Tài liệu Đa đạng sinh học và nhận thức của người dân sống ở vùng đệm khu bảo tồn ... - Pdf 95

VIETNAM
Các quyết định về vấn đề sử dụng đất tại Việt Nam thường chỉ dựa trên những đánh giá
về kinh tế và sinh vật lý, mà ít quan tâm đến những quan điểm hoặc nhận thức của người
dân địa phương. Điều này có thể dẫn đến các mâu thuẫn trong quá trình quản lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên, việc sử dụng đất không mang tính bền vững và các quyết định không
công bằng đối với người dân địa phương. Bản Khe Trăn, một bản làng tại miền Trung Việt
Nam, là nơi cư trú của một nhóm dân cư thuộc nhóm dân tộc thiểu số Pahy. Động lực của
sự thay đổi trong vùng là những chính sách sử dụng đất khác nhau, là kết quả của phương
pháp tiếp cận ‘từ trên xuống’ của chính phủ, và những thay đổi hệ quả về thực trạng rừng
địa phương.
Sinh kế ở địa phương đã chuyển từ hình thức du canh du cư và sự lệ thuộc lớn vào rừng tự
nhiên sang hình thức định canh định cư. Bản Khe Trăn hiện đang thuộc vùng đệm của khu
bảo tồn thiên nhiên vừa mới được quy hoạch, và chính phủ khuyến khích người dân ở đây
trồng các loại cây kinh tế ở các đồi trống quanh bản. Sự phụ thuộc của người dân vào các
nguồn tài nguyên rừng đã giảm đi đáng kể, và hầu hết kiến thức địa phương về rừng tự
nhiên có thể sớm bị mai một. Vùng đất chính bao phủ quanh bản hiện tại là các rừng trồng
Keo và Cao su, đất trống, và đất trồng cây nông nghiệp.
Kiến thức và quan điểm của địa phương ít khi được các cơ quan nhà nước quan tâm trong
quá trình triển khai các dự án giao khoán đất, quá trình ra quyết định về công tác quản lý
nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng như việc sử dụng đất ở cấp độ cảnh quan. Cần có cơ hội
để thông tin được tốt hơn đến các tổ chức phát triển và liên kết các bên tham gia ở cấp địa
phương để đạt được tính bền vững của việc thực hiện các chính sách. Quyển sách này ghi
lại những vấn đề mà người dân bản Khe Trăn cho là quan trọng xét trên phương diện môi
trường và các nguồn tài nguyên ở địa bàn sống của họ. Phương pháp tiếp cận của chúng tôi
liên kết các hoạt động đa ngành - thông qua các ngành khoa học tự nhiên, nhân văn - và lý
giải tầm quan trọng tương đối của các thành phần cảnh quan, các sản phẩm và các loài đối
với người dân địa phương. Quyển sách này cũng nhằm mục đích nối kết tốt hơn các ưu tiên
của người dân địa phương trong tương lai, cũng như nối kết những kỳ vọng, các giá trị cũng
như các mối quan hệ của người dân với vùng bảo tồn.
Đa đạng sinh học và nhận thức của người dân
sống ở vùng đệm khu bảo tồn về đa dạng sinh học:

7. Việt Nam I. Mục đề
© 2006 by CIFOR
All rights reserved. Published in 2006
Printed by Inti Prima Karya, Jakarta
Bản quyền của CIFOR. Xuất bản năm 2006 In tại nhà in Inti Prima Karya,
Jakarta
Thiết kế bởi Catur Wahyu và Gideon Suharyanto
Ảnh của Manuel Boissière và Imam Basuki
Ảnh trang bìa, từ trái sang phải:
- Một người dân địa phương đang làm đất gieo đậu lạc trên mảnh đất trước đây từng là ruộng
lúa nước, Khe Trăn.
- Một cô gái trẻ đang gánh cây keo con lên đồi để trồng.
- Người dân địa phương thảo luận về tương lai của khu bảo tồn Phong Điền
- Các loại đất ở Khe Trăn: đồi trọc, đất thổ cư và vườn nhà, ruộng lúa nước, và khu rừng bảo tồn
Sách do Center for International Forestry Research (Trung tâm nghiên cứu
rừng quốc tế) xuất bản
Jl. CIFOR, Situ Gede, Sindang Barang
Bogor Barat 16680, Indonesia
Tel.: +62 (251) 622622; Fax: +62 (251) 622100
E-mail:
Web site:
iii
Mục lục
Từ viết tắt và thuật ngữ vii
Lời cám ơn ix
1. Bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu 1
2. Phương pháp nghiên cứu 3
Các hoạt động tại bản 3
Các hoạt động ngoài thực địa 5
3. Kết quả nghiên cứu 8

