa đủ phần tăng lương này.
Thứ ba: Nếu Nhà nước tăng lương công nhân hơi mạnh tay lên đến 107,1% so với
mức lương cũ.
Lương tháng 6 của công nhân = 400.000 x 107,1% = 428.400đ/tháng.
Đem tất cả lương này đi mua gạo, công nhân được:
Error! = 210kg gạo.
Lương tháng 5 chỉ mua được 200kg hàng hoá. Trong khi, sang tháng 6 lương đã
mua được đến 210kg hàng hoá. Anh ta giàu hơn tháng 5 là 10kg hàng hoá và rõ ràng là
cuộc sống của người này đã tốt hơn lên.
Trường hợp thứ hai được gọi là lạm phát cân bằng. Hai trường hợp thứ 1 và thứ 3
là không cân bằng. Như vậy, cân bằng ở đây là cân bằng so với thu nhập.
Kết luận: Lạm phát được gọi là cân bằng khi nó tăng tương ứng với thu nhập.
Nghĩa là sự tồn tại của lạm phát không ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Ngược
lại, lạm phát không cân bằng khi nó tác động đến đời sống của người lao động nó làm
cho họ giầu hơn nếu tỷ lệ % tăng lạm phát thấp hơn tỷ lệ % tăng lương trong cùng thời
gian, làm cho mọi người nghèo hơn, vất vả hơn nếu tỷ lệ % của lạm phát cao hơn tỷ lệ
% tăng của thu nhập cũng trong giai đoạn ấy.
Lạm phát không cân bằng là loại xảy ra phổ biến nhất.
* Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường.
Khi lạm phát (thí dụ 8% năm), xảy ra liên tục trong một khoảng thời gian đủ dài
(10 năm chẳng hạn), tâm lý và sự chờ đợi của nhân dân đã trở thành quán tính, người ta
đã quen dần với lạm phát. Năm thứ 11 hay 12 trở đi, việc nền kinh tế sẽ có lạm phát 8%
là chuyện bình thường và gần như được tin chắc, được đoán trước, được chờ đợi. Người
ta gọi là loại lạm phát dự đoán được. Cũng có khi người ta có thể nhìn thấy trước về lạm phát và tin rằng nó sẽ xảy ra
bởi các nguyên nhân của nó đã bộc lộ đầy đủ và rõ ràng. Trong tình huống như vậy,

a. Cung ứng tiền tệ và lạm phát
* Quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển.
Căn cứ trên phương trình trao đổi:
MV = PY (1)
Các nhà kinh tế học cổ điển lập luận rằng:
Nếu gọi M
0
là cung ứng tiền tệ hiện có trong nền kinh tế vào thời điểm t=0.
V
0
, P
0
và Y
0
lần lượt là vận tốc vòng quay của tiền tệ sinh lợi tức, giá cả và sản
lượng tương ứng tại thời điểm nói trên.
Đến thời điểm t=1, cung ứng tiền sẽ là M
1
, vận tốc vòng quay tiền tệ, giá cả, sản
lượng sẽ là V
1
, P
1
, Y
1
.
Bởi vì cung ứng tiền ở mỗi thời điểm luôn luôn khác nhau dù ít hay nhiều
(M
1
M

0
. Vấn đề là khi chúng khác nhau, thì:
M
1
= M
0
+ g
M
M
0

V
1
= V
0
+ g
V
V
0

P
1
= P
0
+ g
P
P
0
Y
1

M
) x V
0
(1 + g
V
) = P
0
(1 + g
P
) x Y
0
(1 + g
Y
) (3)
Nhưng tại thời điểm t=0
M
0
V
0
= P
0
Y
0
(4) Mà tỷ lệ tăng trên tổng tiền tệ và sản lượng giữa hai thời điểm t
0
và t
1

Vì M
V
= P
Y
nên:
g
M
+ g
V
= g
P
+ g
Y
(7)
Các nhà kinh tế học cổ điển diễn tả vắn tắt về phương trình (7) là vào bất kỳ thời
điểm nào của nền kinh tế khi so sánh với một thời điểm khác trước đó:
Tỷ lệ tăng trong;cung ứng tiền %
+
Tỷ lệ tăng trong;vận tốc lưu thông;tiền tệ %
=
Tỷ lệ lạm phát;%
+
Tỷ lệ tăng;của sản lượng

