một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của tđkt ở việt nam trong thời gian tới - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước tiến quan trọng để tham gia
vào tiến trình toàn cầu hóa, tiến cùng thời đại tuy thách thức là rất lớn nhưng
cơ hội cũng rất nhiều. Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của
WTO được ví như một cuộc lội dòng ra biển cả. Do vậy chúng ta không chỉ
phải biết bơi mà còn phải bơi giỏi, bơi nhanh và bơi đúng hướng nếu không
sẽ bị nuốt chửng bởi những chú cá mập của đại dương.
Trước sức ép cạnh tranh ấy, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới một
cách toàn diện và sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực, cả về đổi mới cơ chế quản
lý, đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới quan hệ kinh tê đối ngoại và cải cách nền
hành chính quốc gia. Đặc biệt Đảng đã chỉ rõ: đất nước đang rất cần những
tập đoàn kinh tế mạnh để gữ vai trò chủ đạo, tạo đòn bẩy cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, hình thành các tập đoàn kinh tế đối với nước ta là một việc
làm hoàn toàn mới mẻ và việc hình thành phải tiến hành thế nào để vừa rút
ngắn được thời gian vừa không mang tính chủ quan duy ý chí vẫn là một câu
hỏi khó chưa có lời giải đáp. Vì vậy đòi hỏi phải có sự nghiên cứu thấu đáo
của cơ quan quản lý kinh tế và các nhà hoạch định chính sách.
Bài viết này xin trình bày một số hiểu biết và kiến nghị xung quanh vấn
đề hình thành, phát triển của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
1 Mục đích của đề tài.
Để làm sáng tỏ và rõ hơn những đề cơ bản nhất về mô hình tập đoàn kinh
tế. Đề tài này đánh giá một cách toàn diện về mô hình tổ chức, cơ chế hoạt
động của các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.Đề tài sẽ đưa ra một số gải pháp
cơ bản nhằm hình thành và phát triển các TĐKT ở VN hiện nay.
2. Phương pháp nghiên cứu.
1
- Dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩ Mac- Lenin.
- Bám sát chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới, xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đặc biệt là các văn
kiện đại hội Đảng.
- Đề tài sử dụng các biện pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các

và liên kết kinh tế quốc tế, lực lượng sản xuất đã có bước phát trỉen
mạnh mẽ, phân công lao động xã hội sâu rộng hơn, quy mô sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm mang tính xã hội hoá, toàn cầu hoá cao hơn. Do
đó, các tập đoàn kinh tế- một loại tổ chức kinh tế, một hình thức biểu
hiện của quan hệ sản xuất đã ra đời để đáp ứng yêu cầu và thúc đẩy sự
phát triển của lực lượng sản xuất.
- Quy luật tích tích tụ, tập trung vốn và sản phẩm: Trong cơ chế thị
trường, mỗi doanh nghiệp phải luôn cạnh tranh để phát triển. Vì vậy
cẩn phải không ngừng tái sản xuất mở rộng, tích tụ, tập trung vốn vào
sản xuất. Doanh nghiệp tích luỹ vốn thông qua lợi nhuận từ hoạt động
sản xuất kinh doanh đem lại từ việc đi vay, liên kết kinh doanh, phát
3
hành cổ phiếu, hoặc thông qua các doanh nghiệp mạnh thôn tính, sát
nhập các doanh nghiệp nhỏ hơn, nhờ đó vốn và năng lực sản xuất của
doanh nghiệp được nâng lên. Quá trình vận độgn khách quan này làm
ra đời và phát triển của các tập đoàn kinh tế.
- Quy luật cạnh tranh, liên kết và tối đa hoá lợi nhuận: Quá trình cạnh
tranh khốc liệt để giành ưu thế trên thị trường dẫn đến hai xu hướng:
(1)- các doanh nghiệp thất bại trong cạnh tranh sẽ bị sát nhập vào các
doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh, nhờ đó trình độ tập trung
hoá sản xuất và quy mô vốn của doanh nghiệp thành công được nâng
lên; (2)- nếu cuộc cạnh tranh bất phân thắng bại và kéo dài thì sẽ có
một số doanh nghiệp tự tìm đến sự liên kết với nhau để tăng sức cạnh
tranh , đồng thời thông qua đó tối đa hoá lợi nhuận của mình.