8.3. Vấn đề sử dụng các loài cây gỗ 62
8.4. Vấn đề sử dụng các loài cây phi gỗ 62
8.5. Rừng là nguồn cung cấp các loài thực vật hữu ích 64
8.6. Các loài có công dụng không thể thay thế được 65
8.7. Lưu ý về tiềm năng sử dụng của một số loài 66
Tóm tắt 66
9. Nhận thức của người dân về công tác bảo tồn 67
Tóm tắt 70
10. Kết luận và khuyến nghị 71
10.1. Kết luận 71
10.2. Khuyến nghị 75
Tài liệu tham khảo 77
Phụ lục 79
1. LUVI (giá trị trung bình) của các loài thực vật quan trọng dựa trên các
hạng mục sử dụng khác nhau (kết quả dựa vào hoạt động đánh giá bằng
phương pháp cho điểm của bốn nhóm) 79
2. LUVI (giá trị trung bình) của các loài động vật quan trọng dựa trên các
hạng mục sử dụng khác nhau, kết quả dựa vào hoạt động đánh giá bằng
phương pháp cho điểm của bốn nhóm 83
3. Tên thực vật, họ, và tên địa phương của các mẫu thu thập được trong và
ngoài các ô điều tra, dựa trên hạng mục sử dụng 84
Đa dạng sinh học và nhận thức của người dân địa phương | v
Bảng biểu, hình ảnh và biểu đồ
Bảng biểu
1. Danh sách các thành viên nhóm nghiên cứu MLA ở bản Khe Trăn 3
2. Các sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến sinh kế của địa phương 21
3. Độ biến động của thu nhập dựa vào loại sản phẩm và khu vực định cư 22
4. Nhận diện các loại đất ở bản Khe Trăn 24
5. Phân nhóm các loại đất tại bản Khe Trăn 25
6. Những cây rừng quan trọng và giá trị sử dụng tại địa phương 30

26. Phân bố của các loài thực vật hữu ích trên một ô điều tra và trên các hạng
mục sử dụng 61
27. Các loài có ít nhất 4 công dụng 62
28. Phân bố của các loài cây gỗ hữu ích trên một ô điều tra và trên một hạng
mục sử dụng 63
vi | Mục lục
29. Phân bố theo ô và hạng mục sử dụng của các loài cây phi gỗ hữu ích 64
30. Nhận thức của người dân về bảo tồn và khu bảo tồn Phong Điền 69
Các biểu đồ và hình ảnh
1. Hoạt động đánh giá bằng phương pháp cho điểm (PDM) của nhóm nam
bản Khe Trăn 5
2. Hoạt động Khảo sát ở ô điều tra 6
3. Vị trí của bản Khe Trăn tại vùng đệm của khu bảo tồn Phong Điền 16
4. Địa thế bản Khe Trăn 18
5. Chăn nuôi và trồng Keo đóng vai trò quan trọng tại bản Khe Trăn 20
6. Một phụ nữ ở phần thấp của bản đang thu hoạch mủ cao su ở đồn điền
của mình 22
7. Diện tích đáng kể đất trống ở bản Khe Trăn được sử dụng để trồng
rừng Keo 25
8. Đa dạng sinh học và bản đồ phân bố tài nguyên ở bản Khe Trăn 27
9. Phân loại đất theo mức độ quan trọng (tất cả các nhóm) 31
10. Tầm quan trọng của các loại rừng (tất cả các nhóm) 32
11. Tầm quan trọng của rừng theo thời gian (tất cả các nhóm) 35
12. Nguồn của các loại sản phẩm quan trọng (tất cả các nhóm) 37
13. Tầm quan trọng của các nguồn lợi từ rừng, phân loại dựa trên hạng mục
sử dụng (kết quả chung của tất cả các nhóm) 38
14. Cơn lũ gần đây làm ngập cầu nối Phong Mỹ với Khe Trăn 44
15. Tỷ lệ các ô điều tra trên các loại đất ở Khe Trăn (tổng số ô điều tra là 11 ô) 47
16. Phân bố của các ô điều tra ở vùng nghiên cứu 49
17. Số lượng tích luỹ của các loài phi gỗ với sự gia tăng về số lượng các các ô

