Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
LỜI MỞ ĐẦU
Bối cảnh
Ngành đầu tư chứng khoán tuy đã 10 năm tuổi, nhưng vẫn được xem là lĩnh vực
đầu tư khá mới so với các ngành khác trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, và cũng rất
non trẻ so với chứng khoán của các nước trong khu vực. Tuy đã qua thời kỳ sôi động,
nhưng hấp lực của thị trường chứng khoán (TTCK) đến các NĐT vẫn còn khá lớn. Vì
vậy những vấn đề đi kèm, như: thông tin dùng để phục vụ cho lĩnh vực này cũng rất sôi
động. Không phải NĐT nào cũng trang bị kỹ cho mình kiến thức về đầu tư chứng khoán.
Sự dễ dàng để tung ra một hay nhiều thông tin với tốc độ phát tán cực nhanh mà công
nghệ thông tin mang lại, thì càng làm cho sự tiện ích của thông tin tác động đến NĐT
biết chọn lọc, hay tác hại đến những ai tùy tiện tin vào đó.
Lực lượng các NĐT cá nhân, tổ chức hùng hậu, tuy nhiên mỗi người có một
chiến lược đầu tư riêng. Có trường phái đầu tư mạo hiểm, đầu tư chỉ dựa vào tin đồn
thổi, không quan tâm đến các báo cáo tài chính hay chỉ số… Có nhóm người chỉ thích
“lướt sóng”, mua bán ngắn hạn trong vài ngày với mục tiêu lợi nhuận thấp, thậm chí còn
có tư tưởng “được ăn cả ngã về không”… Không thể phủ nhận những thành công của
họ, nhưng song song đó là những rủi ro đến với những NĐT non kinh nghiệm. Bên cạnh
đó có những NĐT “có kỷ luật, nhẫn nại” hơn, đầu tư có phân tích nghiên cứu, mà đại đa
số đối tượng này thuộc NĐT tổ chức.
Sử dụng thông tin như thế nào cho đúng?
“Nếu như chìa khóa của vấn đề là toàn bộ thông tin trong quá khứ thì những
người giàu nhất phải là những người trông thư viện” – Warren Buffett
NĐT tổ chức thường có đội ngũ nghiên cứu để theo dõi và đánh giá tình hình vỹ
mô, tình hình doanh nghiệp một cách bài bản, có thể tiếp cận được với các doanh nghiệp
trong “tầm ngắm” để có thông tin chính xác, “diễn dịch” được các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp thành những quyết định mua bán tin cậy. Quá trình đầu tư chất xám này
đòi hỏi mục tiêu lợi nhuận rất cao; và tất nhiên là thời gian hoàn vốn dài. Việc nghiên
cứu phân tích trước khi đầu tư này thật sự cần thiết với những NĐT chuyên nghiệp, đặc
1/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
đề tài.
• Chương 2: giới thiệu khái quát về Satico Corp, là công ty giúp tôi có được
những kiến thức thực tế để đưa vào Báo cáo này. Trình bày về quá trình hình thành, phát
triển, cơ cấu tổ chức và sơ nét về định hướng đầu tư của Satico Corp.
• Chương 3: để bài khóa luận tốt nghiệp được thực tế hơn, tôi chọn một cổ
phiếu công ty từ Danh mục đầu tư của Satico Corp đưa vào minh họa cho quá trình
nghiên cứu phân tích đầu tư, đó là cổ phiếu của HPT Vietnam, vào thời điểm bắt đầu đầu
tư HPT là cổ phiếu giao dịch tự do trên thị trường OTC, đến thời điểm này đang được
giao dịch trên sàn UpCOM..
Trong chương này còn trình bày về quá trình nghiên cứu phân tích HPT
Vietnam, bỏ qua giai đoạn chọn lọc đối tượng đầu tư, bài khóa luận bắt đầu từ việc thu
thập, xử lý thông tin để cho ra kết quả của việc phân tích, thông qua cái nhìn từ những
báo cáo nghiên cứu, những con số thực tế giúp NĐT có cơ sở đưa ra quyết định đầu tư.