Họ xem đây là mấu chốt cơ bản để hiểu về mối quan hệ giữa hệ gia tăng trong
cung ứng tiền với lạm phát. Giả sử vào một thời điểm nào đó tỷ lệ thay đổi của sản
lượng và vận tốc lưu thông tiền tệ được xem là bằng không, lạm phát xảy ra khi và chỉ
khi cung ứng tiền gia tăng, chính quan điểm này đã được Friedman củng cố. Ông phân
biệt là không phải mọi trường hợp lạm phát xảy ra đều trực tiếp gây lên bởi sự tăng
cung ứng tiền. Nhiều trường hợp lạm phát bộc phát bởi nhiều tác nhân khác. Tuy nhiên

hơn khi cho rằng vào thời điểm đầu, LM thể hiện qua cung ứng tiền tệ thực tế sẽ bằng
Error!. Sự tăng của cung ứng tiền M
0
lên M
1
sẽ diễn ra theo hai giai đoạn. Ông lý
luận rằng vào ngay lúc đầu M
0
tăng lên nhanh M
1
trong lúc giá cả chưa biến động, vẫn ở
mức P
0
, sẽ làm cho LM thay đổi rất lớn. LM dịch chuyển lên tới LM'.


B

K

IS

20

10

0

Lãi
su
ất

Sản lư
ợng
(tỷ VNĐ)
LM (
Error!

LM (
Error!

LM (
Error!

A '



12.000

P
0

YD
0
(M
0
)
11.000

12.000
Keynes tổng kết phân tích của ông qua sáu điểm:
 Cung ứng tiền danh nghĩa tăng khi giá chưa thay đổi, làm cung ứng tiền thực tế
tăng.
 LM dịch chuyển quá mạnh qua phải, sản lượng tăng quá nhanh.
 Tổng cầu tăng gây ra lạm phát.
 Lạm phát làm cho mức cung ứng tiền thực tế nhỏ lại so với ban đầu.
 LM qua trái trở lại một ít, sản lượng tụt, tuy vẫn cao hơn mức khởi điểm.
 Giá cả từ đỉnh lạm phát xuống thấp hơn.
Do sự chuyển tiếp của việc tăng cung ứng tiền tệ qua tổng cầu (Aggreate demand)
để làm nên lạm phát, các nhà kinh tế học cổ điển còn gọi tên cách phân tích của Keynes
về lạm phát là lạm phát do cầu kéo.
* Quan điểm của các nhà kinh tế tiền tệ:
Nếu gọi M

. Vì a và b - theo Friedman là những
hằng số khá ổn định về mặt dài hạn nên thị trường chỉ cân bằng nếu L
S
và L
D
tăng gần
tương đương với mức tăng của Y. Do vậy khả năng ngược lại, là khi Y cố định về mặt
ngắn hạn, sự tăng cung tiền tệ M
S
sẽ chỉ được cân đối nếu có sự tăng tương ứng của cầu tiền tệ danh nghĩa M
D
. Bởi vì thị trường tiền tệ luôn luôn có xu hướng quay về cân
bằng, ở vị trí mà:
Error! = Error! = aY
b
(11)
Nếu Y không đổi a và b không đổi, M
S
tăng khi một trong 3 trường hợp xảy ra:

- M
D
phải tăng tương ứng để tạo thế cân bằng.
- P phải tăng.
- M
D
và P cùng tăng.
chưa thay đổi kịp. Nhưng lãi suất và do đó nhu cầu về tiền danh nghĩa sẽ biến động
ngay. Bởi thế phương trình (13) được viết thành:
Error! = Error! (1 + M
D
)
Error! = 1 + M
D

