Chuyên đề tốt nghiệp “Vận dụng các chính sách marketing trong kinh doanh du lịch lữ hành ở Chi nhánh công ty du lịch và dịch vụ hồng gai lao động tại Hà Nội” - Pdf 95

Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng Đề tài: “Vận dụng các chính sách marketing trong kinh
doanh du lịch lữ hành ở Chi nhánh công ty du lịch và
dịch vụ hồng gai lao động tại Hà Nội”

Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng

LỜI NÓI ĐẦU

Hoạt động kinh doanh là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của các
Ngân hàng thương mại (NHTM). Nó có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của bản thân mỗi NHTM. Trong đó nghiệp vụ tín dụng là nghiệp
vụ quan trọng và chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ tài sản có của Ngân hàng.
Để thực hiện tốt nghiệp vụ tín dụng phải giải quyết được một loạt các vấn đề
về kỹ thuật nghiệp vụ, trong đó có nghiệp vụ "Kế toán cho vay" nhằm phục
vụ cho việc hạch toán quá trình cho vay, theo dõi thu nợ và thu lãi để đảm bảo
an toàn tài sản cho Ngân hàng và cho khách hàng.
Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam-Techcombank khi phải đối mặt
trực tiếp với thị trờng đặc biệt là thị trờng Hà Nội- nơi có môi trờng Ngân
hàng cạnh tranh sôi động bậc nhất cả nớc. Với chiều dài lịch sử không lớn và
với những bớc đi ban đầu Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam đã gặt hái

từng nội dung mà đề tài đặt ra. Em xác lập các phơng pháp thích hợp như:
duy vật biện chứng- lịch sử, phân tích tổng hợp, phân tích tác nghiệp, so sánh,
đối chiếu, kết hợp lý luận với thực tiễn, qua đó rút ra những tồn tại thiếu sót
cần khắc phục và hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán cho vay tại Ngân hàng
TMCP Kỹ thương Việt Nam.
* Bố cục của chuyên đề.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
- Chương I: Cơ sở lý luận về kế toán cho vay
- Chương II: Thực trạng kế toán cho vay tại Ngân hàng TMCP Kỹ
Thương Việt Nam
- Chương III: Một số kiến nghị và giải pháp Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHO VAY

I.1. Một vài nét về NHTM và hoạt động tín dụng Ngân hàng.
I.1.1. Một vài nét về NHTM.
Theo Điều 20 của Luật tổ chức tín dụng Việt Nam được quốc hội thông
qua tháng 12/1997 có nêu định nghĩa " Ngân hàng Thương mại là loại hình tổ
chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động
khác có liên quan như hoạt động tiền gửi, cho vay, thanh toán và các dịch vụ
bảo lãnh…".
NHTM ra đời và phát triển nó thực hiện những chức năng cơ bản sau:
- Chức năng thủ quỹ và trung gian thanh toán: Chức năng thủ quỹ là chức
năng đầu tiên củaNHTM, gắn liền với sự ra đời của NHTM và làm cơ sở cho
Ngân hàng thực hiện các chức năng tín dụng, thanh toán và các dịch vụ khác.
- Chức năng trung gian tín dụng: Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất

cho việc quản lý và điều hành hoạt động tín dụng của Ngân hàng".
Ngân hàng cũng như bất kỳ một doanh nghiệp nào khác hoạt động sản
xuất kinh doanh trên thị trường, vấn đề lợi nhuận mang tính chất sống còn. ở
đó kế toán là nơi phản ánh tất cả các số liệu liên quan đến hoạt động của Ngân
hàng. Để điều hành hoạt động kinh doanh Ngân hàng mang lại hiệu quả cao
đòi hỏi người quản lý phải nhận thức được vai trò của thông tin kế toán. Cụ
thể:
Hạch toán kế toán cung cấp cho các nhà Ngân hàng biết được tình hình
kinh tế, tài chính, sự biến động trong quá trình sử dụng vốn, huy động vốn,
phản ánh và giám sát một cách liên tục, toàn diện và có hệ thống các loại tài
khoản phản ánh nguồn vốn và việc sử dụng vốn trong Ngân hàng. Từ thông
tin mà kế toán Ngân hàng cung cấp giúp cho người quản lý đề ra những quyết
định điều hành kịp thời, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh
doanh. Trên cơ sở đó đề ra các mục tiêu, chiến lược phát triển.
Muốn hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, nhà lãnh đạo Ngân hàng
cần phải nắm bắt nhanh nhạy, chính xác các thông tin kế toán để từ đó biết
được thực trạng và triển vọng phát triển, khả năng trả nợ, khả năng sinh lời
trước khi quyết định bỏ ra một khoản vốn đầu tư nào đó. Giúp các nhà hoạch
định chính sách nghiên cứu đưa ra các luật định phù hợp với từng giai đoạn
phát triển của nền kinh tế của từng loại hình kinh tế, để từ đó thiết lập nên các
mối quan hệ hợp tác, tín dụng và quan hệ thanh toán.
Khác với các ngành kinh tế khác, kế toán Ngân hàng có một số lượng
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
chứng từ rất lớn, rất đa dạng đáp ứng nhu cầu của các mối quan hệ trong nền
kinh tế thị trường. Để làm được điều này đòi hỏi Ngân hàng phải có những
thể thức thanh toán phù hợp, phải tổ chức quy trình luân chuyển chứng từ sao
cho có khoa học, thuận tiện, nhanh chóng, đảm bảo an toàn tài sản.
Để phát huy vai trò của mình, kế toán Ngân hàng có các nhiệm vụ sau:
Sự ghi chép phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời mọi nghiệp vụ kinh tế phát

giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện triển khai áp dụng mức lãi suất mà Ngân
hàng Nhà nước đưa ra điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế chủ động
về vônd phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Việc thực hiện tốt công
tác Kế toán cho vay làm tham mưu đắc lực cho công tác tín dụng để tín dụng
thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế cũng như giám đốc bằng tiền với toàn bộ
hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của Kế toán cho vay, việc tổ chức bộ
máy Kế toán trong mỗi Ngân hàng đều thực sự cần thiết, ở đó việc hạch toán
Kế toán phải phù hợp với từng phương thức cho vay, loại cho vay, thời hạn
cho vay nhằm mục đích mang lại lợi nhuận cao nhất cho Ngân hàng, bên cạnh
đó đảm bảo an toàn tài sản cho Ngân hàng hay hạn chế thấp nhất rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình hạch toán Kế toán tiền vay.
Để phát huy được vai trò của mình, Kế toán cho vay phải thực hiện tốt
các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, kiểm tra và xác định tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ Kế
toán cho vay để đảm bảo khoản cho vay có khả năng thu hồi ngay từ khâu
phát tiền vay.
Thứ hai, ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh về cấp tín dụng, về nghiệp vụ đầu tư, về quá trình
thu hồi vốn gốc và lãi.
Thứ ba, giám đốc, theo dõi chặt chẽ các khoản mục tín dụng, đầu tư đã thực
hiện thông qua việc kiểm soát và quản lý hồ sơ về cho vay trên cơ sở bảo vệ
an toàn tài sản góp phần nâng cao hiệu quả, mở rộng hoạt động tín dụng toàn
đơn vị cũng như toàn hệ thống.
Thứ tư, tổng hợp thông tin về hoạt động tín dụng để cung cấp cho lãnh đạo
và làm tham mưu cho hoạt động nghiệp vụ cũng như chỉ đạo thực hiện chính
sách kinh tế vĩ mô.
Như vậy, Kế toán cho vay là một công cụ gián tiếp tạo cho Ngân hàng
những nguồn thu nhập trên cơ sở đó Ngân hàng thực hiện chức năng kinh
doanh và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Với vai trò quan trọng như vậy, hệ

