LUẬN VĂN Những bản chất, nguồn gốc của những yếu tố bên trong nền kinh tế thị trường - Pdf 95


LUẬN VĂN:

Những bản chất, nguồn gốc của những yếu tố
bên trong nền kinh tế thị trường

Phần mở đầu Môn kinh tế chính trị tư bản bắt nguồn tử chủ nghĩa trọng thương. Nó thống trị
tư duy kinh tế của chủ nghĩa tư bản thế kỷ XV đến thế kỷ XVII và tồn tại trong đầu thế
kỷ XVIII. A. Mông Grêchiên nhà trọng thương người Pháp (1575-1629), là người đầu
tiên sử dụng thuật ngữ “kinh tế chính trị học” trong tác phẩm “chuyển luận về kinh tế
chính trị học” ông xem kinh tế chính trị là khoa học về kế toán Nhà nước, ông nghiên
cứu sự tham gia tích cực của nhà nước vào đời sống kinh tế, sự hộ trợ của Nhà nước
cho quá trình tích luỹ ban đầu. Lý luận của chủ nghĩa trọng thương là sự thử nghiệm
đầu tiên việc nghiên cứu về lý luận phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong thời
ký này tư bản thương nghiệp chiếm địa vị thống trị và thực sự chỉ có lĩnh vực lưu
thông hàng hoá mang tính chất tư sản. trong khi nhận thức đúng đắn rằng sự săn đuổi

bản. Còn Đ.Ricácđo là nhà kinh tế của thời kỳ đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tư
bản, là đỉnh cao của lý luận của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển.
Học thuyết kinh tế của Mác ra đời vào giữa thế kỷ Xĩ đây là thời kỳ lịch sử mà
giai cấp tư sản đã giành được chính quyền đã hoàn thành cuộc cách mạng chủ nghĩa,
đã củng cố vững chắc sự thống trị của mình, đồng thời, chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu
bộc lộ những mâu thuẫn đối kháng, những cuộc khủng hoảng kinh tế đã pháp hoại nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Kinh tế chính trị học do C,Mác và Ph-Ăngghen sáng lập là một cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật chính trị vì nó dựa trên phương pháp biện chứng duy vật, của giai
cấp công nhân. C.mác đã xây dựng nên học thuyết giá trị thặng dư - hòn đá tảng trong
học thuyết kinh tế Mácxít.
- C.Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu lịch sử xã
hội, bắt đầu các phạn trù kinh tế, vạch rõ sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất cơ sở của sự phát triển lịch sử xã hội, các quy luật kinh tế chi phối
sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chỉ ra quan hệ giữa người với
người ẩn giấu đằng sau quan hệ giữa vật với vật trong sản xuất hàng hoá nói chung và
trong tư bản chủ nghĩa nói riêng.
- Nhờ phân biệt được sức lao động và lao động trong sản xuất hàng hoá, đặc
biệt là tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá (lao động cụ thể và lao động
trừu tượng). C.Mác đã giải đáp được nhiều bế bắt trong các học thuyết của trường phái

kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh (thí dụ: vì sao trao đổi theo đúng giá trị mà
vẫn thu được giá trị thặng dư), từ đó C.Mác hoàn thiện lý luận giá trị, tìm ra nguồn gốc
và bản chất của tiền tệ, đưa đến phát hiện về giá trị thặng dư, vạch rõ cơ chế bóc lột tư
bản chủ nghĩa và những hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư trên bề mặt cuộc
sống như: lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức, địa tô tư
bản chủ nghĩa.
Yêu cầu đặt ra là chúng ta phải hiểu rõ những bản chất, nguồn gốc của những
yếu tố bên trong nền kinh tế thị trường đặc biệt là yếu tố quyết định, thúc đẩy sự phát
triển nền kinh tế thị trường. Đó chính là lợi nhuận.

Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là trong
lĩnh vực lưu thông. Do quá trình phát triển của công thương thủ công, tư bản đã
chuyển sang lĩnh vực sản xuất, lúc này các vấn đề kinh tế của sản xuất đã vượt qua khả
năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa trọng thương và học thuyết kinh tế cổ điển xuất
hiện. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên
cứu lĩnh vực lưu thông các phạm trù và quy luật của nền kinh tế thị trường. Những
phạm trù lợi nhuận, địa tô, lợi tức trong đó có một số quan điểm về lợi nhuận nổi bật
là quan điểm của Kene, A.Đ.Smith, Ricacđô
a. Quan điểm của Kene.
Kene được các Mac đánh giá là con đẻ của kinh tế chính trị học cổ điển và ông
có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế Kene đã đặt nền tảng cho việc nghiên cứu sản
phẩm tức là nền móng cho việc nghiên cứu quan hệ thặng dư sau này. Ông đã đưa ra
những quan điểm kinh tế để tiến hành phê phán chủ nghĩa trọng thương. Kene cho
rằng trao đổi thương mại chỉ đơn thuần là việc trao đổi giá trị này lấy giá trị sử dụng
khác theo nguyên tắc ngay giá. Hai bên không có gì để mất hoặc được cả. Bởi vậy
thương nghiệp không đẻ ra tiền được. Theo ông lợi nhuận thương nghiệp có được do
tiết kiệm các khoản chi về thương mại và của cải chỉ có thể tạo ra trong lĩnh vực sản
xuất Nông nghiệp. Chính quan điểm này đã chuyển việc nghiên cứu của cải từ lĩnh vực
lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra ông còn có lý luận về sản phẩm thặng dư.
Ông cho rằng sản phẩm thặng dư chỉ đựơc tạo ra sản xuất Nông nghiệp kinh doanh
theo kiểm tư bản chủ nghĩa bởi vì trong lĩnh vực sản xuất Nông nghiệp đã tạo ra được
chất mới nhờ có sự giúp đỡ của tự nhiên. Đây là một quan điểm sai lầm. Nhưng ông
cũng manh nha bước đầu tìm ra được nguồn gốc của giá trị thặng dư. Ông cho chi phí
sản xuất là tiền lương, sản phẩm tuy là số chênh lệch giữa thu hoạch và tiền lương đó
chính là phần do lao động thặng dư tạo ra.
Với Petty lợi nhuận là khoảng dôi ra so với chi phí sản xuất và Petty cho rằng
phần lợi nhuận dôi phụ thuộc và nhà tư bản là hợp lý. Đó là công lao về sự mạo hiểm
của nhà tư bản ứng tiền ra sản xuất. Còn A.R.Jturogt thì cho rằng lợi nhuận là thu nhập
không lao động do công nhân tạo ra.
b. Quan điểm của A.Smith.

xuống. Những hạn chế của ông là không phân biệt lợi nhuận thặng dư.

3. Quan điểm của trường phái Samuellson về lợi nhuận.
Theo Samuellson lợi nhuận kinh doanh là lợi tức ẩn, lợi nhuận là phần thưởng
cao việc gánh chịu rủi ro cho sự đổi mới, lợi nhuận là lợi tức độc quyền.
Bởi ông cho rằng lợi nhuận kinh doanh là tổng hợp của nhiều khoản khác nhau.
Phần lớn giá trị lợi nhuận kinh doanh được báo cáo chỉ là phần lợi tức của các chủ sở
hữu Công ty có được do lao động của họ hay do vốn đầu tư của họ mang lại. Nghĩa là
tiều trả cho các yếu tố sản xuất do họ cung cấp. Nếu loại bỏ tất cả lợi tức ẩn thì ta được
lợi nhuận thuần tuý và đó là phần thưởng cho sự gánh chịu rủi ro nói chung. Chúng ta
không tính tới các rủi ro vỡ nợ hay các rủi ro có bản hiểm. Có một dạng rủi ro cần lưu
ý khi tính toán lợi nhuận đó là rủi ro đầu tư không bảo hiểm. Doanh thu Công ty phụ
thuộc rất lớn và thăng trầm trong chu kỳ kinh doanh. Do các nhà đầu tư rất không
thích các trường hợp rủi ro nên họ đòi hỏi phải có mức phí dự phòng rủi ro cho những
đầu tư không chắc chắn nhằm bù đắp cho những rủi ro của họ.
Lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí. Lợi nhuận kinh doanh được báo cáo chủ
yếu là thu nhập Công ty.
4. Học thuyết của Mác-Lênin.
Mác viết “Tôi là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động biểu
hiện trong hàng hoá”.
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị lao động vì lao
động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
Theo Mác, lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của
một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng đối tượng riêng, thao tác
riêng, phương tiện riêng, thao tác và kết quả riêng. Kết quả lao động cụ thể tạo ra giá
trị sử dụng của hàng hoá. Lao động cụ thể càng nhiều loại thì giá trị sử dụng cũng có
nhiều loại. Tất cả các lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội
ngày càng chi tiết. Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn là một điều kiện không
thể hình thức cụ thể của nó như thế nào gọi là lao động trừu tượng.
Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp thịt của