Cuối cùng là phần nêu nhận xét về công việc nghiên cứu phân tích đầu tư có
tác dụng như thế nào trong bối cảnh lượng cung các loại chứng khoán trên thị trường
hiện nay khá cao, có đa dạng các loại sản phẩm để NĐT lựa chọn. Giải đáp các câu hỏi:
NĐT nên dựa vào đâu để ra quyết định đầu tư? Có phải việc đầu tư có phân tích là đầu
tư an toàn?
3/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH & ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN
1.1Đầu tư chứng khoán
1.1.1 Khái niệm Đầu tư chứng khoán
Chứng khoán là chứng chỉ xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành, bao gồm: cổ phiếu, trái
phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán và các chứng khoán khác theo quy định của
pháp luật.
TTCK là nơi giao dịch mua bán các chứng khoán trung và dài hạn, bao gồm chủ
chênh lệch giá.
Chỉ số chứng khoán. Chỉ số chứng khoán có thể hiểu đơn giản là thước đo bình
quân giá các chứng khoán giao dịch trên thị trường. Các NĐT có thể căn cứ vào chỉ số
chứng khoán để xác định hiệu quả đầu tư của mình. Lấy ví dụ, hôm nay, chỉ số chứng
khoán Việt Nam (VN Index) tăng từ 150 điểm lên 152 điểm, tức tăng 1,3% trong ngày.
Nếu một cổ phiếu ABC cụ thể tăng từ 50.000 đồng/cổ phiếu lên 52.000 đồng/cổ phiếu,
tức tăng 4%, cao hơn mức tăng 1,3% của giá cổ phiếu chung trên thị trường thì có thể
nói cổ phiếu ABC đã hoạt động tốt hơn so với bình quân thị trường trong ngày hôm nay.
1.1.2 Công ty đại chúng
Công ty đại chúng là công ty cổ phần đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công
chúng; hoặc có ít nhất 100 cổ đông và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở
lên; hoặc là công ty cổ phần có cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán/Trung
tâm giao dịch chứng khoán. Vì vậy, tuy có cùng cấu trúc và tính chất, nhưng xét về điều
kiện, công ty đại chúng phải tuân thủ nhiều nguyên tắc hơn công ty công ty cổ phần.
Cổ phiếu của một công ty đại chúng có thể giao dịch trên thị trường tự do (sàn
OTC) hoặc/và thị trường niêm yết. Điều kiện để 1 công ty đại chúng có thể niêm yết trên
sàn giao dịch chứng khoán có phần “khó thở” hơn, khi phải đảm bảo các điều kiện về
vốn tối thiểu (10 tỷ hoặc 80 tỷ tùy vào từng Sở giao dịch), về kết quả kinh doanh (1 hoặc
5/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
2 năm kề trước hoạt động có lợi nhuận và không có lỗ lũy kế), thông tin tài chính minh
bạch…
Trên thị trường chứng khoán niêm yết, mỗi công ty đại chúng được biết đến với
mã chứng khoán- là 3 chữ cái viết hoa (ví dụ: Ngân hàng TMCP Á Châu – Mã CK:
ACB), nhằm giúp NĐT dễ dàng nhớ đến công ty phát hành cổ phiếu. Riêng thị trường
OTC, tên của các chứng khoán giao dịch được đặt tự do, thường là theo tên giao dịch
của công ty đại chúng. Tính đến thời điểm ngày 07/07/2010, thống kê số lượng mã
chứng khoán được niêm yết trên sàn là 250 mã (HOSE), 308 mã (HNX), 78 mã
(UpCOM), và hơn 1.000 mã chứng khoán được giao dịch trên thị trường OTC.
1.1.3 Cách thức đầu tư chứng khoán
7/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
Lưu ý: NĐT chỉ có thể giao dịch mua bán chứng khoán thông qua trung gian - công ty
chứng khoán chứ không được giao dịch trực tiếp tại TTGDCK hoặc trực tiếp với nhau...
1.2Phân tích tài chính
1.2.1 Khái quát
Phân tích đầu tư tài chính là việc ứng dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích đối
với các báo cáo tài chính tổng hợp và mối liên hệ giữa các dữ liệu để đưa các dự báo và
các kết luận hữu ích trong phân tích hoạt động kinh doanh. PTTC còn là việc sử dụng
các báo cáo tài chính để phân tích năng lực và vị thế tài chính của một công ty, và để
đánh giá năng lực tài chính trong tương lai.
