Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Luận Văn
Đề Tài: Hoàn thiện hệ thống kênh phân
phối
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 1
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Mục Lục
Lời mở đầu
PHẦN I : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI SẢN PHẨM
I. Những vấn đề cơ bản về kênh phân phối 1
1. Khái niệm 3
2. Vai trò 3
3. Chức năng của phân phối 3
4.Các dạng kênh phân phối 5
II.Thiết kế kênh phân phối: 6
1 Phân tích yêu cầu của khách hàng về mức độ đảm bảo dịch vụ 6
2. Các trung gian trong kênh phân phối 7
3. Tầm quan trọng của trung gian trong phân phối 8
4. Điều kiện và trách nhiệm của các thành viên trong kênh phân phối 9
III. Quản lý kênh phân phối : 10
1 Thiết lập những mục tiêu và ràng buộc của kênh phân phối 10
2.Tuyển chọn các thành viên tham gia vào kênh phân phối 11
3. Kích thích các thành viên trong kênh phân phối 12
4 Phương pháp đánh giá các thành viên trong kênh phân phối 13
VI.Các chính sách hỗ trợ cho phân phối 14
1.Chính sách sản phẩm 14
2. Chính sách giá cả 14
3. Chính sách hỗ trợ thông qua hoạt động khuyếch trương: 14
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 2
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
III.Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty 33
1.Thu mua nguyên phụ liệu để sản xuất hàng hoá 33
2. Tình hình tiêu thụ của công ty 34
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 3
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
3.Tình hình kinh doanh xuất khẩu 35
4. Tình hình kinh doanh nhập khẩu 37
5. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty: 38
a.Phân tích tình hình thực hiện sản xuất kinh doanh của công ty 38
b. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 41
B. Thực trạng hệ thống kênh phân phối của công ty Vinatex 42
1.Kênh phân phối nội địa hiện tại của công ty 42
2.Hệ thống các cửa hàng đại lý của công ty Vinatex 43
3.Tình hình tiêu thụ của các cửa hàng của công ty trong thời gian qua 43
4.Cách thức tổ chức trong thời gian qua tại công ty 45
5. Tổ chức kênh phân phối 46
6.Chính sách hỗ trợ 47
a.Chính sách sản phẩm 47
b.Chính sách về giá 48
c. Chính sách xúc tiến hỗn hợp 49
7. Phân tích môi trường Marketing ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty
49
a.Những thuận lợi 49
b.Những khó khăn đối với ngành dệt may Việt Nam hiện nay 51
8. Môi trường Marketing 53
* Yếu tố vĩ mô 53
a. Yếu tố về chính trị pháp luật 53
b. Yếu tố về dân số 53
c. Yếu tố kinh tế 54
d. Yếu tố văn hoá 54
Tài liệu tham khảo 67
Lời mở đầu
Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, muốn thành công trong kinh doanh, doanh nghiệp
phải có các hoạt động Marketing hiệu quả. Hiện nay quá trình cạnh tranh diễn ra rất
mạnh mẽ, việc đạt được lợi thế cạnh tranh ngày càng trở nên khó khăn, thậm chí đạt
được cũng không tồn tại lâu dài, các chiến lược quảng cáo, khuyến mãi, giảm giá bán
chỉ có lợi thế ngắn hạn, bởi các doanh nghiệp khác cũng nhanh chóng bắt chước làm
theo. Từ đó các nhà quản trị doanh nghiệp mong muốn tìm lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Hệ thống phân phối nổi lên như một công cụ marketing quan trọng giúp doanh nghiệp
tạo lập và duy trì được lợi thế cạnh tranh dài hạn trên thị trường.
Công ty Vinatex là một doanh nghiệp Nhà nước, đã tiến hành sản xuất kinh
doanh với phương thức theo đơn đặt hàng trong một thời gian dài, từ khi thành lập đến
nay. Đến 90% sản phẩm công ty làm ra đều dành cho xuất khẩu, công ty chưa quan
tâm đến công tác điều tra, nghiên cứu thị trường vào việc tiêu thụ hàng nội địa, nên
mạng lưới phân phối thị trường tiêu thụ trong nước của công ty còn hạn chế.Ta biết hệ
thống phân phối đóng vai trò rất quan trọng giúp Công ty đưa sản phẩm đến tay người
tiêu dùng và mang lợi nhuận cho công ty qua quá trình này. Một hệ thống phân phối
đúng đắn và hiệu quả không chỉ mang lại lợi nhuận cao cho công ty mà còn giúp công
ty giữ vững lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường lâu dài.Vì vậy em đã chọn đề
tài “ Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống phân phối tại công ty dệt may Vinatex
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 5
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Đà Nẵng” cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Nội dung chuyên đề gồm 3
phần:
Phần 1:Cơ sở lý luận chung về kênh phân phối.