là sự lớn lên của giá trị thặng dư nên sự vận động T-H-T

là không có
giới hạn. Công thức này Mác gọi là công thức chung của tư bản.
Qua nghiên cứu Mác đi đến kết luận: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông
và cũng không thể xuất hiện ở người lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và
đồng thời không phải trong lưu thông”. Đây chính là mâu thuẫn chung của công thức
tư bản. Để giải quyết mâu thuẫn này Mác đã phát hiện ra nguồn gốc sinh ra giá trị
hàng hoá sức lao động. quá trình sản xuất ra hàng hoá và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá
trị của bản thân giá trị sức lao động. Vậy quá trình sản xuất ra tư bản chủ nghĩa là quá
trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. C.Mác viết:
“Với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình sáng tạo ra giá trị thì
quá trình sản xuất là quá trình sản xuất ra hàng hoá, với tư cách là tăng giá trị thì quá

trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa
của nền sản xuất hàng hoá ”.
Phần giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, nó được tính bằng giá trị sức lao
động cộng thêm giá trị thặng dư. Vậy giá trị thặng dư (m) là phần giá trị mới dôi ra
ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt. Qua đó
chúng ta thấy tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm
thuê.
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất
của tư bản thì C.Mác đã chia tư bản ra làm hai bộ phận. Tư bản bất biến và tư bản khả
biến.
Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và
chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất
được C.Mác gọi là tư bản bất biến và được ký hiệu là C.
Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình
sản xuất đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến và được ký hiệu là: V.

ở trên chúng ta nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư. Nhưng muốn hiểu
về nó ta nghiên cứu sự bóc lột tư bản về mặt lượng. Các phạm trù tỷ suất giá trị thặng
dư và khối lượng giá trị thặng dư mà ta nghiên cứu sau đây sẽ biểu hiện về mặt chất
của sự bóc lột.
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến. Ký
hiệu của tỷ suất giá trị thặng dư là m

ta có:
m

=

m.100%
v
Tỷ suất giá trị thặng dư vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột công nhân.
Thực chất đây là tỷ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và
thời gian lao động thặng dư, nhưng nó không biểu hiện lượng tuyệt đối của sự bóc lột
tức là khối lượng giá trị thặng dư. Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất
giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến (v). Gọi M là giá trị thặng dư thừa (Tư bản khả
biến là một đơn vị tư bản biểu hiện ra bên ngoài như tiền lương của một công nhân).
Nó nói lên quy mô của tư bản
Nhà tư bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng dư nhiều nhất bằng nhiều cách
bằng nhiều thủ đoạn. Trong đó C.Mác chỉ ra hai phương pháp mà chủ nghĩa tư bản sử
dụng đó là sản xuất giá trị thặng dư tương đối, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối,
ngoài ra còn có phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch.
Mác đã chỉ ra trong giai đoạn phát triển đầu của chủ nghĩa tư bản, khi kỹ thuật
còn thấp và tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị thặng dư tuyệt đối bằng cách kéo dài

tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động cần thiết không thay đổi.
Những phương pháp này còn có hạn chế về thời gian, về thể chất và tình thần người

liệu sản xuất tư bản bất biến gọi là lao động quá khứ và lao động tạo ra giá trị mới
(v+m). Đứng trên quan điểm toàn xã hội, quan điểm của người lao động thì chi phí đó
là chi phí thực tế để tạo ra giá trị hàng hoá.
(c+v+m). Nhưng đối với nhà tư bản thì họ không hao phí thực tế để sản xuất ra
hàng hoá nên nhà tư bản chỉ xem hết bao nhiêu tư bản chứ không tính xem chi phí hết