- Tiến bộ khoa học và công nghệ trong đó có khoa học quản lý: Sự phát
triển mạnh mẽ và nhanh chóng của khoa học công nghệ làm cho việc
nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trở thành
một trong những yếu tố quyết định để nâng cao khả năng cạnh tranh
và hiệu quả của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đổi mới công nghệ một
cách căn bản cần phải có nhiều vốn và một lực lượng cán bộ nghiên

3.1. Về quy mô.
Các tập đoàn có quy rất lớn về vốn , lao động & doanh thu.
Trong tập đoàn, vốn được tập trung từ nhiều nguồn khác nhau, được bảo
toàn và phát triển không ngừng, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn
cho tập đoàn. Các tập đoàn kinh tế trên thế giới có hai con đường cơ bản để
tạo vốn, đó là : Tự tạo vốn theo con đường hướng nội là chủ yếu bằng cánh
tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế mà nguồn vốn chủ yếu là vốn nhà nước,& tạo
5
vốn theo con đường hướng ngoại là thu hút đầu tư thông qua các dự án đầu
tư nước ngoài, liên doanh, liên kết, phát hành cổ phiếu và vốn vay nước
ngoài.Với số vốn lớn, tập đoàn có khả năng chi phối và cạnh tranh mạnh mẽ
trên thị trường. Nhờ ưu thế về vốn các tậ đoàn có khả năng mở rộng nhanh
chóng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động &
chất lượng sản phẩm Do đó đạt doanh thu lớn.
Lực lượng lao động trong tập đoàn không chỉ lớn về số lượng mà còn
mạnh về chất lượng, được tuyển chọn và đào tạo nghiêm ngặt (Các tập đoàn
kinh tế ở Mỹ có từ 34500-450000 lao động )
3.2. Về phạm vi.
Phạm vi hoạt động của tập đoàn rất rộng, không chỉ ở pham vi lãnh thổ một
quốc gia mà còn ở nhiều nước thậm chí trên toàn cầu. Thực hiện chiến lược
cạnh tranh, chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế, các tập đoàn đã mở
rộng phạm vi ảnh hưởng ra nhiều quốc gia, tăng cường hợp tác và liên kết
quốc tế, do đó các tập đoàn kinh tế đã có đến hàng trăm , hàng nghìn chi
nhánh trên thế giới.
3.3. Về ngành và lĩnh vực hoạt động.
Hầu hết các tập đoàn kinh tế đều hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực hoặc phát
triển dần dần từ đơn ngành lên đa ngành, có chiến lược sản phẩm và định
hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu thị trường, môi trường kinh
doanh và sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, mỗi tập đoàn đều có
ngành, lĩnh vực chủ đạo với những sản phẩm có thương hiệu dặc trưng của

đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và biến đổi
7
nhanh chóng nên khó đem lại hiệu quả cao khi chỉ liên kết với nhau thuần
tuý trong một ngành, lĩnh vực kinh doanh, nguồn vốn tập trung vào một
ngành sẽ đem lại rủi ro lớn, các chính phủ thường ngăn cấm hạn chế vì nó
tạo ra xu hướng độc quyền, đi ngược lại với nguyên tăc cơ bản của thị
trường.
+ Liên kết doanh nghiệp giữa các ngành trong cùng dây chuyền công nghệ-
liên kết dọc: Hình thức này hiện vẫn còn phổ biến trên thế giới vì chúng hoạt
động có hiệu quả cao và bành trướng hoạt động sản xuất kinh doanh sang
hầu hết các nước trên thế giới. Để hình thành tập đoàn kinh tế này cần phải
có một công ty đủ lớn và đủ uy tín để có thể quản lý và kiểm soát công ty
khác, có một ngân hàng đủ khả năng đảm bảo phần lớn tín dụng cho tập
đoàn, có mối liên hệ nhiều mặt và vững chắc với nhà nước, có thị trường
chúgn khoán phát triển mạnh mẽ, có hệ thống thông tin toàn cầu đủ khả
năng xử lý thông tin về thị trường, đầu tư .