hoạch rừng)
FPD Forest Protection Department (Chi cục kiểm lâm)
GoV Government of Vietnam (Chính phủ Việt Nam)
HUAF Hue University of Agriculture and Forestry (Trường Đại học Nông
Lâm Huế)
IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural
Resources (Hội bảo vệ thiên nhiên và các nguồn tài nguyên quốc tế)
viii | Từ viết tắt và thuật ngữ
Loại đất Tập hợp các loại đất được che phủ bởi rừng tự nhiên hoặc được con
người sử dụng cho các hoạt động khác nhau
Sử dụng đất Tập hợp các loại đất được con người sử dụng cho các mục đích
khác nhau
Cảnh quan Là khái niệm mang tính phổ quát chứ không đơn thuần là tổng hợp
của các hợp phần ví dụ như địa hình, đất, và việc sử dụng đất
Khu vực dưới Khu vực của thôn thuộc phần dưới của ngọn Ô Lâu
LUVI Local User Value Index (Chỉ số sử dụng của địa phương)
MLA Multidisciplinary Landscape Assessment (Đánh giá cảnh quan đa
ngành)
NTFP Non-Timber Forest Product (Sản phẩm phi gỗ)
PDM Pebble Distribution Method (Đánh giá bằng phương pháp bỏ hạt)
PDNR Phong Dien Nature Reserve (Khu bảo tồn Phong Điền)
PPC Province Peoples Committee (Hội đồng nhân dân tỉnh)
SDC Swiss Development Cooperation (Hiệp hội phát triển Thuỵ Sĩ)
SFE State Forest Enterprises (Lâm trường nhà nước)
TBI-V Tropenbos International-Vietnam (Tropenbos quốc tế tại Việt Nam)
Khu vực trên Khu vực của thôn thuộc phần trên của ngọn Ô Lâu
USD US Dollar (Đô La Mỹ)
Village Là một nhóm hộ thuộc xã nhưng không được nhìn nhận là đơn vị
quản lý có tư cách pháp nhân ở Việt Nam
VND Vietnamese Dong (Đồng tiền Việt Nam (1 USD ước khoảng 15.700


1
1. Bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu
Việt Nam đã và đang trong quá trình đổi mới công tác quản lý rừng dưới sự đồng
thuận của các hộ gia đình và các tổ chức địa phương (Barney 2005). Chính phủ ngày
càng trao cho người dân địa phương nhiều quyền hơn trong công tác quản lý rừng. Tuy
nhiên trong môi trường biến động hiện nay, việc nhận thức về quyền của người dân địa
phương vẫn còn hạn chế, các cơ quan nhà nước còn ít quan tâm đến kiến thức và quan
điểm của địa phương trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như
việc phân cấp quản lý. Thách thức được đặt ra là làm thế nào để các bên tham gia hiểu
rõ hơn về quan điểm của các cộng đồng dân cư sống trông hoặc gần khu bảo tồn. Bên
cạnh đó, việc xác định rõ năng lực của địa phương trong công tác quản lý rừng nhằm
đảm bảo việc ra quyết định đạt hiệu quả cao là hết sức cần thiết.
Các bên tham gia và đa dạng sinh học ở cấp địa phương là kết quả hợp tác kéo
dài 3 năm giữa Trung tâm Nghiên cứu rừng Quốc tế (CIFOR) và Tổ chức Hợp tác Phát
triển Thụy Sỹ (SDC). Tropenbos Quốc tế tại Việt Nam (TBI-V) giữ vai trò là cộng tác
đắc lực trong việc điều phối việc thực thi các hoạt động của dự án. Mục tiêu của dự
án là nhằm góp phần nâng cao sinh kế của các cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào
rừng, đồng thời đẩy mạnh công tác quản lý rừng bền vững. Việc nâng cao năng lực
của địa phương trong việc lập kế hoạch và triển khai công tác quản lý rừng được xem
là chiến lược để đạt được các mục tiêu trên. Dự án tập trung nghiên cứu những cộng
đồng, nơi người dân và chính quyền địa phương đã được giao nhiều quyền và trách
nhiệm hơn trong việc quản lý rừng, đồng thời cổ xuý cho cơ chế quản lý rừng dựa
vào cộng đồng, cơ chế mà nhu cầu cũng như ý kiến của người dân, đặc biệt là người
nghèo, được các nhà lập chính sách ở cấp địa phương cân nhắc kỹ trong quá trình ra
quyết định.
Đánh giá cảnh quan đa ngành, gọi tắt là MLA, là tập hợp các phương pháp do
nhóm các nhà nghiên cứa khoa học thuộc tổ chức CIFOR phát triển, hướng đến việc
xác định “những yếu tố quan trọng đối với các cộng đồng địa phương xét trên phương
diện cảnh quan, các chức năng của môi trường, và nguồn tài nguyên”. Phương pháp