1.2.2 Vai trò của việc phân tích
o Cung cấp kết quả phân tích, giúp NĐT ra quyết định.
o PTTC làm giảm bớt các nhận định chủ quan, dự đoán và những trực giác
trong kinh doanh, góp phần làm giảm bớt tính không chắc chắn cho các
hoạt động kinh doanh.
o PTTC giúp xác định giá CK. CK đó đáng giá bao nhiêu và lúc nào nên
mua-bán là một câu hỏi mà bất cứ NĐT nào cũng mong mình giải đúng.
o Quá trình phân tích sẽ giúp cho NĐT thấy được điều kiện tài chính chung
của doanh nghiệp, đó là doanh nghiệp hiện đang ở trong tình trạng rủi ro
mất khả năng thanh toán? hay đang làm ăn tốt và có lợi thế trong kinh
doanh khi so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành hoặc đối thủ cạnh
tranh?
o Thông qua các hệ số tài chính, NĐT thấy được tình trạng tài chính và hoạt
động của đối tượng phân tích có vững mạnh không? và liệu các hệ số nói
chung của nó tốt hơn hay tồi tệ hơn so với hệ số của các công ty cùng
ngành?
o Ngoài ra, việc phân tích các hệ số tài chính cũng cho phép NĐT hiểu rõ
hơn mối quan hệ giữa bảng cân đối tài sản và các báo cáo tài chính (ví dụ
như để tính toán thu nhập trên đầu tư của một công ty cần phải lấy số liệu
quyết định tỷ lệ phát triển của bất kỳ công ty nào tại Việt Nam đều là do năng lực và tính
cách của đội ngũ quản lý.
Công ty tiềm năng phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao về báo cáo tài chính, kể cả
việc sổ sách kế toán phải được một công ty kiểm toán có uy tín kiểm toán tối thiểu một
10/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
lần mỗi năm, quản trị doanh nghiệp chặt chẽ, công bố thông tin kịp thời, để quyền của cổ
đông thiểu số không bị xâm phạm.
1.3Khái quát một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu
1.3.1 Chỉ số giá trên thu nhập - P/E
Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - P) và thu
nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:
1.3.2 Chỉ số Giá trên Giá trị sổ sách P/B
Chỉ số P/B (Price-to-Book ratio – Giá/Giá trị sổ sách) là tỷ lệ được sử dụng để so
sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỷ lệ này được tính toán
bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất
của cổ phiếu đó. Công thức tính như sau:
1.3.3 Chỉ số thanh
toán cổ tức - DPS/EPS
Chỉ số này nói lên lợi ích của cổ đông chiếm bao nhiêu phần trăm trong thu nhập.
Tỷ lệ chi trả cổ tức là chỉ tiêu mà các NĐT quan tâm, nhất là với tâm lý đầu tư của NĐT
Việt nam, thường cho các tin chia cổ tức là tin tốt. Hơn nữa với NĐT dài hạn, thì khoản
thu nhập từ cổ tức có thể bù đắp cho chi phí sử dụng vốn.
1.3.4 Hệ số khả năng thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là mối tương quan giữa tài sản lưu động và
các khoản nợ ngắn hạn, hệ số này cho thấy mức độ an toàn của công ty trong việc đáp
ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn.
11/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Giá cổ phiếu
ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng
vốn đầu tư (hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn
và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so
sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so
giữa các công ty tương đồng nhau.
12/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai
nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc
chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA phải cao hơn lãi suất
cho vay và càng cao thì càng tốt.
Lợi nhuận ròng
ROA = ——————
Tổng tài sản
c. Hệ số thu nhập trên cổ phần (ROE).
Hệ số ROE là thước đo khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường,
ROE cao chưa hẳn là tốt, cần phải xem xét:
+ Nếu ROE tăng do ROA tăng thì tốt.