+ Liên kếtcác doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, kể cả những
ngành nghề, lĩnh vực không liên quan gì đến nhau- liên kết hỗn hợp: Hình
thức này đang được ngày càng một ưa chuộng trên thế giới và trở thành xu
hướng phát triển các tập đoàn hiện nay. Cơ cấu tập đoàn bao gồm một ngân
hàng hoặc một công ty tài chính lớn và nhiều doanh nghiệp sản xuất, thương
mại, trong đó hoạt động tài chính ngân hàng xuyên suốt, bao trùm mọi hoạt
động kinh doanh của tập đoàn.
- Về trình độ liên kết: có những kiểu sau:
+ Liên kết “mềm” : Xuất phát từ Châu Âu. Đây là hình thức tập đoàn của
các doanh nghiệp độc lập, cùng sản xuất, knih doanh một loại sản phẩm
hoặc dịch vụ hiệp tác sản xuất- kinh doanh với nhau thông qua một Hiệp
định chung nhằm hạn chế cạnh tranh ( lũng đoạn thị trường) bằng việc
thống nhất về giá cả, phân chia thị trường, thống nhất về chuẩn mực. mẫu
8

thành viên đểu có tính pháp lý độc lập.
+ Syndicate: Là tổ chức thực hiện mối liên kết theo chiều ngang, thành
lập một tổ chức thương mại chung để đảm trách toàn bộ việc tiêu thụ sản
phẩm. Các công ty thành viên độc lạp về pháp lý nhưng không độc lập về
thương mại. Đây là lạo liên minh độc quyền cao hơn, ổn định hơn.
+ Trust: Là tổ chức độc quyền mang hình thức công ty cổ phần. Các
thành viên tham gia hoàn toàn mất tính độc lập, họ chỉ là những cổ đông
của công ty.
+ Cosortium: Là hình thức phổ biến hiện nay với mô hình công ty mẹ đầu
tư vào các công ty khác thành công ty con nhằm tạo thế lực tài chính
mạnh để kinh doanh. Việc đầu tư vào nhiều lĩnh vực nhằm hạn chế rủi ro,
đồng thời hỗ trợ mạnh mẽ trong nghiên cứu khoa học, ứng dụng công
nghệ mới, phương pháp quản lý hiện đại. Các công ty con là doanh
nghiệp thành viên hoạt động trên nhiều lĩnh vực sản phẩm nhưng có quan
hệ gần gũi về mặt công nghệ độc lập về pháp lý, chịu trách nhiệm hữu
hạn trên phần vốn kinh doanh, nhưng không được độc lập về mục tiêu
hoạt động nhằm thực thiện lợi ích chung giữa công ty mẹ và công ty con.
+ Conglomerate: Là tập đoàn kinh tế đa ngành, các công ty thành viên có
ít mối quan hệ hoặc không có mối quan hệ về công nghệ nhưng có quan
hệ chặt chẽ về tài chính. Tập đoàn này thực chất là một tổ chức tài chính
đầu tư vào các công ty kinh doanh để tạo ra một tổ hợp doanh nghiệp tài
chính- công nghiệp để hỗ trợ vốn đầu tư cho các công ty thành viên hoạt
động có hiệu quả.
+ Concern: Là một tổ chức tập đoàn kinh tế được áp dụng phổ biến hiện
nay ở nhiều nước dưới hình thức công ty mẹ đầu tư vào các công ty con
10
và điều hành hoạt động của tập đoàn. Mục tiêu thành lập tập đoàn là tạo
sức mạnh tài chính để phát triển kinh đoanh, hạn chế rủi ro, hỗ trợ mạnh
mẽ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới…Các công ty hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại, ngoại thương, dịch vụ có liên

dạng các công ty khống chế, nắm cổ phần chi phối với các công ty thành
viên. Tập đoàn kinh tế tiến hành hoạt động và quản lý tập trung vào một
số mặt như: huy động vốn, quản lý vốn, nghiên cứu triển khai, chiến lược
sản phẩm, chiến lược đầu tư… cho tập đoàn. Các chiến lược này được
soạn thảo từ các cơ quan đầu não của tập đoàn và thực hiện thống nhất
trong các công ty thành viên. Việc thực hiện chiến lược chung tổng quát
vừa tạo sự năng động, linh hoạt của các công ty thành viên trong việc lựa
hcọn chiến lược phát triển riêng cho mình và tự chủ trong sản xuất kinh
doanh.