Hà Thị Mừng Kinh tế xã hội
Imam Basuki Kinh tế xã hội
Lê Hiền Kinh tế xã hội
Meilinda Wan Kinh tế xã hội
Douglas Sheil Sinh thái học
Piia Koponen Sinh thái học
Nguyễn Văn Lực Thực vật học
Vũ Văn Cần Thực vật học Tel. 04-861-6946
Hồ Thị Bích Hạnh Phiên dịch viên
Nguyễn Quý Hạnh Phiên dịch viên
Trần Thị Anh Anh Phiên dịch viên
Các hoạt động tại bản
Nhóm nghiên cứu tại địa phận bản làng, gồm 1 đến 2 nhà nghiên cứu cùng sự trợ giúp
của một phiên dịch viên, đảm trách phần thu thập số liệu về kinh tế xã hội. Nhóm này
4 | Phương pháp nghiên cứu
sử dụng bảng câu hỏi và các bảng ghi dữ liệu để phục vụ cho quá trình phỏng vấn hầu
hết các hộ gia đình, các cá nhân am hiểu vấn đề, để ghi chép kết quả của các buổi họp
thôn, và thảo luận nhóm. Thông tin được thu thập từ các hộ gia đình tập trung vào các
vấn đề kinh tế xã hội (nhân khẩu học, các nguồn thu nhập và sinh kế), và các vấn đề về
văn hóa (lịch sử của bản, tổ chức xã hội, những câu chuyện kể và chuyện thần thoại,
tôn giáo). Bảng câu hỏi và các bảng ghi dữ liệu cũng thể hiện những thông tin cơ bản
về quan điểm của người dân địa phương về các vấn đề như giới, các mối đe dọa đối
với sự đa dạng sinh học và rừng, công tác bảo tồn và quản lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên cũng như quyền sở hữu đất đai.
Hoạt động lập sơ đồ thôn có sự tham gia được tiến hành trong những ngày đầu
tiên của nghiên cứu, dựa trên hai bản đồ nền và sự hỗ trợ của hai nghiên cứu viên trong
việc giải thích mục tiêu và các yêu cầu cần đạt của hoạt động. Các tham dự viên được
chia làm hai nhóm là nam và nữ để tiến hành lập hai sơ đồ thôn riêng biệt. Các nghiên
cứu viên thúc đẩy hoạt động lập sơ đồ thông qua việc thảo luận với người dân về