bao nhiêu lao động cần thiết, thực tế họ chỉ ứng ra số tư bản để mau tư liệu sản xuất (c)
và mua sức lao động (v), chi phí đó được C.Mác gọi là chi phí tư bản chủ nghĩa và ký
hiệu là: k (k =c+v). Như vậy chi phí tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí thực
tế. Giữa giá thành hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự chênh lệch nhau
một lượng đúng bằng giá thành thặng dư. Do đó nhà tư bản hàng hoá sẽ thu về một
phần lời đúng bằng giá thành thặng dư m, số tiền này gọi là lợi nhuận.
Giá trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi
nhuận.
Giá trị = k + P
Về mặt ưlợng lợi nhuận có nguồn gốc là kết quả lao động không công của công
nhân làm thuê.
Về mặt chất lợi nhuận xem như toàn bộ tư bản ứng trước đẻ ra. Do đó lợi nhuận
che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa, che dấu nguồn gốc thực sự của nó.
Do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí sản xuất thực tế
cho nên nhà tư bản có thể bán hàng hoá cao hơn chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa và
có thể thấp hơn giá thành hàng hoá. Nếu nhà tư bản bán hàng hoá với giá trị bằng giá
trị của nó thì P = m. Nếu bán với giá trị cao hơn giá thành của nó thì P>m, nếu bán với
giá trị nhỏ hơn giá trị của nó thì P<m. Chính điều này đã làm cho họ cho rằng lợi
nhuận là việc mua bán, do lưu thông tạo ra, do tài kinh doanh của nhà tư bản mà có.
Điều này dẫn đến sự che dấu thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
Nhưng lòng tham của nhà tư bản là vô đáy vì thế sau khi đã có lợi nhuận rồi họ
không dừng lại tại đó mà họ còn muốn tìm ra với số tiền mà họ đầu tư đó thì họ đầu tư
vào đâu để thu được lợi nhuận lớn hơn. Từ đây nẩy sinh khái niệm về tỷ suất lợi
nhuận.

vẫn tiếp diễn.
Sự chuyển hóa từ giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất và sự che dấu quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa các phạm trù sản xuất.
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ta thấy một bộ phận hàng
hoá được bán cao hơn giá trị của chúng còn bộ phận khác lại bán thấp hơn giá trị của
chúng cũng theo một tỉ lệ như thế. Chỉ có bán hàng hoá theo những giá cả đó thì tỷ
suất lợi nhuận trong các công ty mới có thể đồng nhất và ngang với nhau, dù cấu thành
hữu cơ của các tư bản đều khác nhau. "Những giá cả đó có được bằng cách lấy chi phí
sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân gọi là giá cả sản xuất"

Vậy : Giá cả sản xuất = K + P
Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Điều
kiện để giá trị biến thành gía cả sản xuất gồm có: đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ
nghĩa phát triển, sự liên hệ đầy đủ giữa các ngành sản xuất này sang ngành khác.
Trước đây khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả xoay quanh giá
trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh giá cả sản xuất. Về mặt lượng,
giá cả sản xuất và giá trị có thể không bằng nhau. chính trong mới quan hệ này, giá trị
vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong của giá cả sản xuất, giá cả thị trường.
Thực chất hoạt động của quy luật giá cả sản xuất là sự biểu hiện hoạt động của
quy luật giá trị trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản.
Lợi nhuận được biểu hiện dưới dạng lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương
nghiệp, lợi nhuận ngân hàng, lợi tức cho vay.
Trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trường các nhà sản
xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh họ mong muốn chi phí
còn số dư dôi để không chi sản xuất, củng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị
trường. Lợi nhuận ở đây chính là phần chênh loch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí,
còn tối đa hoá lợi nhuận hoặc giảm chí phí sản xuất, tức là phải làm gì để đạt được lợi
nhuận cực đại cho doanh nghiệp. Tổng doanh thu của doanh nghiệp mà số tiền mà
doanh nghiệp đó kiếm được nhờ bán hàng hóa, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định, và
quá trình này cũng được tư bản công nghiệp chi cho một phần lợi nhuận. Lợi nhuận đó