trên cơ sở hạch toán chi tiết.
Các chứng từ kế toán cho vay phải có đầy đủ tính pháp lý xác định quyền
chủ thể cho vay của ngân hàng đối với khách hàng, chỉ rõ những người nhận
nợ và cam kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.
I.3.1.1 Nguyên tắc lập chứng từ kế toán cho vay
Để chứng từ kết toán cho vay phản ánh được chính xác sự biến động của
hoạt động cho vay thì phải đảm bảo được các nguyên tắc lập chứng từ sau:
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
- Lập chứng từ được tiến hành ngay khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh (kể
cả chứng từ do khách hàng lập hay chứng từ do nội bộ Ngân hàng lập). Có
như vậy thì kế toán cho vay mới có căn cứ để phân loại, ghi sổ từng loại hình
cho vay, thời hạn vay, là căn cứ để ghi sổ và tổng hợp kế toán một cách kịp
thời.
- Chứng từ dùng trong hạch toán kế toán là hệ thống bản chứng từ do Ngân
hàng quy định, thống nhất in ấn và phát hành. Các yếu tố của chứng từ khi lập
phải ghi đầy đủ, không bỏ trống. Các chứng từ có nhiều liên thì phải kịp lồng
một lần cho nhiều liên để đảm bảo sự khớp đúng giữa các liên, trong đó một
liên là bản chính từ liên 2 trở đi là bản sao. Để đảm bảo tính pháp lý của
chứng từ, không tẩy xoá, sửa chữa, dán giấy đè lên chỗ sai. Nếu sai thì áp
dụng cách sửa sai xóa bỏ trực tiếp chỗ sai hoặc lập chứng từ khác để thay thế.
Các giấy tờ có giá trị cao như séc thì phải huỷ bỏ chứng từ sai và lập chứng từ
khác thay thế.
- Trên bản chính (liên1) các bản chứng từ do khách hàng lập và nộp vào
Ngân hàng (trừ giấy nộp tiền, bảng kê nộp séc) phải có chữ ký của chủ tài
khoản, kế toán trưởng và đóng dấu đơn vị, chữ ký và mẫu dấu phải được đăng
ký trước tại Ngân hàng nơi khách hàng giao dịch.
Các nhân viên Ngân hàng, khi tiến hành nhiệm vụ của mình, tuỳ theo chức
trách nhiệm vụ khi kiểm soát xử lý chứng từ phải ký tên trên chứng từ, mẫu
chữ ký phải đăng ký trước tại kế toán trưởng hoặc nhân viên kiểm soát. Ngoài