1 + M
S
= 1 + P + P M
D
+ M
D

P = Error! (14)
Về mặt thực tiễn khi cung ứng tiền danh nghĩa tăng một tỷ lệ là M
S
, nó sẽ gây ra
lạm phát với tỷ lệ chính thức là bằng tỷ lệ tăng cung cung ứng tiền danh nghĩa trừ đi tỷ
lệ tăng của nhu cầu tiền danh nghĩa chia cho tổng của 1 cộng với tỷ lệ tăng trong nhu
cầu về tiền danh nghĩa.
Rõ ràng là nhu cầu về tiền danh nghĩa có tăng hay là không mọi sự tăng lên của
cung ứng tiền danh nghĩa - về mặt ngắn hạn - đều nhanh chóng gây ra lạm phát. Về mặt
dài hạn, khi sản lượng đã phần nào được mở rộng theo cung ứng tiền thì sự chuyển tiếp
từ sản lượng qua gia tăng tổng cầu trên thị trường hàng hoá tiếp tục là bay tay gây ra
lạm phát theo quan điểm của Keynes. Dù trực tiếp hay gián tiếp ngắn hạn hay dài hạn,
cung ứng tiền tăng là lý do thường thấy nhất của vấn đề lạm phát. Hình 2
Nếu chính sách tài chính tiền tệ không thay đổi thì nền kinh tế chuyển tới điểm 1'
sản phẩm sẽ giảm xuống dưới mức tỷ lệ tự nhiên trong khi giá cả tăng lên. Khi đó do
sản phẩm giảm, thất nghiệp tăng, các nhà hoạch địch chính sách sẽ thực hiện chính sách
nhằm tăng cường tổng cầu đến AD
2
, quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm tại
điểm 2 và mức giá cả P
2
. Nếu việc tăng tương lai tiếp tục thì đường tổng cung lại di
chuyển vào đến AS
2
thất nghiệp lại phát triển khi chuyển đến điểm 2' , các chính sách
năng động lại được sử dụng để di chuyển đường tổng cầu đến AD
3
và đưa nền kinh tế
P
4
P

Y

Y
n
Y'
P

3
AD
4
3
trở lại tình hình công ăn việc làm đầy đủ với mức giá cả P
3
. Nếu quá trình này tiếp tục
thì kết quả là tăng của mức giá cả, nghĩa là gây ra việc lạm phát. Nếu lạm phát cầu kéo
đi liền với thời kỳ mà thất nghiệp thấp hơn mức tỷ lệ tự nhiên thì lạm phát chi phí đẩy
lại đi liền với những thời kỳ mà thất nghiệp cao hơn mức tỷ lệ tự nhiên. Khi lạm phát
cầu kéo gây nên do tỷ lệ lạm phát cao hơn thì lạm phát dự tính cuối cùng sẽ tăng lên làm
cho công nhân đòi tăng lương, nên tiền lương thực tế của họ không giảm xuống. Vì vậy
cuối cùng lạm phát cầu kéo có thể gây nên lạm phát chi phí đẩy.
* Lạm phát cầu kéo:
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã
đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Điều này được minh hoạ trong hình vẽ 2. Trong thực tế
khi xẩy ra lạm phát cầu kéo người ta thường nhận thấy lượng tiền trong lưu thông và
khối lượng tín dụng tăng đáng kể và vượt quá khả năng giới hạn của mức cung hàng
hoá. Như vậy bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng
cung hạn chế về hàng hoá có thể sản xuất được trong thị trường lao động đã đạt được
cân bằng.

1
AS
trực tiếp đến cơ sở tiền tệ và do đó đến cung tiền tệ, vì vậy nó sẽ không ảnh hưởng rõ
ràng đến tổng cầu và sẽ có lạm phát. Tạo ra tiền tệ ảnh hưởng đến tổng cầu và có thể
gây ra lạm phát, thâm hụt ngân sách được trang trải bằng in tiền sẽ gây ra lạm phát nếu
ngân sách thâm hụt thâm hụt trong một thời kỳ khá dài. Trong thời kỳ đầu nếu thâm hụt
được trang trải bằng tạo ra tiền tệ thì cung tiền sẽ tăng làm cho đường cầu dịch sang
phải và mức giá cả tăng lên. Nếu thâm hụt ngân sách vẫn xảy ra trong thời kỳ sau, cung
tiền tệ sẽ lại tăng lên và đường tổng cầu lại di chuyển sang phải làm mức giá cả tăng
lên. Hơn nữa khi thâm hụt còn dai dẳng và Chính phủ phải in tiền để trang trải thâm hụt
đó thì quá trình này sẽ tiếp tục và đưa đến lạm phát kéo dài.
Tuy nhiên nếu là thâm hụt tạm thời thì nó sẽ không gây nên lạm phát trong thời kỳ
thâm hụt xảy ra, tiền tệ sẽ tăng lên để trang trải thâm hụt. Việc di chuyển ra của đường
cầu sẽ làm mức giá cả tăng lên, trong thời kỳ sau không còn thâm hụt thì không còn nhu
cầu in tiền nữa. Đường tổng cầu sẽ không di chuyển nữa, mức giá cả sẽ không tiếp tục
tăng. Như vậy sự tăng lên một đợt trong cung tiền tệ do thâm hụt tạm thời chỉ gây nên
sự tăng lên một đợt trong mức giá cả và lạm phát không mở rộng.
Mặc dù kết quả là lạm phát nhưng Chính phủ vẫn thường xuyên trang trải ngân
sách bằng cách tạo thêm tiền. Nếu các nước đang phát triển bị thâm hụt ngân sách, họ
không thể trang trải bằng cách phát hành trái khoán do không có một thị trường vốn
phát triển nên phải dùng đến cách in tiền. Kết quả là khi bị thâm hụt nghiêm trọng so
với GNP của họ thì cung tiền tệ tăng trưởng với tỷ lệ cao và gây nên lạm phát. Ngược
lại với những nước phát triển đặc biệt là Mỹ do có một thị trường chứng khoán Nhà
nước phát triển tốt nên có thể phát hành nhiều trái khoán để tài trợ thâm hụt. Tuy nhiên
thâm hụt tại Mỹ không có nguy cơ lạm phát bởi Fed có thể có mục tiêu ngăn chặn lãi
suất cao. Khi Chính phủ phát hành trái khoán để tài trợ thâm hụt có thể gây nên áp lực
với lãi suất. Khi đó Fed có thể mua trái khoán để nâng giá trái khoán và ngăn chặn lãi

