Bản chất của tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường - Pdf 29

LỜI MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hội Đồng Cố Vấn Hội Nghị Thượng Đỉnh “Asian Banker 2008” diễn ra tại Hà
Nội cho biết hiện nay nhiều doanh nghiệp từ các quốc gia trên thế giới đang có xu hướng
đầu tư vào Việt Nam,đặc biệt là thị trường tài chính.
Tuy nhiên ông cho rằng cần phải có thời gian để nền kinh tế Việt Nam thích nghi với các
thay đổi trong thời kỳ hội nhập quốc tế và áp dụng kinh nghiệm của các nước trong lĩnh
vực tài chính
Tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của cả hệ thống tài chính vì đây là khâu sáng tạo ra
giá trị mới, sáng tạo ra thu nhập cho xã hội, tạo ra nguồn thu chủ yếu của Nhà nước làm
cơ sở phát triển kinh tế cho đất nước. Tài chính doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì
hệ thống tài chính quốc gia mới có nền móng vững chắc để phát triển.
Từ những lý do trên, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Bản chất, vai trò, chức
năng của khâu Tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Các bạn hãy cho
biết: đâu là điểm yếu nhất của doanh nghiệp Việt Nam trong nền kinh tế hội nhập và nêu
các giải pháp khắc phục”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đề tài nhưng nhóm
chúng tôi không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô và các
bạn.
Xin chân thành cảm ơn !
1
I. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Bản chất của tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là quá trình tuần hoàn và luân
chuyển vốn và nó được mô tả qua sơ đồ sau:

Hình 1.1. Quá trình tuần hoàn và luân chuyển vốn trong doanh nghiệp
Giai đoạn 1:
Để khởi đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có vốn bằng tiền.
Hàng hoá
và dịch vụ
đầu vào

mới
T’>T
2
Vốn này được tạo lập từ nhiều nguồn nhưng chủ yếu là từ hai nguồn chính: nợ phải trả
và nguồn vốn chủ sở hữu. Doanh nghiệp sử dụng vốn tiền tệ trên để mua các yếu tố đầu
vào, bao gồm: tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động. Số vốn dùng để mua
tư liệu lao động (đất đai, máy móc, thiết bị..) hình thành vốn dài hạn, số vốn dùng để
mua đối tượng lao động (nguyên vật liệu, nhiên liệu, trả lương cho lao động..) hình
thành vốn ngắn hạn. Ở giai đoạn này vốn chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái hàng
hóa: T- H.
Giai đoạn 2:
Là giai đoạn sản xuất và chuyển hoá các yếu tố sản xuất được kết hợp lại với nhau
để tạo ra sản phẩm. Giá trị sản phẩm mới bao gồm: giá trị tư liệu sản xuất chuyển dịch
và giá trị mới sáng tao. Vốn của doanh nghiệp lúc này từ hình thái giá trị vật tư, nguyên
vật liệu tồn kho chuyển sang sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và cuối cùng là thành
thành phẩm mới: H- H’.
Giai đoạn 3:
Doanh nghiệp xuất bán sản phẩm và có được thu nhập bằng tiền: H’- T’. Tới đây
vốn doanh nghiệp đã hoàn thành một vòng tuần hoàn từ lúc ban đầu là vốn ứng trước
bằng tiền, kết thúc cũng thu về dưới hình thái là tiền nhưng với một lượng lớn hơn T’> T
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, doanh nghiệp
phải thực hiện phân phối thu nhập bằng tiền có được do bán sản phẩm. Một phần thu
nhập để bù đắp chi phí, phần còn lại là lợi nhuận doanh nghiệp. Cuối niên độ kế toán, số lợi
nhuận luỹ kế cả năm sẽ được phân phối, một phần phải nộp cho nhà nước dưới hình thức
thuế thu nhập doanh nghiệp, phần còn lại được trích lập các quỹ doanh nghiệp và chia cho
các chủ sở hữu.
Qua sơ đồ trên ta thấy, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp
phải ứng trước một số vốn tiền tệ nhất định. Vốn này tồn tại dưới dạng hình thái giá trị
của các loại tài sản trong doanh nghiệp. Căn cứ theo thông tư số 23/2005/TT-BTài
chính ban hành ngày 30 tháng 03 năm 2005 về việc hướng dẫn kế toán thực hiện sáu