Phần 2: Thực trạng tại công ty dệt may Vinatex Đà Nẵng.
Phần 3: Hoàn thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm dệt may tại công ty
Vinatex Đà Nẵng.
Tuy nhiên , do thời gian thực tập tại công ty ngắn, kiến thức thực tế chưa sâu
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
đạt thông tin từ nhà sản xuất với các trung gian bán sỉ, bán lẻ và người tiêu dùng để tạo
sự thuận lợi trong quá trình trao đổi hàng hóa.
• Kích thích tiêu dùng :
Quá trình phân phối thực hiện hoạt động truyền bá các thông tin về hàng hóa và
các chương trình khuyến khích tiêu thụ khác đến với khách hàng và trung gian.
• Tiếp xúc thiết lập mối quan hệ :
Các Công ty phải thực hiện các quan hệ tiếp xúc để xác định ai là người mua
hàng ở các giai đoạn khác nhau trong kênh. Thông báo cho khách hàng biết các thông
tin, thiết lập mối quan hệ thương mại và nhận các đơn đặt hàng.
• Thích ứng, hoàn thiện sản phẩm :
Các thành viên của kênh thực hiện các hoạt động nhằm gia tăng hiệu quả các
quá trình trao đổi, tăgn tính thích ứng và hoàn thiện sản phẩm thông qua các hoạt động
như : Phân loại hàng hóa, đóng gói, cung cấp các dịch vụ bảo hành, sửa chữa, lắp ráp,
tư vấn.
• Thương lượng :
Thông qua việc thực hiện các thỏa thuận, đàm phán liên quan đến giá cả và các
điều kiện bán hàng, thực hiện việc chuyển giao sở hữu hàng hóa và dịch vụ.
• Lưu thông hàng hóa :
Thông qua hoạt động vận động, bảo quản và lưu kho hàng hóa làm cầu nối giữa
sản xuất và tiêu dùng. Điều hòa cung cầu giữa các khu vực thị trường và giữa các thời
điểm tiêu dùng khác nhau.
• Tài chính, trang trải chi phí :
Thông qua hoạt động bán hàng thu tiền, tìm kiếm các nguồn tài chính trang trải
cho các hoạt động sản xuất và hoạt động của kênh.
Đó là các chức năng chính của phân phối. Vấn đề đặt ra là không phải các chức
năng trên cần phải được thực hiện mà là ai sẽ thực hiện chức năng đó. Nhà sản xuất có
thể thực hiện hết các chức năng trên, tuy nhiên nó sẽ phân tán khả năng và nguồn lực
của họ đồng thời chi phí thực hiện sẽ tăng lên. Việc chuyển giao các chức năng này
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 8
độ xã hội hoá cao trên cả hai lĩnh vực, khó đảm bảo được tính cân đối và liên tục
trên toàn tuyến phân phối.
+ Kênh phân phối đầy đủ (Kênh hai cấp)
Nhà sản xuất thông qua các nhà trung gian bán sỉ đẻ đưa hàng đến các nhà bán
lẻ để trực tiếp bán cho khách hàng tiêu dùng. Đây là dạng kênh có nhiều ưu điểm
nhất và đặc trưng cho thị trường xã hội hoá đạt trình độ cao do đã phát huy được
những ưu thế của tập trung chuyên môn hoá theo từng lĩnh vực, tăng nhanh năng
suất lao động và vòng quay vố lưu động Tuy nhiên, do có nhiều trung gian và
đầu mối quản lý làm cho công tác điều khiển toàn bộ hệ thống kênh phân phối trở
nên phức tạp, chi phí lớn và thời gian lưu động dài, dễ xảy ra những biến động hoặc
rủi ro.
+ Kênh đặc biệt (kênh nhiều cấp)
Tham gia vào kênh này có thêm một số trung gian đặc biệt như đại lý, môi giới
nằm giữa nhà sản xuất, bán sỉ, bán lẻ và người tiêu dùng.