các tấm giấy đó.
Đa dạng sinh học và nhận thức của người dân địa phương | 5
Các hoạt động ngoài thực địa
Nhóm nghiên cứu thực địa gồm 4 nhà nghiên cứu khoa học với sự trợ giúp về ngôn
ngữ của một phiên dịch viên cùng hai người dân am hiểu về thực vật và một phụ tá
công tác thực địa. Nhóm đảm trách công việc thu thập thông tin về thực vật học, thực
vật dân tộc học và lịch sử các vùng đất nơi hoạt động thực địa được tiến hành. Việc
thu thập thông tin được tiến hành dựa vào phương pháp quan sát trực tiếp, đo đạc, và
phỏng vấn trực tiếp tại mỗi ô điều tra dựa vào bảng ghi dữ liệu.
Các hoạt động tại thực địa được quyết định và thiết kế phù hợp với nguồn thông
tin đã thu thập được tại bản làng. Nhóm nghiên cứu thực địa đã tiến hành thu thập
thông tin từ các ô điều tra (Biểu đồ/Hình 2). Nhóm chọn vị trí của các ô điều tra sau
khi đã được người dân xác định các loại đất. Việc lấy mẫu các loại đất được căn cứ
trên hạng mục các loại đất chính và các vị trí mà tại đó có sự tồn tại của các nguồn
tài nguyên quan trọng. Những người am hiểu vấn đề nghiên cứu của bản làng đi cùng
với nhóm nghiên cứu thực địa cũng đã giới thiệu rất chi tiết về lịch sử và quá trình sử
dụng của các vùng đất tại vị trí lập ô điều tra. Họ cũng cho biết công dụng và tên của
các loại lâm sản chính mà trước đây người dân thường khai thác. Dù nỗ lực lập ô điều
tra được thực hiện mang tính đại diện trên tất cả các loại đất, nhưng đất rừng được chú
trọng lập nhiều ô điều tra hơn do chúng có diện tích bao phủ lớn nhất, và so sánh với
các loại đất khác thì nó có số lượng loài trên một ô điều tra lớn nhất. Đa số các loại đất
đều được thiết lập một (ruộng lúa, rừng nguyên sinh) hoặc hai ô điều tra. Trong tổng
số 11 ô điều tra chính, có 110 tiểu ô được tiến hành khảo sát. Đối với các ô điều tra các
thông tin cơ bản như số liệu về cây gỗ và cây phi gỗ, số liệu chi tiết về dân tộc sinh
Biểu đồ (hình) 1. Hoạt động đánh giá bằng phương pháp cho điểm (PDM) của nhóm
nam bản Khe Trăn
6 | Phương pháp nghiên cứu
thái học đã được thu thập. Vị trí địa lý của các ô điều tra này cũng đã được xác định
bằng hệ thống định vị toàn cầu GPS. Tại các ô điều tra với mặt cắt ngang rộng 40 m,
được chia nhỏ thành 10 tiểu ô liên tiếp nhau với chiều rộng 5 m. Ở các ô này số liệu

dân tộc học đã được tiến hành đồng thời trên thực địa với sự tham gia của 12 người
dân am hiểu vấn đề nghiên cứu, thường chỉ có hai hoặc hơn hai người, cả nam lẫn
nữ, tại cùng một thời điểm. Sự góp mặt của những cá nhân này rất quan trọng trong
việc bảo đảm việc thu thập kiến thức của người dân về các giá trị sử dụng của các loài
thực vật và vị trí thực địa mang tính chính xác. Ví dụ, có năm người dân cho rằng chi
Bowringia, có mặt trong hai loại đất, (rừng thứ sinh và rừng nguyên sinh) được tìm
thấy tại bốn ô điều tra, không có giá trị sử dụng nào. Trong khi đó, hai người khác lại
cho rằng loài này được dùng làm củi, đồng thời, rễ của chúng có thể đem bán lấy tiền
mặt.
Ở mỗi ô điều tra, một số mẫu thực vật đã được thu thập thêm nhằm phục vụ cho
công tác nhận diện ở phòng phân lập mẫu về sau. Toàn bộ tập hợp mẫu này đã được
chuyển lại cho nhà thực vật học Vũ Văn Cần tại Hà Nội. Các mẫu được bảo quản
trong dung dịch cồn trước khi phơi khô và đem nhận diện. Một số loài được nhận diện
ngay tại thực địa, số còn lại được chuyển ra Hà Nội để tiếp tục nhận diện. Tên khoa
học của các chi và các loài được nhận diện dựa vào các tài liệu như Iconographia
Cormophytorum Sinicorum (Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc, Viện nghiên cứu
Thực vật 1972-1976), Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hồ 1993), Cây rừng Việt Nam
(Viện Điều tra và Quy hoạch Rừng 1996), Yunnan Kexue Chubanshe (Yunnan Shumu
Tuzhi 1990), và cơ sở dữ liệu về Phụ lục Tên các loài Thực vật Quốc tế (http://www.
ipni. org/); tên các họ trong Cẩm nang thực vật: Từ điển về các loài thực vật có mạch
(theo Mabberley 1997) và cơ sở dữ liệu về Phụ lục Tên các loài Thực vật Quốc tế duy
chỉ có họ Leguminosae sensu lato được tiến hành đặt tên theo cách phân họ của các
họ Mimosaceae, Fabaceae sensu stricto và Caesalpiniaceae.
Quá trình nghiên cứu tại bản Khe Trăn diễn ra trong hai giai đoạn, từ ngày 15
tháng 5 đến ngày 9 tháng 6 năm 2005, và từ ngày 2 đến ngày 15 tháng 10 năm 2005.
Giai đoạn đầu chủ yếu dành cho việc thu thập số liệu về tầm quan trọng của các loại
đất tại địa phương, trong khi đó ở giai đoạn hai, chúng tôi lại chú trọng hơn vào công
việc rà soát chất lượng, đa dạng sinh học và các khiá cạnh liên quan đến công tác
bảo tồn trên quan điểm của người dân địa phương. Trong suốt hai giai đoạn này, các
cán bộ thôn đã tham gia cùng nhóm nghiên cứu nhằm bảo đảm an toàn trong công