Thứ hai, hoàn thành giai đoạn một với bộ hồ sơ hợp lệ, kế toán căn cứ vào
hợp đồng tín dụng và các giấy nhận nợ được giám đốc Ngân hàng đồng ý cho
vay, kế toán sẽ hướng dẫn cho khách hàng lập các chứng từ thanh toán để
nhận tiền vay. Khi giải ngân kế toán, phải giám sát tính chặt chẽ của chứng từ
và của đối tượng nhận tiền vay đảm bảo tiền lãi vay được phát ra đúng mục
đích và không vượt mức tiền đã được giám đốc Ngân hàng duyệt cho vay.
Khi giải ngân song giấy tờ đó sẽ được lưu vào hồ sơ vay vốn của khách
hàng để theo dõi thu nợ, lãi.
Sau khi giải ngân, kế toán vào sổ quỹ, thủ quỹ chuyển chứng từ cho kiểm
soát.
Kiểm soát tiến hành kiểm soát lại, sau đó chuyển chứng từ sang cho bộ
phận nhật ký chứng từ.
Sau khi hoàn thành tập nhật ký chứng từ theo thứ tự tài khoản cho vay từ
nhỏ đến lớn, trong đơn vị vay thì xếp theo từng kỳ hạn trả thì tập nhật ký
chứng từ sẽ được đánh số và đưa vào nơi bảo quản theo quy định.
Trong quy trình lập và luân chuyển có nhiều nguyên nhân khiến cho chứng
từ thiếu chính xác: có thể do sơ xuất, có thể do thiếu sự hiểu biết về kỹ thuật
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
lập chứng từ, hoặc do cố ý để tham ô tài sản Nhà nước. Từ đó vấn đề đặt ra là
phải kiểm soát chứng từ để đảm bảo tính đúng đắn của chứng từ trước khi cho
phép nghiệp vụ kinh tế phát sinh được hoàn thành tại các đơn vị hạch toán.
I.3.1.3. Tổ chức kiểm soát và lưu trữ chứng từ.
Trong kế toán cho vay gồm hai khâu kiểm soát, đầu tiên là khâu kiểm soát
của nhân viên xử lý nghiệp vụ, bao gồm kiểm soát của thanh toán viên (hay
nhân viên quản lý tài khoản), các nhân viên tín dụng, thủ quỹ. Nội dung kiểm
soát bao gồm kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ như: mẫu mực
chứng từ, các yếu tố ghi trên chứng từ, mẫu dấu, chữ ký của chủ tài khoản, số
hiệu tài khoản, ghi Nợ, ghi Có; số dư tài khoản, nội dung nghiệp vụ kinh tế
phát sinh. Thứ hai, là khâu kiểm soát của kiểm soát viên hoặc kế toán trưởng,

Tài khoản cho vay thuộc nhóm 2 (20, 21, 22, 23) và có kết cấu:
Bên nợ: Ghi số tiền Ngân hàng cho khách hàng vay và được gia
hạn nợ
Bên có: Ghi số tiền thu nợ từ khách hàng
Ghi số tiền chuyển sang nợ quá hạn (nếu có)
Dư nợ: Phản ánh số tiền khách hàng còn nợ NH và được gia hạn nợ
đến một thời điểm.
Trong quan hệ tín dụng giữa người vay và Ngân hàng không phải bao giờ
người vay cũng trả nợ Ngân hàng đúng hạn. Trường hợp đến hạn trả mà người
vay không đủ khả năng trả nợ và cũng không được Ngân hàng gia hạn thì số
nợ đó phải chuyển sang tài khoản nợ quá hạn để theo dõi thu hồi với mức lãi
suất cao hơn mức lãi suất cho vay bình thường.
Kết cấu của tài khoản nợ quá hạn:
Bên Nợ: Ghi số tiền chuyển nợ quá hạn (từ TK cho vay chuyển sang)
Bên Có: Ghi số tiền thu nợ quá hạn
Ghi số tiền được điều chỉnh lại kỳ hạn (chuyển sang TK cho
vay)
Dư Nợ: Phản ánh số nợ quá hạn chưa hoàn trả.
Đi liền với hệ thống tài khoản cho vay là một loạt các TK liên quan khác
như: Tài khoản lãi cộng dồn dư thu, dự trả
Tài khoản dự phòng phải thu hồi khó đòi
Tài khoản ngoại bảng (dùng để phản ánh tình hình nhập, xuất tài
sản thế chấp, cầm cố). Phản ánh tiền lãi cho vay chưa thu hồi được TK nợ khó
đòi.
I.3.3. Quy trình kế toán cho vay.
Có hai phương pháp tính lãi cùng song song tồn tại ( phương pháp tính lãi
theo món và tính lãi theo tích số), mỗi tổ chức tín dụng phải căn cứ vào chế
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
độ cho vay của NHN

trên.
Thời gian tính nợ quá hạn kể từ ngày tiếp ngay sau ngày đến kỳ hạn trả,
ngày đến kỳ hạn trả nhưng không trả được Nợ trong hạn (có phân kỳ trả nợ).

Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
I.3.3.1. Hạch toán kế toán giai đoạn cho vay.
Việc hạch toán tiền vay được thực hiện theo những kỹ thuật khác nhau tuỳ
theo từng phương thức cho vay.
Ở giai đoạn cho vay, khi mà người vay đã làm đơn xin vay gửi tới Ngân
hàng và được Ngân hàng xem xét quyết định việc cho vay. Khi khoản vay
được giám đốc Ngân hàng chấp nhận ký duyệt thì người vay sẽ phải lập kế
ước vay tiền hoặc hợp đồng tín dụng. Sau đó, bộ phận tín dụng sẽ chuyển hồ
sơ cho bộ phận kế toán thực hiện hạch toán cho vay. Bộ phận kế toán kiểm
soát lại và hướng dẫn khách hàng lập các chứng từ kế toán nhận tiền vay theo
quy định. Khách hàng phải lập 3 liên giấy nhận nợ vay tiền (nhân viên kế toán
không được lập hộ khách hàng) và phải ghi đầy đủ các yếu tố trên mẫu in sẵn
đảm bảo tính chất pháp lý của chứng từ cho vay. Điều này có một chút khác
biệt ở phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thì khách hàng chỉ phải ký
kết hợp đồng tín dụng lần đầu, còn những lần giải ngân tiếp theo khách hàng
không phải làm đơn mà chỉ nộp chứng từ thanh toán hợp lệ, hợp pháp như:
séc lĩnh tiền mặt, uỷ nhiệm chi, kèm theo giấy nhận nợ tiền vay, các chứng từ
xin vay phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng… để
nhận tiền vay.
Như vậy, sau khi người vay hoàn thành các thủ tục giấy tờ xin vay theo
đúng quy định, kế toán cho vay căn cứ vào các chứng từ để hạch toán:
Nợ: TK cho vay khách hàng
Có: TK tiền mặt (nếu cho vay bằng tiền mặt)
TK tiền gửi của người thụ hưởng (cho vay bằng chuyển khoản)
TK thanh toán bù trừ, liên hàng (nếu thanh toán khác Ngân hàng).

Nợ: TK tiền mặt tại quỹ
TK tiền gửi của khách hàng (thanh toán cùng Ngân hàng)
TK thanh toán qua lại giữa các Ngân hàng (nếu thanh toán khác
Ngân hàng)
Có: TK cho vay
- Kế toán thu lãi: đến hạn trả lãi người vay phải nộp tiền hoặc trích tài
khoản tiền gửi để trả, việc trả lãi có thể trả riêng hoặc kết hợp với trả gốc.
Nợ: TK thích hợp (tiền mặt hoặc tiền gửi khách hàng)
Có: TK lãi cộng dồn dự thu.
Còn khi áp dụng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng thì quá trình
cho vay, thu nợ thực hiện xen kẽ nhau vì vậy Ngân hàng sẽ áp dụng cách tính
thu lãi theo phương pháp tích số dư nợ hàng tháng.
Căn cứ số lãi, hạch toán:
Nợ: TK thích hợp
Có: TK thu lãi cho vay.
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
I.3.3.3. Hạch toán kế toán gia hạn nợ và chuyển nợ quá hạn.
Khi đến hạn trả nợ vì những lý do khách quan khách hàng không thực hiện
được nghĩa vụ của mình thì khách hàng phải làm đơn xin gia hạn nợ để Ngân
hàng xem xét, và Ngân hàng cũng chỉ được gia hạn trong phạm vi chế độ tín
dụng quy định và không vượt quá thời hạn món cho vay để khuyến khích
khách hàng có trách nhiệm trả nợ. Khi khoản vay đó không được Ngân hàng
gia hạn nợ thì kế toán cho vay làm thủ tục chuyển nợ quá hạn và hạch toán:
Nợ: TK thu nhập
Có: TK lãi cộng dồn dự thu.
Đồng thời ghi nhập TK ngoại bảng "941- Lãi chưa thu".
Chỉ khi nào khách hàng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân
hàng thì Ngân hàng mới xuất tài sản thế chấp trả cho khách hàng.
Khi chuyển nợ quá hạn thì từ thời điểm đó kế toán tính thu lãi theo mức lãi