Nó thường được sử dụng hữu hiệu đối với một số loại mặt hàng mới mà các nhà
sản xuất gặp nhiều khó khăn trong hoạt động thông tin, quảng cáo, ít kinh nghiệm
thâm nhập thị trường hoặc một số loại hàng hoá có tính chất sử dụng đặc biệt, giá
bán biến động lớn phức tạp
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 10
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
II.Thiết kế kênh phân phối:
1 Phân tích yêu cầu của khách hàng về mức độ đảm bảo dịch vụ .
Khi thiết kế kênh phân phối phải tìm hiểu khách hàng mục tiêu mua sản phẩm
nào, mua ở đâu, tại sao họ mua, mua như thế nào? Để trả lời các câu hỏi đó dựa vào
phân tích các chỉ tiêu sau:
- Quy mô lô hàng: Là số lượng sản phẩm mà kênh phân phối cho phép một
khách hàng mua trong một đợt .
- Thời gian chờ đợi: Là khoảng thời gian trung bình mà khách hàng của kênh
phân phối phải chờ đợi để nhận được hàng. Khách hàng có xu hướng chọn những
kênh phân phối giao hàng nhanh. Thời gian giao hàng càng nhanh thì mức độ đảm
+ Tạo thuận tiện và hoàn tất những giao dịch bằng cách cung cấp vị trí, giờ giấc
bán hàng, các chính sách tín dụng và các dịch vụ khác cho khách hàng.
• Nhà bán buôn :
Là những người mua sản phẩm với số lượng lớn để bán lại cho các nhà sử dụng
công nghiệp, nhà bán lẻ và những nhà bán buôn khác.
Chức năng chủ yếu cả các nhà bán buôn :
+ Giúp nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ phân phối sản phẩm đến những địa
phương mà họ chưa tạo được quan hệ với khách hàng.
+ Huấn luyện nhân viên bán hàng.
+ Cung cấp những hỗ trợ về nghiên cứu Marketing cho các nhà sản xuất, cung
cấp dịch vụ, các tổ chức của người tiêu thụ
+ Tập hợp, phân loại các đơn hàng lẻ tẻ thành một số giao dịch.
+ Tạo thuận lợi cho dự trữ và giao hàng.
+ Hỗ trợ tài chính cho nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ bằng cách trả tiền
ngay, đồng thời cũng hỗ trợ cả nhà bán lẻ bằng cách trợ cấp tín dụng.
• Đại lý :
Là trung gian thực hiện việc phân phối nhưng không sở hữu hàng hóa mà họ
phân phối. Đại lý sẽ nhận hoa hồng trên giá bán.
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 12
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Đại lý thường là cá nhân hoặc doanh nghiệp có vị trí kinh doanh thuận lợi, có
năng lực bán hàng. Đại lý có thể đại diện cho một hoặc nhiều Công ty khác nhau
nhưng không là cạnh tranh của nhau.
• Người môi giới :
Là trung gian giữ vai trò giới thiệu cho người mua và người bán gặp nhau, hỗ
trợ cho việc thương lượng giữa đôi bên và được hưởng thù lao cho sự phục vụ đó.
3. Tầm quan trọng của trung gian trong phân phối :
Việc ra đời các trung gian thực hiện chức năng phân phối sản phẩm đã giúp cho
các doanh nghiệp chuyên môn hóa hoạt động sản xuất của mình, mặc dù họ mất đi
quyền kiểm soát và sở hữu hàng hóa nhưng việc sử dụng các trung gian có ưu điểm
- Ngoài ra nhà sản xuất cũng phải làm rõ giữa mình và các trung gian phân phối
về các dịch vụ hổ trợ như quảng cáo, tư vấn quản trị, huấn luyện nhân viên
III. Quản lý kênh phân phối :
1 Thiết lập những mục tiêu và ràng buộc của kênh phân phối .
Muốn kênh phân phối hoạt động hiệu quả thì cần phải xác định rõ phải vương tới
thị trường mục tiêu nào? mức độ phục vụ khách hàng tới đâu? và các trung gian hoạt
động ra sao? Do đó các nhà phân phối phải triển khai những mục tiêu của mình trong
các điều kiện ràng buộc từ phía khách hàng, từ sản phẩm, từ trung gian phân phối, đối
thủ cạnh tranh, chính sách của doanh nghiệp và đặc điểm của môi trường kinh doanh.
- Đặc điểm của người tiêu dùng: Khi doanh nghiệp muốn vương tới khách hàng
sống rộng rải rác thì kênh phân phối dài. Nếu khách hàng mua đều đặng từng lượng
nhỏ cũng cần kênh phân phối dài vì đáp ứng nhu cầu ít mà đều đặn thì rất tốn kém.