4
2. Vai trò của tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
2.1. Tài chính doanh nghiệp đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò này thể hiện qua việc lựa chọn phương pháp,
hình thức huy động vốn thích hợp đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp
được nhịp nhàng, liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất.
2.2. Tài chính doanh nghiệp tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả thể hiện qua
việc đánh giá, lựa chọn dự án đầu tư tối ưu, bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng các biện
pháp để tăng nhanh vòng quay vốn nhằm tối thiểu hoá chi phí sử dụng vốn, tối đa hoá lợi
nhuận của doanh nghiệp.
2.3. Tài chính doanh nghiệp là đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh. Vai trò
này thể hiện qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư , lao động, vật tư, dịch
vụ. Đồng thời xác định giá bán hợp lý khi tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ và thông
qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen thưởng, quỹ
lương, thực hiện các hợp đồng kinh tế.
2.4. Tài chính doanh nghiệp giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp bằng những chỉ tiêu tài chính phát hiện kịp thời những vướng mắc tồn tại
từ đó có những quyết định điều chỉnh nhằm đạt tới mục tiêu đã định
3. Chức năng của Tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
3.1. Tài chính doanh nghiệp tố chức nguồn vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh
Nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều phải có
vốn. Vốn là điều kiện không thể thiếu được để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn này được tạo lập từ nhiều nguồn như: vốn
chủ sở hữu (vốn tự có), vay ngân hàng, vay trong dân chúng (bằng cách phát hành trái
phiếu), mua hàng trả chậm… Nhằm thực hiện chức năng nói trên, trước hết doanh
nghiệp phải dự toán nhu cầu vốn, tiếp đến cần lựa chọn nguồn vốn phù hợp, một loạt
vấn đề cần được giải quyết như: nên huy động vốn từ chủ sở hữu hay nên vay? Cơ cấu
giữa nợ và vốn chủ sở hữu (vốn tự có) thế nào là tốt nhất? Nếu vay thì nên phát hành trái
phiếu hay vay ở các tổ chức tín dụng, hay sử dụng phương thức tín dụng thuê mua? thời
hạn và lãi suất vay ?…

nhu cầu vốn ngày càng tăng trong quá trình hoạt động.
Như vậy, có thể nói chức năng tổ chức nguồn vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh
là chức năng quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp. Thực hiện tốt chức năng này
không chỉ đảm bảo cho hoạt động doanh nghiệp được ổn định và liện tục mà nó còn liên
quan tới sự phát triển và tồn vong của doanh nghiệp.
3.2. Chức năng phân phối
Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp diễn ra trong suốt quá trình hoạt
động của doanh nghiệp nhưng được biểu hiện tập trung ở việc phân phối thu nhập bằng
tiền của doanh nghiệp. Quá trình phân phối này được thực hiện theo trình tự chung như
sau:
Sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ thu được các
khoản tiền về cung cấp sản phẩm hàng hoá- dịch vụ…Tổng hợp các khoản thu này được
gọi là thu nhập của doanh nghiệp. Để tiếp tục quá trình tái sản xuất, một phần thu nhập
của doanh nghiệp được phân phối để bù đắp các yếu tố vật chất đã tiêu hao trong quá
trình sản xuất kinh doanh như: khấu hao máy móc, thiết bị, chi phí về đối tượng lao
động, chi phí tiền lương và những chi phí khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra…
Phần còn lại của thu nhập sau khi bù đắp các chi phí trên được gọi là lợi nhuận
trước thuế của doanh nghiệp. Một phần lợi nhuận trước thuế sẽ nộp cho Ngân sách Nhà
nước dưới hình thức thuế thu nhập của doanh nghiệp, số lợi nhuận còn lại được sử dụng
để bảo toàn vốn, hình thành các quỹ khác nhau của doanh nghiệp, chia lời cho chủ sở
hữu (nếu có)
Phân phối là một đòn bẩy kinh tế quan trọng kết hợp đúng đắn giữa lợi ích của
Nhà nước, của doanh nghiệp và của người lao động. Do vậy thực hiện tốt chức năng
phân phối này chẳng những phát huy được tính tích cực chủ động của doanh nghiệp và
người lao động trong quá trình kinh doanh mà còn thúc đẩy sự phát triển và làm tăng giá
trị doanh nghiệp.
3.3. Chức năng giám đốc
Mọi doanh nghiệp khi bỏ vốn và sử dụng vốn đều mong muốn thu được hiệu quả cao,
7
ngoài việc bảo tồn vốn còn phải sinh lời vì vậy phải tiến hành kiểm tra giám sát mục đích sử

