Tài liệu Những cơ sở căn bản của Phân tích kỹ thuật chứng khoán - Pdf 95

Những cơ sở căn bản của
Phân tích kỹ thuật chứng khoán
1- Biểu đồ phân tích kỹ thuật.
Kỹ thuật dùng biểu đồ phân tích kỹ thuật đã rất phổ biến từ cuối thế kỷ 19, do Charles H.
Dow khởi xướng. Sau đó, quan điểm của ông đã trở thành "Lý thuyết Dow" ("Dow
Theory"), cho rằng những biến động thị trường với mọi xu hướng đều có thể được dự
đoán trước trên cơ sở biến động giá cổ phiếu trên các biểu đồ.
Cơ sở của việc phân tích là tìm cách xác định giá của cổ phiếu trong tương lai bằng việc
nhận diện và đo lường giá trị cổ phần. Các lý thuyết về phân tích kỹ thuật cho rằng, các
hành vi thị trường trong quá khứ tự nó sẽ xác định giá tương lai.
Biểu đồ phân tích kỹ thuật gồm hai trục biểu thị giá và thời gian. Mỗi một cổ phần, thị
trường và chỉ số niêm yết trên bảng giao dịch đều được biểu thị bằng một biểu đồ minh
hoạ sự biến động giá chứng khoán qua các thời kỳ; mỗi một đồ thị (đường) là tập hợp các
điểm chỉ giá đóng cửa (closing price) ngày giao dịch. Đồng thời, có một sự liên hệ giữa
giá mở cửa, giá đóng cửa, giá cao nhất / thấp nhất.
Phân tích biểu đồ có thể được áp dụng cho từng chứng khoán riêng lẻ cũng như một danh
mục đầu tư. Các nhà phân tích sử dụng kỹ năng nghiên cứu kỹ thuật các biểu đồ chỉ số để
nhận định thị trường đang ở trạng thái "thị trường bò" hay "thị trường gấu". Với các biểu
đồ, các nhà đầu tư có thể đưa ra đánh giá tương tự về công ty mà mình lựa chọn.
2- Xu hướng.
Sử dụng biểu đồ để nhận diện xu hướng hiện tại: xu hướng phản ánh tỷ lệ biến đổi trung
bình của giá cổ phiếu qua thời gian. Các xu hướng tồn tại trong mọi trạng thái thời gian
và mọi thị trường. Các nhà đầu tư hàng ngày có thể xây dựng được xu hướng của cổ
phiếu mà họ mua (bán) trong vòng vài phút. Về dài hạn, các nhà đầu tư quan sát các xu
hướng tồn tại trong nhiều năm.
Các xu hướng được phân loại: tăng, giảm, hoặc không đổi.
Theo xu hướng tăng, một cổ phiếu hồi phục thường là với một giai đoạn "quá độ" giữa
tính ổn định và những biến động giảm. Do vậy, nó sẽ hình thành lên hàng loạt những
đỉnh cao hơn và đáy thấp hơn trên biểu đồ cổ phiếu, và người ta dự đoán rằng, khả năng
tăng giá cổ phiếu là có thể.
Theo xu hướng giảm, một cổ phiếu suy yếu thường là với một giai đoạn "quá độ" giữa

gian ngắn sau khi hành vi mua bắt đầu. Và ngược lại, những cổ phiếu đang được lưu
thông thường rớt giá một thời gian sau khi bán ra.
Một cổ phiếu có thể hồi phục được hay không đòi hỏi sự tham gia “nhiệt tình” của các
nhà đầu tư. Khi sự hồi phục của một cổ phiếu không hấp dẫn được các nhà đầu tư mới thì
nó sẽ rất dễ rớt giá. Các nhà đầu tư và kinh doanh sử dụng các tiêu chí như trạng thái cân
bằng khối lượng để đánh giá số lượng người tham gia đang chậm lại hay tiến triển nhanh
hơn các động thái của giá cả.
Các cổ phiếu giao dịch thường ngày với một khối lượng trung bình. Khối lượng này có
thể xác định được tính lỏng của các cổ phiếu đó. Nhà kinh doanh có thể rất dễ dàng mua
và bán các cổ phiếu có tính lỏng cao. Những cổ phiếu không có tính lỏng cao đòi hỏi chi
phí giao dịch rất lớn và thường không thể nhanh chóng loại bỏ ra khỏi một danh mục đầu
tư. Những phép phân tích biểu đồ cổ phiếu không thể áp dụng cho cổ phiếu không có tính
lỏng cao.
Việc giá cổ phiếu gia tăng đột biến kéo theo một khối lượng giao dịch cao hơn rất nhiều
so với mức trung bình là có lợi cho sự tiếp tục biến động của giá cổ phiếu theo chiều
hướng đó. Nhưng sau một thời gian dài tăng giảm, các cổ phiếu thường có một ngày có
khối lượng giao dịch rất lớn, đạt mức đỉnh điểm. Trong những ngày này, người mua,
hoặc người bán cuối cùng sẽ là những người được lợi nhất. Sau đó, giá trị của cổ phiếu
đó sẽ thay dổi theo chiều hướng ngược lại vì sẽ không còn có đủ lượng người tham gia
giao dịch để làm cho giá biến chuyển theo chiều hướng đó
Mô hình và chỉ số
Làm thế nào bạn có thể biến những đường vô tận biểu thị các dữ liệu trên biểu đồ thành
một dạng logic mà không cần sự can thiệp của các thao tác kỹ thuật ? Các biểu đồ cho
phép các nhà đầu tư và kinh doanh nhận biết hành vi giá cả thị trường cả trong quá khứ
và hiện tại để làm cơ sở hợp lý cho việc dự báo cũng như đưa ra các quyết định khôn
ngoan. Nó gần giống như công cụ trực giác, trái ngược với quan điểm của các nhà phân
tích giá trị.
Biểu đồ cổ phiếu có khả năng tác động tới các chức năng của cả hai bán cầu não về tư
duy logic và tính sáng tạo. Quan điểm này đã gây tranh cãi trong giới phân tích đầu tư
trong suốt thế kỷ qua.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status