- Đặc điểm sản phẩm: Đặc điểm của sản phẩm về kích cỡ, trọng lượng, mức độ
tiêu thụ, giá trị đơn vị sản phẩm, tính dễ hư hỏng những sản phẩm cồng kềnh,
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 14
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
khối lượng lớn thì phải đảm bảo cự ly gần và hạn chế số lần bốc trong quá trình vận
chuyển từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng . Những sản phẩm giá trị lớn thì do bộ
phận đại diện nhà sản xuất phân phối trực tiếp không qua trung gian nào .
- Đặc điểm của các trung gian phân phối: Việc lựa chọn kênh phải phản ánh
được điểm mạnh và điểm yếu của các trung gian phân phối trong việc thực hiện các
công việc của họ. Ví dụ như số khách hàng mà một đại diện bán hàng có thể tiếp
xúc được trong một thời gian nhất định và trong số đó có bao nhiêu khách hàng
thuận lòng mua sản phẩm, hay chi phí tính trên một khách hàng có thể khác nhau ở
các trung gian phân phối.
- Đặc điểm đối thủ cạnh tranh: Doanh nghiệp cần phân tích, phát hiện những ưu
thế và hạn chế trong quá trình phân phối của đối thủ cạnh tranh để thiết kế kênh
phân phối của mình có khả năng cạnh tranh cao hơn .
- Đặc điểm doanh nghiệp: Đặc điểm doanh nghiệp sẽ quyết định quy mô đáp
ứng nhu cầu thị trưòng và khả năng lựa chọn trung gian phân phối phù hợp. Vấn đề
không chỉ bán hàng thông qua các trung gian mà cón bán hàng cho các trung gian
nữa .
Để kích thích các trung gian phấn đấu thực hiện tốt các yêu cầu được đặt ra cần
phải bắt đầu từ nổ lực của nhà sản xuất để thực hiện được mục đích và nhu cầu hoạt
động của trung gian .
Cần phải nhận thức đầy đủ vai trò và vị trí độc lập của trung gian trong thị
trường, với những mục tiêu và chức năng cụ thể, họ có thể tạo thuận lợi và phối
hợp hoạy động kinh doanh hoặc có thể ngăn cản và bài xích đối với các nhà sản
xuất. Vì vậy, để tiếp cận có hiệu quả các nhà trung gian, các nhà sản xuất thường
vận dụng ba kiểu quan hệ chủ yếu sau:
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 16
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
- Quan hệ hợp tác cùng có lợi: Bên cạnh những kích thích tích cực như tăng lợi
nhuận, trợ cấp quản cáo, giao dịch độc quyền, thi đua doanh số họ còn sử dụng
những biện pháp trừng phạt, đe doạ nếu không đảm bảo yêu cầu Điểm yếu của
cách thức này là các nhà sản xuất đã không thực sự hiểu biết các vấn đề và sự tác
động khách quan đối với từng trung gian trong những tình huống khác nhau và đầy
biến động của thị trường. Chưa coi các trung gian như những người bạn đường
cùng chung số phận với nhà sản xuất .
- Quan hệ hùn hạp: Dựa trên mối quan hệ lâu dài và gắn bó hơn giữa người sản
xuất với các trung gian .
Nhà sản xuất sẽ trình bày rõ các yêu cầu đối với các trung gian và tìm kiếm sự
thoả thuận với các trung gian về từng chính sách. Đặt ra các mức đãi ngộ và chi phí
theo sự gắn bó của các trung gian trong từng giai đoạn thực hiện chính sách đó .
- Lập chương trình phân phối: Là kiểu thoả thuận tiến bộ và ưu việt nhất . Thực
chất mối quan hệ này là sự thống nhất giữa người sản xuất và các nhà trung gian
phân phối trong việc cùng xây dựng một hệ thống tiếp thị dọc có quy hoạch, có
người quản lý và điều khiển chung cho toàn hệ thống .
4 Phương pháp đánh giá các thành viên trong kênh phân phối .
Nhà sản xuất cần phải thường xuyên hoặc định kỳ đánh giá hoạt động phân phối
quả, công dụng, ích lợi của việc xây dựng chính sách sản phẩm.
Như vậy chính sách sản phẩm đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện được chiến lược
tiêu thụ sản phẩm như:mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu thế lực và mục tiêu an toàn.