Tập đoàn kinh tế được hình thành từ sự phát triển các quan hệ liên kết
kinh tế giữa các chủ thể kinh tế, trong đó quan trọng nhất là sự liên kết về
tài chính. Các tập đoàn kinh tế thông qua ngân hàng độc quyền hoặc các
công ty tài chính hoặc công ty mẹ thực hiện vai trò chủ đạo, chi phối và
kiểm soát các công ty thành viên. Tập đoàn còn quản lý tập trung cả lưọi
nhuận và trực tiếp điều hành dòng tiền luân chuyển của các công ty con.
Đối với các công ty con mà tập đoàn có góp vốn, tập đoàn thực hiện việc
bảo lãnh để các công ty này vay vốn ngân hàng. Điều này làm ràng buộc
quyền lợi và trách nhiệm giữa các thành viên trong tập đoàn.
Như vậy, tập đoàn kinh tế làm cả hai chức năng cơ bản là kinh doanh như
một doanh nghiệp và thực hiện liên kết kinh tế.
12
Cơ quan quyền lực của tập đoàn này bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, hội
đồng quản trị, hoặc hội đồng giám đốc, Ban giám đốc ở cả công ty mẹ,
công ty con cháu… Hội đồng quản trị do đại hội đồng cổ đông bầu, có
thể có các thành viên là người của chính phủ nếu chính phủ có vốn góp.
Các thành viên hội đồng quản trị không được huởng lương, chỉ được
hưởng phụ cấp. Hôi đồng quản trị có thể cử một hoặc nhiều thành viên
tham gia điều hành công ty, hoặc làm giám đốc điều hành., nếu cử theo
nhiệm kỳ thì nhiệm kỳ đó không quá 5 năm. Chủ tịch hội đồng quản trị
có thể kiêm Tổng Giám Đốc của công ty. Công ty mẹ cử cán bộ của mình

viên trong tập đoàn.
4.4. Trình độ phát triển khoa học công nghệ.
Trong những năm gần đây, thành quả của công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ sản xuất vật liệu mới, nguồn năng lượng mới, kỹ thuật
không gian, được áp dụng rộng rãi vào sản xuất đã nâng cao đáng kể năng
lực sản xuất của xã hội và trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy kinh tế phát
triển nhanh chóng. Nếu trước đây, trong xã hội công nghiệp, nguồn lực chủ
yếu là sức lao động, các nguồn nguyên liệu và nguồn năng lượng thì hiện
nay, nguồn lực chủ đạo để phát triển kinh tế là tri thức của con người. Động
lực thúc đẩy kinh tế nói chung, công nghiệp nói riêng phát triển là cuộc cách
mạng khoa học công nghệ. Sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ
làm cho hàm lượng khoa học công nghệ trong sản xuất ngày càng cao, tốc
độ chuyển hóa thàh những thành tựu của khoa học công nghệ thành sản
phẩm hàng hóa ngày càng nhanh, chu kỳ sản xuất hàng hóa ngày càng được
14
rút ngắn.Những yếu tố này là môi trường quan trọng tọ ra nhu cầu cần thiết
phải liên kết các doanh nghiệp riêng lẻ thành các tập đoàn kinh tế lớn.
4.5. Trình độ phát triển của thị trường.
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế dù theo hình thức nào cũng đều
phải xây dựng một nền tảng ban đầu là các nguồn vốn, lao động nền kinh tế
hàng hóa ngày càng phát triển sẽ tăng khả năng cạnh tranh ngày càng khốc
liệt.