+ Nếu ROE tăng do tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu tăng thì chưa chắc đã tốt vì
nó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp vay nợ nhiều lên
Lợi nhuận ròng sau thuế
ROE = ——————————————————
Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình
13/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
CHƯƠNG II. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY SATICO
2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tên đơn vị: CÔNG TY CP ĐẦU TƯ PHÂN PHỐI SATICO
Tên giao dịch: SATICO CORP
Giấy phép ĐKKD số: 0305054056 cấp lần đầu ngày 26/06/2007
hoạt động chính, tuy nhiên chú trọng hơn vào công tác nghiên cứu tìm ra các cổ phiếu
tiềm năng để tăng chủng loại cổ phiếu trong danh mục đầu tư.
Năm 2009, để thích nghi với tình hình thực tế, Satico Corp chỉ duy trì lượng
khách hàng cũ của mảng tư vấn đầu tư mà không tập trung nguồn lực nhân sự để tìm
kiếm khách hàng. Bên cạnh đó, cơ cấu lại Danh mục đầu tư cho hiệu quả hơn khi vẫn
còn chịu ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế.
Năm 2010, đề ra chiến lược tìm kiếm thêm 2 công ty khác để đầu tư, “tầm ngắm”
vẫn là các công ty nhỏ, tiềm năng và trị giá vốn thấp. Và lập kế hoạch tăng vốn lên
3.000.000USD bằng cách huy động vốn góp từ các cổ đông hiện hữu.
2.2 Lĩnh vực hoạt động, cơ cấu vốn
2.2.1 Lĩnh vực hoạt động:
Lĩnh vực hoạt động chính: đầu tư tài chính, tư vấn đầu tư, quản lý kinh doanh.
15/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
Satico Corp bước vào hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần và hoạt động tư
vấn về tài chính cho các đối tượng cá nhân nước ngoài muốn tham gia lĩnh vực đầu tư
chứng khoán tại thị trường Việt Nam. Ngoài ra còn tham gia tư vấn hoạt động kinh
doanh cho các công ty mà Satico Corp có tham gia góp vốn, với tư cách là NĐT chiến
lược.
Tuy nhiên phương hướng phát triển chính của Satico Corp là hoạt động đầu tư tài
chính, tìm kiếm những khoản lợi nhuận từ việc mua bán chứng khoán, và chủ yếu là đầu
tư dài hạn 3 5 năm, hoặc có thể dài hơn. Đó là việc sở hữu cổ phần của các công ty
tiềm năng như Công ty Cổ phần Công nghệ Tin học HPT (HPT Vietnam), Công ty CP
xây dựng và kinh doanh Địa ốc Hòa Bình, Công ty CP XNK Intimex TPHCM, Công ty
Cổ phần Địa ốc Đà Lạt (Dalatreal)… Bằng việc phát triển mảng đầu tư tài chính, tìm
kiếm các công ty tiềm năng, nghiên cứu phân tích tài chính để đầu tư nguồn vốn lâu dài
và bền vững, đồng thời thiết lập vị trí và nâng cao vai trò trọng yếu của mình trong Hội
đồng Quản trị tại các công ty này. Và hiện nay Satico Corp đã là thành viên HĐQT của 2
công ty HPT Viet Nam và Hòa Bình, đồng thời là thành viên Ban kiểm soát của
Dalatreal.
Tài sản đầu tư
67.99%
Tài sản đầu tư
Tiền mặt
Khoản phải thu
Quỹ dự trữ
Lỗ tạm tính
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu sử dụng vốn của Satico Corp ngày 31/12/2009
Cơ cấu tài sản nói trên là cơ cấu tài sản đầu tư mục tiêu dài hạn phù hợp với
chiến lược đầu tư của Satico Corp. Trong những trường hợp đặc biệt (theo quyết định
của nhà quản lý), cơ cấu tài sản có thể thay đổi để phù hợp với tình hình thị trường.
17/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
2.3 Cơ cấu tổ chức
2.3.1 Văn hóa công ty
Hình thành nét văn hóa riêng của Satico Corp
· Làm việc theo nhóm: Một tập thể làm việc hợp tác và hiệu quả là yếu tố thiết
yếu cho sự thành công. Vì vậy Satico Corp luôn tạo điều kiện để các cá nhân làm việc
theo nhóm, kết quả đạt được của đội chính là thành quả của mỗi cá nhân. Sự đóng góp
và hợp tác của từng thành viên sẽ tạo ra sức mạnh của cả Công ty.