2. Chính sách giá cả:
Thông thường các doanh nghiệp đều nghiên cứu kỹ thị trường, xem xét mức giá
đưa ra của các đối thủ cạnh tranh về sản phẩm cùng loại trên cơ sở giá thành của sản
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 18
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
phẩm đó trước khi đưa ra chính sách giá cả để đảm bảo doanh số đủ để bù đắp toàn bộ
chi phí kinh doanh.
Tuy nhiên các doanh nghiệp còn có thể dùng các chính sách chiết khấu số lượng
lớn, chiết khấu chức năng, chiết khấu thời vụ…để kích thích trung gian bán được nhiều
sản phẩm giảm tồn kho và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
3. Chính sách hỗ trợ thông qua hoạt động khuyếch trương:
Một số nhà sản xuất tiến hành hoạt động khuyếch trương hướng vào các thị
trường mục tiêu của mình để thúc đẩy sản phẩm qua hệ thống phân phối, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc bán, thu được lợi nhuận dài hạn và vìi vậy một cách gián tiếp đảm
bảo sự hợp tác giữa các thành viên trong hệ thống phân phối.Các công cụ chính có sẵn
đối với các nhà sản xuất để tiến hành các hoạt động khuyếch trương là: quảng cáo, bán
hàng cá nhân, hỗ trợ người bán lẻ, các phương tiện thông tin đại chúng, xúc tiến bán.
V. Những nhân tố ảnh hưởng đến phân phối :
1. Xử lý đơn đặt hàng :
Đây là công việc đầu tiên. Bộ phận xử lý đơn đặt hàng phải nhanh chóng kiểm
tra lại khách hàng, đặc biệt là khả năng thanh toán của họ. Sau đó lập các hóa đơn và
chứng từ cần thiết để giao cho các bộ phận khác thực hiện các khâu tiếp theo.
2. Lưu kho :
Mọi Công ty đều phải bảo quản hàng hóa cho đến lúc bán. Tổ chức bảo quản là
cần thiết vì chu trình sản xuất và tiêu dùng ít khi trùng khớp với nhau. Công ty cần
quyết định số lượng những địa điểm kho bãi vì nó sẽ giúp đưa hàng hóa đến người mua
một cách nhanh chóng. Số lượng địa điểm kho bãi phải được tính toán để đạt tới sự cân
+ Các mục tiêu và chiến lược: mục tiêu và chiến lược chung cũng như mục tiêu
và chiến lược sản xuất kinh doanh của công ty có thể hạn chế sử dụng các trung
gian.Các chiến lược phân phối mạnh có thể xúc tiến tích cực và phản ánh nhanh chóng
sự thay đổi của thị trường sẽ xác lập các cấu trúc kênh có thể cho công ty sử dụng
chiến lược này.
6. Đặc điểm của thị trường:
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 20
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
- Đặc điểm thị trường là nền tảng cơ bản xác định khi xây dựng hệ thống phân
phối.
- Địa lý thị trường: đưa ra qui mô địa lý của thị trường và khoảng cách từ người
sản xuất đến thị trường.
- Qui mô thị trường: số lượng khách hàng của thị trường, qui mô thị trường cần
xác định, số lượng khách hàng càng lớn thì qui mô thị trường càng lớn.
- Mật độ thị trường: số lượng khách hàng trên một đơn vị diện tích, nhìn chung
mật độ thị trường càng thấp thì càng khó phân phối và chi phí cao. Chỉ dẫn chung là thị
trường càng phân tán rộng rãi thì càng sử dụng các trung gian nhiều, ngược lại thị
trường càng tập trung, càng nên tránh sử dụng các trung gian.
- Hành vi thị trường:
+ Người tiêu dùng mua như thế nào?
+ Mua khi nào?
+ Mua ở đâu?
+ Ai mua?
Mỗi hành vi của khách hàng có thể có những ảnh hưởng khác nhau đến cấu trúc
hệ thống phân phối.
VI. Thị trường dệt may Việt Nam:
Công nghiệp dệt may Việt Nam giữ một vị trí quan trọng trong nền công nghiệp
Việt Nam.Nó đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế và là một trong
những thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam hiện nay.
Hàng dệt may Việt nam phần lớn được xuất khẩu. Tuy nhiên chất liệu vải sợi của Việt
Đầu năm 2005, thương mại dệt may thế giới sẽ hội nhập hoàn toàn theo đúng
qui định của WTO và Việt Nam cũng đang tiến gần đến việc hội nhập hoàn toàn vào
khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á (AFTA- 11/2006), cùng với việc hội nhập mạnh
mẽ trong tiến trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, các nền kinh tế trên thế giới cũng đẩy
mạnh đàm phán ký kết các hiệp định tự do hoặc ưu đãi song phương nhằm tăng cường
quan hệ hai bên. Điều này cho phép các bên xâm nhập mạnh hơn vào thị trường của
nhau và vào một số nước có ưu thế về dệt may.