Trong quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp, luôn có số tư
bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi ví dụ như tiền lương quỹ khấu hao của tư bản cố định,
tiêu dùng để mua nguyên vật liệu nhưng chưa đến kỳ mua, bộ phận giá trị thặng dư
tích luỹ (dưới dạng tiền) để mở rộng sản xuất nhưng chưa thu nhập nào cho nhà tư
bản. Nhưng đối với nhà tư bản thì tiền phải đẻ ra tiền, vì vậy nhà tư bản phải cho
người khác vay để kiếm lãi. Vì trong cùng một thời gian đó có những nhà tư bản khác
rất cần tiền để mở rộng sản xuất do đó họ có nhu cầu vay. "Tư bản cho vay là tư bản
tiền tệ mà người chủ của nó nhường chóng khác sử dụng trong một thời gian để nhận
được một số lời lãi nào đó. Số lời lãi đó được gọi là lợi tức". Bản chất của lợi tức là
một phần lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản đi vay đã đưa cho nhà tư bản đi vay sử
dụng. Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra
trong lĩnh vực sản xuất. Nhưng việc nhà tư bản cho vay thu được lợi tức che dấu một

thực chất bóc lột tư bản chủ nghĩa. Dựa vào công thức vận động tư bản cho vay chúng
ta hoàn toàn vạch trần được điều đó.
Lợi tức vận động theo quy luật tỷ suất lợi tức.
Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa tổng số lợi nhuận bình quân, tỷ
lệ phân chia lợi nhuận thành lợi tức và thu nhập của xí nghiệp mà nhà tư bản hoạt động
phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của tư bản cho vay.
-Lợi nhuận ngân hàng là thu nhập của nhà tư bản ngân hàng là hình thái biến
tướng riêng biệt của m. Nghiệp vụ chính của ngân hàng là thu nhập tiền gửi cho vay.
Lợi tức cho vay của ngân hàng cao hơn lợi tức tiền gửi, con số chênh loch là nguồn
gốc của lợi nhuận ngân hàng. Tuy vậy, không phải toàn bộ con số chênh loch ấy đều là
lợi nhuận ngân hàng chỉ là con số còn lại sau khi đã trừ đi một phần để bù vào chi phí
nghiệp vụ ngân hàng (lương nhân viên, sổ sách ).
Ngân hàng cho các nhà trực tiếp kinh doanh vay. Nhà tư bản lấy số tiền đó để
sản xuất ra giá trị thặng dư (tư bản công nghiệp ) hoặc thực hiện giá trị thặng dư (tư
bản thương nghiệp), sau đó đem một phần m thu được làm thành lợi tức trả cho ngân
hàng. Do đó lợi nhuận ngân hàng cũng là giá trị thặng dư.
Sự cạnh tranh giữa các ngành trong xã hội tư bản cũng là do lợi nhuận ngân

Giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hoá được sản xuất trong
một khu vực sản xuất nào đó hay là giá trị cá biệt của những hàng hoá được sản xuất
trong những điều kiện trung bình của khu vực đó và chiếm một khối lượng lớn trong
tổng số những sản phẩm của khu vực này.
Với nội dung trên giá trị thị trường có thể hình thành theo 3 trường hợp sau đây.
* Trường hợp 1:
Giả định đại bộ phận lượng hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện xã
hội trung bình, còn bộ phận nhỏ thì một nữa được sản xuất ra trong những điều kiện
kém và một nửa được sản xuất trong điều kiện tốt. Sự chênh loch về giá trị của hai cực
so với giá trị trung bình có thể bù trừ lẫn nhau.

Trong trường hợp này, giá trị thị trường hàng hoá do giá trị của đại bộ phận
hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện trung bình quyết định . Nếu hàng hoá bán
đúng giá trị thị trường thì chỉ có xí nghiệp có điều kiện sản xuất tốt mới được lợi
nhuận siêu ngạch. Đây là trường hợp phổ biến nhất.
* Trường hợp 2:
Giả định đại bộ phận lượng hàng hoá được sản xuất ra trong điều kiện kém.
Trong trường hợp này, giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận
hàng hoá được sản xuất trong điều kiện kém quyết định. ở đây, giá trị thị trường không
những cao hơn giá trị cá biệt của các hàng hoá sản xuất ra trong điều kiện tốt, mà còn
cao hơn cả giá trị cá biệt của các hàng hoá sản xuất ra trogn điều kiện trung bình. Nếu
hàng hoá bán đúng giá trị thị trường, thì loại xí nghiệp có điều kiện sản xuất tốt và
trung bình đều thu được lợi nhuận siêu ngạch.
* Trường hợp 3:
Giả định đại bộ phận của khối lượng hàng hoá được sản xuất ra trong những
điều kiện tốt.
Trong trường hợp này, giá trị thị trường của hàng hoá do giá trị của đại bộ phận
hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện tốt quyết định. ở đây, giá trị thị
trường cao hơn giá trị cá biệt của những hàng hoá sản xuất ra trong điều kiện tốt. Nếu
hàng hoá bán đúng giá trị thị trường thì chỉ có loại xí nghiệp có điều kiện sản xuất tốt