· Trao đổi thông tin: Nhân viên được khuyến khích chia sẻ các quan điểm, tìm
kiếm thông tin, cung cấp dữ liệu và giải quyết những vướng mắc cùng với cấp trên trực
tiếp; khi cần thiết cũng có thể tham khảo ý kiến của bất kỳ thành viên nào trong Ban
Lãnh đạo để đi đến giải pháp sau cùng. Trưởng bộ phận luôn lắng nghe ý kiến của thành
viên, khuyến khích những nỗ lực và tìm giải pháp cho những khó khăn mà nhân viên gặp
phải. Ban Giám đốc không chấp nhận cách truyền đạt thông tin sai lệch, đồn thổi, gây
chia rẽ nội bộ làm tinh thần làm việc và quan hệ đồng nghiệp trở nên đố kỵ và thiếu hợp
tác.
· Tôn trọng giá trị Nhân viên: Satico Corp luôn xem con người là nguồn lực quý
giá nhất. Vì thế, Satico Corp luôn tạo mọi điều kiện để nhân viên phát huy hết tiềm năng
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
b. Giám đốc:
- Giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, có nhiệm vụ tổ chức, điều hành và
quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty theo những mục tiêu,
chiến lược, kế hoạch đã được Hội đồng Quản trị và Đại hội đồng cổ đông thông qua.
- Hoạch định, chỉ đạo thực hiện kế hoạch đầu tư cụ thể đến các bộ phận có liên
quan.
- Đại điện tiếp xúc, quan hệ với cấp lãnh đạo của các công ty tiềm năng.
c. Phòng Tài chính – Kế toán:
- Thực hiện các chức năng ghi chép và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính
phát sinh và báo cáo trực tiếp Giám đốc.
- Tham mưu với Giám đốc trong việc xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất kinh
doanh, các công tác dài hạn chính trong phạm vi toàn Công ty.
- Theo dõi, ghi chép các phát sinh liên quan đến Quỹ đầu tư chứng khoán.
- Hỗ trợ BP. Nghiên cứu Đầu tư để làm báo cáo phân tích các công ty tiềm năng.
d. Phòng Nghiên cứu Đầu tư:
- Tham mưu Giám đốc xây dựng kế hoạch đầu tư nguồn vốn sẵn có gắn liền với
nhiệm vụ của Công ty.
- Nghiên cứu nắm bắt thị trường, tìm kiếm, nghiên cứu các công ty tiềm năng
giúp Giám đốc đưa ra quyết định đầu tư.
- Thường xuyên cập nhật thông tin về các công ty sở hữu cổ phần, đánh giá hiệu
quả đầu tư.
- Tổ chức trực tiếp tham gia các hoạt động đầu tư tài chính, thực hiện nghiệp vụ
tư vấn doanh nghiệp, giám sát kết quả sản xuất kinh doanh của các công ty sở hữu cổ
phần.
20/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
e. Phòng Hành chính – Quản trị nhân sự:
- Thực hiện công tác quản lý, hướng dẫn về lĩnh vực công tác hành chính quản trị
toàn công ty.
chứng khoán, thậm chí các dịch vụ báo cáo tài chính độc lập, đưa ra một chỉ số P/E khác
nhau cho một mã chứng khoán và mức chênh lệch cũng khá xa. Có thể các công ty
chứng khoán hoặc các đơn vị cung cấp thông tin sử dụng những phương pháp hiệu chỉnh
riêng để phù hợp với bản chất con số, nhưng sự khác biệt so với báo cáo gốc của doanh
nghiệp (thường đã được kiểm toán) không được giải thích làm cho người sử dụng thông
tin không biết tin vào ai.
Hai là, tùy theo đặc thù từng ngành nghề của Công ty được phân tích mà Người
phân tích phải nghiên cứu những khía cạnh thông tin nào cho phù hợp. Mà các thông tin
có sẵn thì thường là theo một form mẫu chuẩn, không phù hợp nhu cầu của người sử
dụng thông tin.