Nguồn dự phòng đã được trích được sử dụng để xử lý rủi ro trong các
trường hợp cụ thể theo quy định của Hội đồng quản trị. Quy định cũng chỉ rõ
mọi khoản tiền thu hồi được từ những khoản rủi ro đã được xử lý bằng nguồn
dự phòng sau khi trừ chi phí hợp lý (nếu có) sẽ được hạch toán vào thu nhập
của Ngân hàng.
Việc thống kê lại những cơ sở lý luận cơ bản về kế toán cho vay giúp ta
nắm chắc những kiến thức cần thiết về hạch toán kế toán tiền vay, nhận thấy
những điểm đã đạt được, sự thích ứng của hệ thống kế toán Việt nam với
chuẩn mực kế toán quốc tế, nó là cơ sở để đánh giá một cách đúng đắn các chỉ
tiêu an toàn, hiệu quả của một ngân hàng thông qua số liệu kễ toán.
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHO VAY TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM

II.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Kỹ
thương Việt Nam
Được thành lập vào ngày 27 tháng 09 năm 1993, Ngân hàng thương mại
cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Techcombank là một trong những ngân hàng
thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam được thành lập trong bối cảnh đất
nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng
và trụ sở chính ban đầu được đặt tại số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà
Nội.
Trải qua 14 năm hoạt động, đến nay Techcombank đã khẳng định được
thương hiệu là một trong những Ngân hàng Thương mại Cổ phần hàng đầu
của Việt Nam, với số vốn điều lệ lên tới 1.500 tỷ VNĐ, hệ thống mạng lưới
chi nhánh rộng khắp trong cả nước, cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng
hiện đại.
II.1.1. Một số hoạt động cơ bản của Ngân hàng Techcombank

45,19 51,97

Về nguồn vốn:
31/12/2006, tổng nguồn vốn kinh doanh tại chi nhánh đã đạt trên 14 tỷ
VNĐ, tăng 37% so với cùng kì năm 2005.
Tổng doanh thu năm 2006 cũng tăng 83 % so với thời điểm 31/12/2005
về giá trị doanh thu tăng 700 tỷ đồng.
Dư nợ tín dụng đạt 5.380 tỷ đồng tăng 55% so với cuối năm 2005. Chất
lượng tín dụng của Techcombank được duy trì và kiểm soát chặt chẽ, lượng
dự phòng rủi ro tín dụng cũng được kiểm soát thường xuyên, đảm bảo an toàn
cho hoạt động của ngân hàng. Với sự trợ giúp của công nghệ, năng suất lao
động trong thời gian qua cũng được cải thiện, quy trình cung ứng các sản
phẩm mới được triển khai và hoàn thiện, các cân đối lớn của ngân hàng như
huy động, cho vay, cơ cấu dư nợ được quản lý tốt hơn.
II.2 Thực trạng công tác kế toán cho vay tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương
Việt Nam-Techcombank
Quá trình đổi mới từ cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước bằng pháp luật trong những năm
qua đã đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới hệ thống công cụ quản lí, trong
đó kế toán là một công cụ quan trọng nó có vai trò tích cực đối với quản trị
nguồn vốn, sử dụng vốn và việc điều hành hoạt động kinh doanh tiền tệ của
từng Ngân hàng thương mại, là nguồn số liệu đáng tin cậy để Ngân hàng nhà
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
nước điều hành chính sách tiền tệ, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các
Ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, việc đổi mới và hoàn thiện công tác kế
toán Ngân hàng để thích nghi yêu cầu và nội dung của quá trình đổi mới cơ
chế quản trị Ngân hàng là một vấn đề thực sự bức xúc và cần thiết.
Việc áp dụng chính thức hệ thống kế toán mới trong tất cả các tổ chức
tín dụng ở Việt Nam từ cuối năm 1998 là bằng chứng khẳng định tầm quan