Quá trình phát triển thị trường hiện nay đang được hình thành với sự tác
động tổng hợp của các quy luật trong sản xuất và lưu thông hàng hóa trên thị
trường. Những quy luật chủ yếu là quy luật giá trị, quy luật giá trị thặng dư,
quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ.Thông qua các quy luật có thể
điều tiết được hoạt động của các đơn vị kinh tế. Thị trường thế giới hiện nay
đang là một thị trường rất rộng lớn được hình thành qua nhiều giai đoạn bao
trùm lên tất cả nền kinh tế trên thế giới. Việc hình thành các tổ chức kinh tế
trên thế giới về chính trị thương mại tài chính đã tác động mạnh mẽ lên thị

Lý do mà mô hình TĐKT đạt được sự thống trị của nó là ở sự vượt trội
về sức mạnh bền vững, tính cạnh tranh và tính hiệu quả trong môi trường
cạnh tranh toàn cầu. Cụ thể là: TĐKT có khả năng tập trung, điều hoà vốn,
khắc phục sự hạn chế và thiếu vốn của từng đơn vị riêng biệt. Nó làm tăng
sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của cả tập đoàn cũng như từng đơn
vị thành viên trong tập đoàn. Bên cạnh đó, mối liên hệ chặt chẽ giữa các đơn
vị thành viên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống nhất phương hướng
chiến lược phát triển kinh doanh, đồng thời hạn chế sự cạnh tranh của các
tập đoàn khác. Tiềm lực kinh tế vững chắc cho phép TĐKT đẩy mạnh hoạt
16
động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng kỹ thuật công nghệ mới vào sản xuất
kinh doanh của các đơn vị thành viên.
II. Một số mô hình quản ký của các TĐKT trên thế giới.
1. Mô hình của Mỹ
Mô hình của Mỹ là mô hình thống nhất ngang, có những đặc trưng sau:
- Có hội đồng giám đốc bao gồm nhiều giám đốc phụ trách theo các tiêu thức
khác nhau về khách hàng, khu vực, bộ phận, …
- Chú trọng lợi ích của chủ đầu tư và người lao động.
- Thực hiện theo nguyên tắc giám đốc, mức độ luật định thấp.
- Về yếu tố chính phủ: duy trì môI trường ổn định để các thị trường tự do
hoạt động, tuy nhiên tự do trong khuôn khổ.
- Công đoàn tham gia tự nguyện nhưng yếu.
- Về quyền cổ đông: Sở hữu rộng rãi và việc chi trả cổ tức cá nhân được ưu
tiên hàng đầu khi công ty phá sản.
- Về quyền người lao động: Bị hạn chế, hầu như không được tham gia vào
công việc điều hành công ty.
- Về thị trường chứng khoán: đóng vai trò rất lớn trong việc cấp vốn và giám
sát hoạt động của công ty.
- Về vai trò của ngân hàng: bị hạn chế trong việc sở hữu và kiểm soát công
ty.

nguyên tắc cốt lõi của nền kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh, phát triển sở hữu
tư nhân gắn với lợi ích cá nhân, sự diều tiết và quản lý nhà nước linh hoạt có chủ
đích trong một số ngành nghề nhất định. Thực tế các tập đoàn phát triển không
theo một mô hình, thể chế cứng nhắc hoặc khuôn mẫu nào mà nó thay đổi linh
hoạt dựa trên nhu cầu phát triển của tập đoàn trong từng giai đoạn.
1.1. Những bài học kinh nghiệm của các TĐKT trên thế giới
1.4.1. Con đường hình thành
18
Hình thành tập đoàn kinh doanh là kết quả tất yếu của quá trình tích tụ và
tập trung sản xuất, vốn kinh doanh. Nguồn vốn tự tích luỹ đóng vai trò cơ bản
trong việc hình thành các tập đoàn kinh doanh. ở các nước tư bản phát triển quá
trình thành lập các tập đoàn là quá trình tập trung sản xuất, tập trung vốn. Quá
trình này diễn ra theo các phương thức khác nhau bằng con đường thôn tính thông
qua việc mua lại các công ty nhỏ yếu hơn biến chúng thành một bộ phận không thể
tách rời của công ty mẹ hay theo con đường tự nguyện sát nhập với nhau để hình
thành những công ty lớn hơn. Trong khi đó ở các nước công nghiệp hoá đi sau,
các tập đoàn được hình thành và phát triển chủ yếu bằng tích tụ và liên doanh
nhằm tăng vốn, khả năng sản xuất, khả năng chuyển giao công nghệ nước ngoài và
khả năng cạnh tranh. Dù hình thành bằng cách nào thì tập đoàn cũng được hình
thành chủ yếu từ nguồn vốn tự tích luỹ từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản
thân các công ty.