Ba là, các thông tin có sẵn có thể bị bóp méo nhằm mục đích kiếm lợi cá nhân,
không thể tùy tiện tin vào.
Bốn là, muốn có được Báo cáo phân tích chuyên sâu thì cần phải tự phân tích, vì
thông tin sẵn có thường là thông tin tổng quát, chưa đủ cơ sở để ra quyết định đầu tư.
2.4.2 Chiến lược đầu tư
Satico Corp đề ra những quy định nghiêm ngặt trong đầu tư để người ra quyết định
không đi sai định hướng ban đầu. Đó là những nguyên tắc mà Satico Corp đã đúc kết từ
những công ty quản lý quỹ lớn, có bề dày kinh nghiệm.
2.4.2.1 Mục tiêu đầu tư
Satico Corp sẽ đầu tư vào danh mục đầu tư tăng trưởng và đa dạng hóa, phần lớn
tập trung vào những cổ phiếu của các công ty hoạt động tại Việt Nam có tốc độ tăng
trưởng lợi nhuận cao và tiềm năng phát triển lâu dài; bao gồm các công ty (i) có cơ hội
phát triển tốt trong thời kỳ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, có cơ cấu tổ chức đồng bộ,
minh bạch và có vị trí nhất định trên thị trường có liên quan; và (ii) có hệ thống quản trị
22/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
công ty tốt, đội ngũ quản lý dày dạn kinh nghiệm, chiến lược kinh doanh bền vững và
tình hình tài chính lành mạnh.
2.4.2.2 Lĩnh vực đầu tư
• Công nghệ thông tin
• Không đầu tư trực tiếp vào bất động sản.
• Phương pháp lựa chọn đầu tư
- Đối với cổ phiếu: Satico Corp sẽ tập trung đầu tư vào các công ty chưa
niêm yết và có kế hoạch niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Tiêu chí lựa chọn các công ty này như đã nêu bên trên. Tiếp theo đó,
Satico Corp sẽ tiến hành phân tích các đối tượng đầu tư nhằm quyết định
tỉ lệ phân bổ tài sản của mình vào các đối tượng đó.
Satico Corp sẽ áp dụng nguyên tắc quản lý được gọi là “định hướng tăng
trưởng giá trị” theo đó các khoản đầu tư tăng trưởng sẽ được thực hiện sau
khi Công ty đã xem xét kỹ mức giá và thời điểm đầu tư.
- Đối với các công cụ nợ: Công ty sẽ áp dụng chính sách quản lý tích cực
trong đầu tư vào công cụ nợ, thường dưới hình thức những khoản tiền gởi
ngân hàng có kỳ hạn. Satico Corp cũng sẽ đầu tư vào trái phiếu chuyển
đổi của các công ty có các tiêu chuẩn được nêu tại phần Mục tiêu đầu tư.
24/56 SVTH: Hàng Anh Thư
Khóa luận Tốt nghiệp GVHD: ThS. Ngô Ngọc Cương
CHƯƠNG III. PHÂN TÍCH – RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
3.1 Giới thiệu về 1 công ty tiêu biểu trong Danh mục đầu tư – HPT Vietnam
3.1.1 Sơ nét về HPT Vietnam
- Tên Công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TIN HỌC HPT
- Tên tiếng Anh : HPT VIETNAM CORPORATION
- Trụ sở : 60 Nguyễn Văn Trỗi, Q. Phú Nhuận, Tp. HCM.
- Website :
- Lĩnh vực hoạt động: HPT cung cấp các dịch vụ phần mềm cho thị trường trong và
ngoài nước, đặc biệt cho lĩnh vực phân phối bán lẻ. Bên cạnh các phần mềm đóng gói do
HPT tự xây dựng như: Chương trình Quản lý nhân sự, Chương trình Quản lý kho hàng
v.v.., HPT còn phát triển các phần mềm ứng dụng theo yêu cầu đặc thù của doanh
nghiệp; gia công, xuất khẩu phần mềm theo yêu cầu; phát triển web và giải pháp thương
mại điện tử; tư vấn và triển khai giải pháp ERP; tư vấn, thiết kế và triển khai các giải
pháp ứng dụng dựa trên công nghệ tiên tiến của Oracle và Microsoft