định hay không, điều đó phụ thuộc rất lớn vào quyết định thẩm định của cán
bộ tín dụng. Công việc tiếp theo mà kế toán cho vay tiếp nhận từ cán bộ tín
dụng là quản lí hồ sơ, theo dõi phần thu nợ, thu lãi sau khi đã giải ngân từ
đó có thông tin phản hồi về tình trạng chấp hành kỉ luật tài chính của khách
hàng đối với Ngân hàng, chuyển lại cho cán bộ tín dụng để cán bộ tín dụng
tiến hành đôn đốc thu nợ, thu lãi hoặc có những quyết định quan trọng khác:
gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn hoặc ngừng phát tiền vay. Vậy trong quá trình
tiếp nhận hồ sơ kế toán cho vay phải làm gì?
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn, sẽ tiến hành làm đơn xin vay vốn
kèm theo các hợp đồng kinh tế liên quan đến món vay và phương án trả nợ
cùng một số tài liệu khác như Báo cáo Kết quả kinh doanh Cán bộ tín dụng
sau khi tiếp nhận hồ sơ sẽ tiến hành thẩm định tính chính xác và khả thi của
hồ sơ xin vay, ghi rõ ý kiến vào tờ trình và trình lên cấp trên. Sau khi thấy
điều kiện vay vốn của khách hàng là khả thi, trưởng phòng tín dụng và cán bộ
tín dụng ghi rõ ý kiến thẩm định vào báo cáo trình Tổng giám đốc quyết định.
Giám đốc Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam-Techcombank căn cứ vào
báo cáo thẩm định do phòng tín dụng trình sẽ quyết định hạn mức, lãi suất
cho vay và giao cho phòng tín dụng làm hợp đồng tín dụng và thông báo cho
khách hàng để ký hợp đồng Sau khi hoàn thiện các thủ tục cho vay, cán bộ
tín dụng chuyển cho cán bộ kế toán cho vay toàn bộ hồ sơ vay vốn bao gồm:
hợp đồng tín dụng, tờ trình của cán bộ tín dụng, đơn xin vay vốn của khách
hàng và các tài liệu liên quan.
Hồ sơ vay vốn gồm:
 Hợp đồng tín dụng
 Giấy đề nghị vay vốn
 Dự án (phương án) sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống( nếu có)
 Hồ sơ đảm bảo tiền vay (bao gồm cả hợp đông bảo đảm tiền vay) đối
với khách hàng vay vốn phải thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay. ngoài
ra việc cho vay hộ gia đình, cá nhân qua tổ vay vốn (hoặc qua doanh nghiệp),
cho vay doanh nghiệp để chuyển tải vốn cho hộ gia đình.