Các tập đoàn kinh tế của Nhật Bản chủ yếu khởi đầu từ lĩnh vực thương
mại hoặc ngoại thương các tập đoàn này thường chuyên môn hoá trong các hoạt
động thương mại với một số sản phẩm nhất định. Qua quá trình hoạt động, phát
triển, quy mô và cơ cấu kinh doanh dần được mở rộng, đa dạng hoá các loại hình
kinh doanh
Đối với Mỹ và một số nước Châu Âu, các tập đoàn lại bắt đầu từ các hoạt
động sản xuất. Thông qua kết quả của các hoạt động sản xuất mở rộng hoạt động
sang các lĩnh vực khác như thương mại, vận tải, bảo hiểm, ngân hàng Có sự
khác biệt này là do những nét đặc thù của môi trường kinh doanh ở mỗi nước quy

thức được ưa chuộng vì nó đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất đồng thời phản ánh
được lợi ích của nhiều bên tham gia trong tập đoàn (ở Châu Âu)
• Theo tính chất ngành nghề
Các tập đoàn liên kết những công ty trong cùng một ngành nhưng hình thức
này hiện nay không còn phổ biến.
20
Loại hình tập đoàn theo liên kết dọc giữa các ngành trong cùng một dây
truyền công nghệ vẫn còn là phổ biến trong giai đoạn hiện nay. Các tập đoàn này
hoạt động có hiệu quả cao và bành trướng hoạt động sản xuất kinh doanh sang hầu
hết các nước trên thế giới.
Để thành lập một tập đoàn kiểu này cần phải:
Có được một công ty đủ lớn, có uy tín để quản lý và kiểm soát các công ty
khác, đồng thời có thể đảm bảo kiểm tra tài chính và sự lệ thuộc của các công ty
thành viên.
Có được một ngân hàng có quy mô và khả năng cần thiết để có thể đảm bảo
phần lớn tín dụng cho tập đoàn.
Có những mối liên hệ nhiều mặt với nhà nước.
Một trong những điều kiện hết sức quan trọng để thành lập và phát triển
loại hình tập đoàn này là cần phải có thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ
hệ thống thông tin toàn cầu Ngày nay một TĐKT mạnh thường có cơ cấu sản
xuất kinh doanh trong tất cả các ngành nghề và mô hình đang được ưa chuộng và
trở thành xu hướng chính hiện nay có cơ cấu gồm một ngân hàng, một công ty
thương mại, và các công ty sản xuất công nghiệp.
1.4.4. Vai trò của Nhà nước
Nhà nước có vai trò cực kỳ to lớn với sự tồn tại, phát triển của các TĐKT,
thể hiện qua việc tạo dựng, duy trì và thúc đẩy môi trường kinh tế xã hội cần thiết
cho các tập đoàn hoạt động. Vai trò của nhà nước được thể hiện trên các mặt sau:
- Nhà nước duy trì trật tự, ổn định xã hội
- Nhà nước xây dựng môi trường pháp luật đảm bảo cạnh tranh bình
đẳng, khuyến khích các tập đoàn phát triển nhưng cũng đảm bảo môi trường bình

- Các DN sản xuất kinh doanh độc lập, các đơn vị nghiên cứu triển khai, đơn
vị dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế liên kết lại với nhau thành lập TĐKT để
22
thực hiện một chiến lược kinh doanh thống nhất, tích tụ, tập trung vốn, tạo thế
cạnh tranh mạnh nhằm tạo ra hiệu quả cao hơn.
Các DNNN có tiềm lực kinh tế mạnh được trang bị kĩ thuật, công nghệ hiện
đại, công nghệ quản lý tiên tiến đầu tư vào các DN khác (như thông qua mua cổ
phần ) và biến các DN này thành các công ty con của mình.
Như vậy, việc thành lập TĐKT cho dù bằng cách nào thì cũng cần phải có
một môi trường vĩ mô thông thoáng, hệ thống luật lệ đồng bộ và hoàn chỉnh có thể
mới tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế thông qua đó thúc
đẩy sự phát triển của các TĐKT.