máu chất xám ở các nước đang phát triển trở thành một tình trạng báo động cần ngăn
chặn.
b. Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ sản xuất phát triển.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn luôn có mối quan hệ biện chứng
với nhau tức là khi lực lượng sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất cũng phát triển
và ngược lại.
Do tác động của lợi nhuận, do sự phân chia lợi nhuận dưới nhiều hình thức
khác nhau một cách hết sức chặt chẽ giữa các bên tham gia vào quá trình phân chia đã
làm cho chế độ sở hữu ngày càng được củng cố và phát triển. Quan hệ sở hữu từng
bước được thắt chặt hơn, rõ ràng hơn giữa nhà tư bản với người lao động nói riêng,
giữa cá nhân trong xã hội nói chung.
Bên cạnh đó mục đích lợi nhuận luôn đặt các nhà kinh tế, các tổ chức kinh tế
trước yêu cầu "hiệu quả", làm thế nào để chi phí ít nhấ mà lợi nhuận thu về là lớn nhất.

Điều đó đòi hỏi tính chuyên môn hoá cao và sự sắp xếp lại các tổ chức quản lý. Tổ
chức llại các bộ phận quản lý và thiết lập mối quan hệ giữa chúng để quá trình hoạt
động được nhịp nhàng thông suốt tránh sự trì trệ không cần thiết trong một số khâu
nào đó làm ảnh hưởng tới cả hệ thống quản lý. Hạn chế bớt một bộ phận chi phí (tiền
lương) đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận.
Xuất phát từ mục tiêu ổn định và phát triển có kế hoạch phân bổ lực lượng lao
động hợp lý, cân đối trong nền kinh tế tốt để khai thác tốt nguồn tài nguyên, kết hợp
chặt chẽ và thích đáng lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân người lao động. Tất cả những
vấn đề đặt ra trên đều xuất phát từ lợi nhuận và chính nó đã thúc đẩy quá trình phân
phối theo lao động diễn ra mạnh mẽ theo nguyên tắc làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít
thì hưởng ít. Nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế thì ngoài phân phối theo lao
động còn có sự phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi tập thể và
xã hội.
Lợi nhuận làm chuyển đổi kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá sang kinh tế
thị trường.
Theo quá trình phát triển của lịch sử nền kinh tế đã trải qua rất nhiều hình thức

c. Vai trò của lợi nhuận đối với quá trình tái xã hội.
Dễ hiểu được vai trò của lợi nhuận đối với quá trình tái sản xuất xã hội ta cần
xem xét đến điều kiện sản xuất xã hội diễn ra là gì.
Như ta đã biết muốn tái sản xuất mở rộng và ngày càng hiện đại hoá thì phải có
nhiều vốn, muốn có nhiều vốn phải tích luỹ vốn. Do việc tích luỹ vốn gắn lion với tái
sản xuất mở rộng và trở thành quy luật kinh tế chung của các hình thaí kinh tế xã hội
và tái sản xuất mở rộng.
Tích luỹ vốn nói chung xét về thực chất là sự chuyển hoá một phần giá trị sản
phẩm thặng dư, do lao động thặng dư tạo ra thành vốn phụ thêm, để mở rộng sản xuất.
Do vậy, nguồn tích luỹ vốn là giá trị của sản phẩm thặng dư do lao động thặng dư tạo
ra trong quá trình sản xuất (nhờ năng suất lao động cao bảo đảm ngày lao động vượt
quá phần giá trị của sản phẩm tất yếu) và thực hiện được trong quá trình lưu thông sự
tích luỹ này do các chủ thể sở hữu về tư liệu sản xuất hoặc tư nhân hoặc nhà nước tiến
hành. Như vậy dù ở dạng nào thì vốn cũng là một phần lợi nhuận (thực hiện giá trị
thặng dư) tạo thành. Và lợi nhuận đóng vai trò quyết định cho quá trình tái sản xuất xã
hội.
d. Lợi nhuận thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc.