Trong bối cảnh, hàng dệt may Việt Nam ngoài việc phải cạnh tranh quyết liệt
với hàng dệt may của Trung Quốc thì phải cạnh tranh mệt mỏi hơn vì Việt Nam vẫn
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 22
Chuyên đề thực tập Khoa Quản Trị Kinh Doanh
chịu hạn ngạch, trong khi 150 nước khác được xuất khẩu không hạn chế vào Mỹ. Do
không còn hạn ngạch, mặt bằng giá nhập khẩu hàng dệt may vào Mỹ sẽ giảm đáng kể.
Một khối lượng đáng kể hàng dệt may xuất sang Mỹ thông qua nước thứ ba như
Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, kể cả các công ty ở những nước đang phát triển như
Srilanka. Các công ty này có khách hàng nhập khẩu truyền thống ở Mỹ. Một phần do ở
Việt Nam giá gia công rẻ và chất lượng tốt, một phần do khó khăn về hạn ngạch ở
những nước khác hay ở chính nước họ.nên họ phải mua hoặc đặt gia công ở Việt Nam
để xuất vào Mỹ.Vấn đề đặt ra ở đây là khi các nước khác không bị hạn chế bởi hạn
ngạch thì các công ty trước đây mua hoặc gia công ở Việt Nam nay có tiếp tục nữa hay
không.
Trong năm tới triển vọng xuất khẩu sang Mỹ vẫn còn rất lớn. Nhiều phân tích
cho rằng hàng dệt may của ta hoàn toàn có thể cạnh tranh về giá với hàng Trung Quốc
ngay cả khi xuất khẩu của họ không chịu phí hạn ngạch sau khi được dỡ bỏ hạn ngạch.
Hơn thế nữa, hàng dệt may xuất khẩu của Trung Quốc đang bị các nhà sản xuất Mỹ
phản đối gay gắt và yêu cầu chính phủ Mỹ phải có biện pháp hạn chế nhập khẩu.Trước
tình hình này các nhà xuất khẩu Trung Quốc sẽ không giám ồ ạt sang Mỹ, đồng thời
các nhà nhập khẩu Mỹ cũng không dám nhập khẩu nhiều từ thị trường Trung Quốc.
Thay vào đó các nhà nhập khẩu trong đó có Việt Nam nhằm tránh rủi ro.
Xuất khẩu sang EU sẽ có thể khó khăn hơn. Tuy nhiên nếu các doanh nghiệp
A.Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty:
I. Tổng quan về công ty:
1.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty dệt may Vinatex:
Công ty cổ phần SX-XNK Dệt may Đà Nẵng ( gọi tắt là Vinatex Danang) là
doanh nghiệp Nhà nước, là đơn vị thành viên của Tổng công ty Dệt may Việt Nam
được thành lập theo quyết định số 299/QD-TCCB ngày 28- 01-2002 của bộ công
nghiệp với nhiệm vụ chính là gia công may mặc hàng xuất khẩu tại thị trường Miền
Trung.
Lúc đầu công ty chỉ có một xưởng thêu tự động, một xưởng may gồm 350 công
nhân và một cửa hàng cung ứng phụ tùng. Lúc này công ty có tên là Liên Hiệp SX-
XNK Dệt may Việt Nam tại Đà Nẵng được thành lập vào ngày 01-07-1992.
Ba năm sau, vào ngày 25-09-1995 chi nhánh Liên Hiệp SX_XNK Dệt may Đà
Nẵng được sáp nhập với Chi Nhánh Textimex Đà Nẵng theo quyết định số
100/QD/TCLD của hội đồng quản trị Tổng công ty Dệt may Việt Nam và lấy tên là Chi
nhánh Tổng công ty dệt may Việt Nam tại Đà Nẵng (đơn vị hạch toán phụ thuộc).
Ngày 28-01-2002 Bộ Công Nghiệp quyết định sáp nhập chi nhánh tổng công ty
dệt may Việt Nam tại Đà Nẵng và công ty may Thanh Sơn và lấy tên gọi là công ty
SX-XNK Dệt may Đà Nẵng (Đơn vị hạch toán độc lập) cho tới ngày hôm nay.
SVTH: Trần Thị Lam Quyên Trang 25