Dĩ nhiên tình huống này đòi hỏi phải trả giá để ngăn chặn lạm phát. Nhưng điều rõ ràng
ở đây là thậm chí khi cung ứng tiền không là tác nhân trực tiếp gây ra lạm phát ở cả hai
trường hợp, thì nó vẫn là tác nhân gián tiếp. Hơn nữa, nó hoàn toàn có khả năng hình
thành phòng tuyến để giữ cho giá cả hạ trở lại. Vì những lý do đó, cuối cùng chính sách
tiền tệ là nguyên nhân đích thực của lạm phát. e. Do những nguyên nhân khác.
Tình hình chính trị trong nước, ảnh hưởng của tình hình kinh tế trên thế giới, tâm
lý người dân trong nước,
II. Những tác động của lạm phát.
1. Lạm phát và lãi suất thị trường:
Tác động đầu tiên của lạm phát nên đời sống kinh tế là nó làm thay đổi lãi suất. Vì lãi
suất ngày nay tác động nhiều mặt đến thu nhập, tiêu dùng và đầu tư cho nên thông qua lãi
suất, lạm phát tác động nhiều mặt đến thu nhập, tiêu dùng và đầu tư; lạm phát có tác động
đến nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế vĩ mô và vi mô.
Để giữ cho tài sản nợ, tài sản có có hiệu quả không đổi, hệ thống ngân hàng sẽ
luôn cố gắng giữ cho lãi suất thực tế ổn định. Nhưng, vì lãi suất thực tế = lãi suất danh
nghĩa - tỷ lệ lạm phát.
Nên nếu muốn cho lãi suất thực tế không đổi thì lãi suất danh nghĩa phải tăng cùng
với tỷ lệ lạm phát. Khi các ngân hàng và hệ thống tài chính tăng lãi suất danh nghĩa theo
lạm phát, hậu quả mà nền kinh tế phải gánh lấy là suy thoái và thất nghiệp tăng. Về mặt
lâu dài, sự cân bằng trên thị trường hàng hoá và thị trường tiền tệ kéo cả lạm phát và lãi
suất xuống khi không có sự can thiệp của ngân hàng trung ương. Nhưng cái giá phải trả
là tiềm năng sản xuất bị lãng phí, số việc làm giảm và đời sống nhân dân thêm khó
khăn.
2. Lạm phát và thu nhập thực tế.
Lạm phát tăng cao làm giảm thu nhập thực tế của người lao động, giảm giá trị của
tài sản không sinh lãi. Có lạm phát không cân bằng, lạm phát làm giảm giá trị của
những tài sản sinh lãi.