2.1.2. Loại hình TĐKT Việt Nam
Mô hình ĐTKT ở Việt Nam sẽ có những điểm cơ bản giống với ĐTKT
trên thế giới: quy mô lớn, kinh doanh đa ngành nghề trong đó có ngành nghề kinh
doanh chủ đạo và cơ cấu sở hữu, cơ cấu tổ chức tương tự. Nhưng trong bối cảnh
kinh tế – chính trị – xã hội ở nước ta thì TĐKT cũng có điểm khác biệt. Do vậy,
TĐKT ở Việt Nam có các hình thức sau:
+ Về sở hữu có:
- TĐKT sở hữu hỗn hợp (đa sở hữu) gồm có DNNN, các CTy TNHH, CTy
CP và các đơn vị thành viên có thể là đơn vị hạnh toán độc lập, phụ thuộc, đơn vị
sự nghiệp.
- TĐKT có một sở hữu là TĐKT gồn các DNNN hoặc TĐKT nhà nước.
+ Về ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh:
Có TĐKT đa ngành, đa lĩnh vực, sản phẩm nhưng trong đó có một ngành,
một lĩnh vực chuyên môn hoá giữ vị trí then chốt và có TĐKT chuyên ngành.
+ Về liên kết kinh tế:
- TĐKT được hình thành dựa trên các liên kết theo chiều dọc tức là những
tập đoàn được tập hợp trên cơ sở hợp nhất những công ty, xí nghiệp có liên hệ với
nhau bởi quy trình công nghệ thống nhất từ khâu khai thác nguyên liệu, chế biến

Cơ cấu tổ chức của TĐKT gồm có: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Bộ
máy điều hành, Giám đốc và các đơn vị thành viên.
24
• Cơ chế quản lý của TĐ chủ yếu được xây dựng trên mối quan hệ liên kết
theo kiểu “công ty mẹ – công ty con” và các quan hệ hợp đồng kinh tế . Công ty
mẹ là một DN giữ vai trò trung tâm, đầu tư vốn vào các công ty con theo nhiều
cấp độ, chi phối các công ty con tuỳ theo tỉ lệ vốn đầu tư vào công ty con. Mối
quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con là mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít thể
hiện trên các mặt: Quan hệ về tổ chức; quan hệ về vốn và tài sản; quan hệ về kinh
tế, tài chính; quan hệ về kế hoạch hoá đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật; và quan hệ về
tổ chức nhân sự.
Mối quan hệ giữa các thành viên trong TĐ chủ yếu là mối quan hệ về lợi
ích kinh tế được điều khiển bằng các hợp đồng, thoả thuận kinh tế.
Ngoài ra, trong mô hình tổ chức các TĐKT ở Việt Nam thì nhà nước cũng
giữ một vai trò hết sức quan trọng.
- Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của
TĐ mà chỉ điều tiết hoạt động của tập đoàn thông qua các chính sách, đòn bẩy
kinh tế.
- Quan hệ giữa các bộ với TĐKT là quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước
về ngành, lĩnh vực đối với các tổ chức kinh doanh trong ngành, lĩnh vực đó. Các
bộ đề ra chiến lược và kế hoạch phát triển ngành, định mức kinh tế kĩ thuật, chính
sách, chế độ chung thống nhất cho mọi DN kinh doanh trong ngành, thực hiện
sự kiểm tra giám sát hoạt động của DN theo pháp luật.
- Nhà nước quản lý phần vốn của mình trong các TĐKT thông qua đại diện
chủ sở hữu nhà nước trong hội đồng quản trị của tập đoàn.
2.2. Thực trạng Tập đoàn kinh tế Việt Nam trong thời gian qua
Hiện có 8 tổng công ty nhà nước đã được phê duyệt đề án thí điểm công ty
mẹ, công ty con như bưu chính viễn thông, than- khoáng sản, dầu khí, điện lực,
công nghiệp tàu thuỷ, dệt may, cao su, tài chính – bảo hiểm. Đó có thể coi là các
mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước đang có ở nước ta. Ngoài ra, cũng có nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status