phòng kế toán, chữ kí của cán bộ tín dụng cho vay và của trưởng phòng tín
dụng.
 Sau khi kiểm nhận, kiểm tra bộ hồ sơ cho vay đầy đủ, hợp lệ, hợp pháp
kế toán cho vay kí nhận trên bảng kê giao nhận (hoặc sổ giao nhận) hồ sơ cho
vay của cán bộ tín dụng chuyển đến.
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
 Kiểm tra sự khớp đúng các thông tin và dữ liệu trên máy vi tính với bộ
hồ sơ cho vay (trong trưòng hợp cán bộ tín dụng đã nhận dữ liệu của bộ hồ sơ
cho vay) hoặc cán bộ kế toán cho vay vào các dự liệu hồ sơ cho vay theo quy
trình giao nhận trực tiếp trên máy vi tính.
Ngoài hai bộ hồ sơ trên, nếu khách hàng vay có tài sản thế chấp, cầm cố
thì kế toán cho vay phải tiến hành cả việc kế toán và quản lí hồ sơ tài sản đảm
bảo tiền vay của khách hàng.
II.2.2. Hạch toán kế toán giai đoạn phát vay (giải ngân)
Tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam-Techcombank, trên cơ sở nhu
cầu sử dụng của từng khoản vốn vay của khách hàng và khả năng kiểm tra,
giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay mà chi nhánh thoả thuận với khách
hàng vay về lựa chọn phương thức vay phù hợp. Qua doanh số hoạt động của
chi nhánh cho thấy khách hàng vay vốn của chi nhánh tập trung chủ yếu vào
các doanh nghiệp quốc doanh, là các doanh nghiệp lớn, có uy tín cao trên thị
trường. Do vậy, chi nhánh chủ yếu thực hiện phương pháp cho vay hạn mức
tín dụng và phương thức cho vay từng lần. Phương thức cho vay theo hạn
mức tín dụng có ưu điểm là phục vụ khách hàng nhanh chóng và nắm bắt kịp
thời thông tin, năng lực tài chính của khách hàng, những lợi ích này càng
được phát huy tốt trong cơ chế thị trường, nên phương thức cho vay theo hạn
mức tín dụng càng chiếm ưu thế.
Các tài khoản kế toán cho vay:
Ngân hàng TMCP Techcombank sử dụng hệ thống tài khoản của các tổ
chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 25-12-1998

Kết cấu TK ngoại bảng phản ánh bút toán đơn:
Nợ: phản ánh nghiệp vụ phát sinh hoặc nhập tài sản
Hoặc Có: các nghiệp vụ đã được xử lý và kết thúc hoặc xuất tài sản
Hạch toán kế toán phát tiền vay theo phương thức cho vay từng lần tại Chi
nhánh thực hiện theo trình tự sau:
- Lập chứng từ kế toán giải ngân: Dựa trên cơ sở kế toán cho vay của
khách hàng được xác lập đầy đủ, hợp lệ và hợp pháp. Khi khách hàng nhận
tiền vay khách hàng sẽ lập 3 liên giấy nhận nợ và hợp đồng tín dụng, kế toán
tiến hành kiểm tra chứng từ và giấy nhận nợ.
Lập chứng từ giải ngân theo quy trình giao dịch trực tiếp trên máy tính (lập
phiếu chi cho vay), hoặc hướng dẫn khách hàng lập chứng từ nhận tiền vay
thích hợp (giấy lĩnh tiền mặt, uỷ nhiệm chi). Chữ kí, dấu (nếu có) trên chứng
từ nhận tiền vay của khách hàng phải khớp đúng với chữ kí trên hợp đồng tín
dụng hoặc chữ kí, mẫu dấu đã đăng kí tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt
Nam-Techcombank (nếu có).
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguyễn Thuý Lan - NHE- K6 Khoa Ngân hàng
 Hạch toán trên sổ kế toán chi tiết. Căn cứ số tiền trên chứng từ kế toán
giải ngân, hạch toán:
Nợ: Tài khoản cho vay cầm cố: 222102
Tài khoản cho vay dịch vụ đời sống ngắn hạn: 211109
Tài khoản cho vay ngắn hạn doanh nghiệp: 211101
Có: Tài khoản tiền mặt: 1011.01
Tài khoản ngân phiếu: 101201.01
Tài khoản thanh toán giữa các Ngân hàng (52)
Đồng thời nhập phiếu tài khoản ngoại bảng. Nhập tài khoản tài sản thế
chấp cầm cố của khách hàng hạch toán theo giá trị của tài sản thế chấp, cầm
cố.
Căn cứ vào giá trị tài sản dùng để đảm bảo tiền vay trên hợp đồng cầm cố,
thế chấp và bảo lãnh, kế toán cho vay lập phiếu nhập kho tài khoản ngoại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status