4.2. Trình độ của đội ngũ lãnh đạo
Một số doanh nghiệp muốn hoạt động được phải có đội ngũ lãnh đạo là người vạch
ra phương hướng, chiến lược, chính sách điều khiển và kiểm soát mọi hoạt độngcủa
doanh nghiệp. Do đó, đòi hỏi đội ngũ này phải có trình độ tốt. Các tiêu chí phụ như sau:
a.Trình độ tư tưởng, chính trị đạo đức (5 bậc trình độ theo trọng số)
b.Trình độ học vấn (5 bậc)
c.Trình độ văn hóa (5 bậc)
d.Trình độ quản trị doanh nghiệp (hiệu lực, hiệu quả các quyết định)-(5 bậc)
4.3. Tỷ lệ của nhân viên, công nhân lành nghề
Đây là đòi hỏi quan trọng, nhất là ở thời đại mà việc cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm
trở nên rất gay gắt như hiện nay. Tiêu chí này cũng là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp
đạt được chiến lược cao, chi phí thấp, năng suất cao. Một doanhnghiệp có tỷ lệ này cao
sẽ có lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cao. Tỷ lệ về lành nghề có thể chia thành
5 bậc: dưới 5%- điểm 1, từ 6% đến 15%- điểm 2, từ 16% đến 25%- điểm 3, từ 26% đến
40%- điểm 4(tốt), trên 41%- điểm 5(cao).
4.4. Hoạt động nghiên cứu và phát triển
Các tổ chức đánh giá quốc tế thường dùng tiêu chí này để đánh giá năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Tiêu chí này có thể chia thành 3 nhóm tiêu chí phụ (nhóm sáng
kiến, nhóm cải tiến, nhóm đổi mới). Trong mỗi nhóm lại phân ra 5 bậc số lượng và 5 bậc
chất lượng.
Từng doanh nghiệp tùy vào điều kiện cụ thể mà vận dụng. Có thể phân bậc theo số
tuyệt đối các sáng kiến / cải tiến, đổi mới. Có thể phân bậc tỷ lệ giữa số sáng kiến / cải
tiến, đổi mới với tổng số công nhân viên, cán bộ toàn doanh nghiệp.
Ví dụ, về sáng kiến: dưới 5 – loại kém, từ 5 đến 15 – loại trung bình, từ 16 đến 25 –
loại khá, từ 26 đến 40 – loại tốt, và trên 40 – loại cao.
Về cải tiến: dưới 4 – loại kém, từ 4 đến 10 – loại trung bình, từ 11 đến 20 – loại khá,
từ 21 đến 30 – loại tốt, trên 30 – loại cao.
Về đổi mới: dưới 3 – loại kém, từ 3 đến 10 – loại trung bình, từ 11 đến 20 – loại khá,
9
từ 21 đến 30 loại tốt, trên 30 – loại cao.

4.8. Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là yếu tố cấu thành quan trọng hàng đầu của năng lực cạnh
tranh của sản phẩm, mà năng lực cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố cấu thành năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp kinh doanh 10 mặt hàng mà cả 10
mặt hàng đều không có năng lực cạnh tranh thì chắc chắn doanh nghiệp đó không thể có
năng lực cạnh tranh. Các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm được chia làm 4 nhóm: nhóm chỉ
tiêu thẩm mỹ, an toàn vệ sinh, kỹ thuật và nhóm chỉ tiêu kinh tế. Doanh nghiệp nào có
nhiều sản lượng đạt mức chất lượng tốt nhất, doanh nghiệp đó sẽ có năng lực cạnh tranh
cao nhất theo tiêu chí trên.
4.9. Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần là phần thị trường mà doanh nghiệp bán được sản phẩm của mình một cách
thường xuyên và có xu hướng phát triển. Thị phần càng lớn chứng tỏ sản phẩm của
doanh nghiệp được khách hàng, người tiêu dùng ưa chuộng, năng lực cạnh tranh của sản
phẩm cao. Để phát triển thị phần, ngoài chất lượng ngoài chất lượng, giá cả, doanh
nghiệp còn phải tiến hành xúc tiến thương mại, tổ chức các dịch vụ đi kèm, cung cấp sản
phẩm kịp thời, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp nữa. Như vậy chúng ta thấy rằng
thị phần là một tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
4.10. Giá trị vô hình của doanh nghiệp
Giá trị vô hình là tiêu chí mang tính tổng hợp. Giá trị này có được là do quá trình
phấn đấu bền bỉ theo định hướng và phát triển đúng đắn, hợp đạo, hợp lí của doanh
nghiệp, được xã hội và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước biết đến.
Giá trị vô hình của doanh nghiệp gồm hai bộ phận:
• Thứ nhất là uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, được phản ánh chủ yếu ở
“văn hóa doanh nghiệp”, bao gồm trang phục, văn hóa ứng xử, hoàn thành
nghĩa vị đối với nhà nước, hoạt động từ thiện, kinh doanh minh bạch, v.v…
• Thứ hai là giá trị của tài sản nhãn hiệu. Những nhãn hiệu lâu đời, có uy tín
cao thì giá trị càng cao. Muốn có được giá trị thương hiệu cao doanh nghiệp
phải thường xuyên chăm lo cho chất lượng, thường xuyên đổi mới, tạo sự
11
khác biệt về chất lượng và phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status