Lợi nhuận là lý do làm phát sinh và phát triển nền kinh tế thị trường. Nó thúc
đẩy quá trình mở rộng trao đổi hàng hoá và khoa học kỹ thuật. Mở cửa nền kinh tế
nhằm thu hút nguồn lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế trong nước
làm thay đổi mạnh mẽ về trình độ công nghệ trong nước, cấu thành ngành và sản
phẩm, mở rộng phân công lao động quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết hợp tác là
cơ sở tăng cường tính độc lập và phụ thuộc lẫn nhau trên nguyên tắc bình đẳng và
cùng có lợi.
e. Vai trò của lợi nhuận đối với các mặt của đời sống xã hội.
Phân phối theo lao động và phân phối theo tỷ suất vốn đều là tất yếu khách
quan trong quá độ hiện nay vì các hình thức đó đều nhằm mục đích thúc đẩy nền sản
xuất phát triển cao và tạo lập sự công bằng xã hội giữa mọi thành viên trong xã hội.
Nhưng ngoài những người có vốn và tỷ suất đóng góp vào quá trình sản xuất để được

của tập đoàn ngày càng nhiều, nhưng hậu quả như lạm pháp, thất nghiệp, khủng hoảng
lại chút xuống đầu giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mâu thuẫn giai cấp càng
trở nên sâu sắc.
Nếu đứng trên toàn vĩ mô ta thấy rằng vào cuối thế kỷ XIX các nước tư bản đã
tích luỹ được lượng tương đối lớn "Tư bản thức" số này đầu tư trong nước thì lợi
nhuận thấp. Vì thế nó có nhu cầu xuất khẩu tư bản tới các nước lạc hậu về kinh tế đang
cần vốn đầu tư hay một số nước khá phát triển nhưng cần trang thiết bị mới để nâng
cao năng suất lao động nâng cao lợi nhuận.
Nhìn chung cả hai phía do mục tiêu về lợi nhuận đã dẫn đến quá trình xuất khẩu
tư bản diễn ra gây hậu quả cho cả hai bên, ở nước xuất khẩu tư bản các tổ chức độc
quyền thu được lợi nhuận lớn nhưng nền kinh tế các nước này bị giảm tốc độ phát
triển vì sự cạnh tranh trong việc xuất khẩu tư bản đã tác động sâu tới nền kinh tế các
nước này làm tăng sự phân hoá giầu nghèo. Còn ở các nước nhập khẩu tư bản, giai cấp
vô sản và nhân dân lao động bị bóc lột tinh vi vì sử dụng kỹ thuật mới. Chúng ta có thể
lấy ra một ví dụ về sự tiết kiệm các điều kiện lao động làm thiệt hại đến công nhân.
Ngành than mỏ không chịu bỏ ra những khoản cần thiết nhất. Vì có sự cạnh tranh giữa
các chủ mỏ than nên ngoài những khó khăn về thể chất rõ ràng nhất do người ta
không chịu chi những món gì khác. Và có sự cạnh tranh giữa các công nhân mỏ mà số
lượng thường là quá thừa nên những người này phải bằng lòng chịu những sự nguy
hiểm rất lớn và đồng ý lao động trong những điều kiện có hại cho sức khoẻ với những
đồng lương cũng không cao gì.

Hai sự cạnh tranh đó hoàn toàn đủ để làm cho một phần lớn các hầm mỏ đo
trang bị bằng những hệ thống rầm nước và thông hơi tồi tệ nhất, thường là xây tồi hệ
thống chống xấu, thở máy kém, các đường hầm và đường guồng xây dựng không tốt,
sự huỷ hoại tính mạng và sức khoẻ, những vụ sập hầm gây thương tích rất lớn. Đây là
một ví dụ trong vô vàn ví dụ mà chúng ta không có điều kiện nêu ra vẫn đang tiếp diễn
trong xã hội. Ngoài ra các nước nhập tư bản còn bị phụ thuộc chặt chẽ vào các nước đế
quốc.
Đứng trong tầm vĩ mô của một đất nước lợi nhuận làm mai một dần các ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status