nghèo. Đời sống nhân dân lao động đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Những người thừa tiền và giàu có thì sao? Lạm phát bất thường kéo họ vào thị
trường đầu cơ tài sản và hàng hoá. Trong khi người dân không có tiền để mua sắm hàng
hoá tiêu dùng cho một tháng thì những người thừa tiền và giàu có có thể mua hàng núi hàng hoá để tích trữ, chờ giá lên tung ra bán. Chính sự đầu cơ này càng làm cho cung
hàng hoá khan hiếm một cách giả tạo và giá cả càng lên cơn sốt. Cuối cùng là nhân dân
lao động không mua nổi ngay cả hàng tiêu dùng cần thiết để sống trong khi những kẻ
đầu cơ bán ra hàng hoá với giá rất cao và càng trở lên giàu có hơn.
Lạm phát như thế có thể dẫn đến rối loạn kinh tế và làm cho hố ngăn cách giàu
nghèo lại càng mở to hơn. Quá trình phân phối lại thu nhập do lạm phát thường là
không hợp lý và làm tăng thêm sự bất bình đẳng.
4. Tác động khác của lạm phát:
Làm tăng khoản nợ quốc gia, biến động kinh tế xã hội, gây ra tâm lý bất ổn định
trong nhân dân,
III. Những biện pháp kìm chế và khắc phục lam phát.
Để đấu tranh chống hiện tượng lạm phát, người ta có thể tác động vào quan hệ
cung cầu, vào chi phí và các phản ứng tâm lý. Tác động vào quan hệ cung cầu: muốn
chống lạm phát phải quản lý cầu, để cân đối tiền hàng trong nền kinh tế thường được
thực hiện bằng việc tăng cung (khuyến khích sản xuất, khuyến khích cạnh tranh, tăng
tốc độ tăng trưởng của sản xuất, ) hoặc điều tiết khống chế cầu, hoặc đồng thời cả hai
biện pháp đó. Song việc tăng cung rất khó khăn và đòi hỏi phải có thời gian dài, trong
khi lạm phát luôn ở trạng thái động và luôn tạo ra hiện tượng cầu ngày càng lớn hơn
cung, do đó biện pháp có tính khả thi nhanh chóng là khống chế và điều tiết cầu. Khống
chế và điều tiết cầu bằng cách giảm chi ngân sách, thắt chặt tín dụng, tăng thuế, khuyến
khích tiết kiệm.
Tác động vào chi phí: thực hiện việc đa dạng hoá các nguồn cung ứng vật tư, tiết
kiệm nguyên liệu, thực hiện việc kiểm soát giá cả và tiền lương.
Tác động vào tâm lý: thông tin đầy đủ cho nhân dân về giá cả và chất lượng hàng

Hình 3
Người ta tin một cách phổ biến rằng có một cái gì đó về cơ cấu trong nền kinh tế
Châu Mỹ Latinh (Liên đoàn lao động chiến đấu, hệ thống chính trị) không ổn định gây
lên lạm phát cao. Thực tế lạm phát ở Châu Mỹ Latinh là đa dạng: một số nước Châu Mỹ
Latinh như Hondura, có tỷ lệ lạm phát bình quân năm dưới 10% trong thời kỳ đó, trong
khi tại các nước khác như Argentine, Brazin, Peru, tỷ lệ lạm phát là trên 200%. Tỷ lệ
lạm phát ở các nước Châu Mỹ Latinh đổi lại với mức tăng trưởng cung tiền tệ cho thấy
là những nước có tỷ lệ lạm phát rất cao cũng có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất. Chứng cứ về
các nước Châu Mỹ Latinh cũng như các nước khác trên thế giới dường như bảo vệ cho
ý kiến rằng: lạm phát cực kỳ cao là kết quả của tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao. Tuy nhiên
cũng lưu ý rằng ta đang nhìn vào một chứng cứ rút gọn, nó chỉ nhằm vào mối tương
quan giữa hai biến số: tăng trưởng tiền tệ và tỷ lệ lạm phát. Lạm phát gây nên tăng
trưởng cung tiền tệ hoặc một nhân tố thứ ba thúc đẩy cả tăng trưởng tiền tệ và lạm phát.
Ta có thể nhìn vào những giai đoạn lịch sử mà lúc đó mức tăng trưởng tiền tệ tăng
lên thể hiện là một sự kiện ngoại sinh, do vậy một tỷ lệ lạm phát cho một thời kỳ kéo
dài đi tiếp theo sau mức tăng của tăng trưởng tiền tệ sẽ cho ta biết tăng trưởng tiền tệ
cao là một động lực đằng sau lạm phát.
2. Siêu lạm phát của Đức 1921 - 1923:
Đức đã thất bại trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, kinh tế bị tàn phá nặng lề
với mức sản lượng thấp và nguồn thu thấp từ thuế, đã gia tăng thêm bởi những khoản
bồi thường mà Đức phải nộp cho các nước thắng trận. Lạm phát đã bùng ra ngay sau khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status