sinh học tại các vùng đệm và vùng lõi của khu bảo tồn, về các hình thức sử dụng,
và đánh giá về các loài, các nguồn tài nguyên thiên nhiên của người dân địa
phương;
Đa dạng sinh học và nhận thức của người dân địa phương | 9
(c) manglạimộttầmnhìnkháiquátvềtầmquantrọngcủacảnhquanvàcác
loàiđộng,thựcvậttạiđịaphươngđốivớingườidânKheTrăn,đồngthời
thuthậpthôngtinvềsinhkếcũngnhưquanđiểmcủangườidânvềKhubảo
tồnThiênnhiênPhongĐiền.
Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu về cảnh quan tại
khu vực nghiên cứu thông qua các hoạt động họp thôn, lập sơ đồ thôn có sự tham
gia, và đánh giá bằng phương pháp cho điểm. Kết quả thu được đã phản ánh quan
điểm của người dân địa phương và tầm quan trọng tương đối của các hạng mục
sử dụng. Số liệu thu thập được bằng phương pháp quan sát trực tiếp ngoài thực
địa, sử dụng phương pháp lấy mẫu hệ thống, đã góp phần hỗ trợ cho các số liệu
đã thu thập về tầm quan trọng của các loài, các loại đất khác nhau, cũng như cấu
trúc không gian của cảnh quan;
(d) thảoluậnvềnhữngcơhộivàtháchthức,trênphươngdiệngiaođấtvàphục
hồirừng,màcáccơquanphụtráchcôngtácbảotồntạikhubảotồnthiên
nhiênphảiđốimặt
. Hình thức đối thoại với những cá nhân am hiểu vấn đề
nghiên cứu đã được tiến hành xuyên suốt cuộc khảo sát thông qua các hoạt động
thảo luận nhóm, phỏng vấn người am hiểu vấn đề, và nói chuyện thân mật nhằm
hiểu rõ hơn những ưu tiên và quan điểm của người dân địa phương trước viễn
cảnh của một khu bảo tồn thiên nhiên trong tương lai. Ở giai đoạn cuối của cuộc
khảo sát chúng tôi đã tổ chức một hội thảo để tìm hiểu quan điểm của người dân
địa phương về những tác động có thể của khu bảo tồn, về những lựa chọn có thể
dành cho người dân địa phương trong khuôn khổ của khu bảo tồn, và về vai trò
mà họ mong muốn đảm trách, cũng như những mối đe dọa đối với sự đa dạng
sinh học mà họ nhận biết được
(e) tạođiềukiệnthuậnlợiđểngườidânđịaphươngvàcácbênliênquantham

đã được công nhận là đóng ‘vai trò quan trọng trong việc duy trì nguồn nước thượng
nguồn và hạn chế nguy cơ lũ lụt cho các vùng đồng bằng thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế’.
Vì lẽ đó, nó được đánh giá là có chức năng của ‘rừng phòng hộ đầu nguồn’, và chức
năng đó vẫn còn giữ được cho đến nay (Lê Trọng Trai và cộng sự. 2001).
Vào năm 1998, các nhóm bảo tồn chim quốc tế đã đặc biệt quan tâm đến địa bàn
này sau sự kiện loài gà lôi Edward (Lophura edwardsi), từng được cho là đã bị tuyệt
chủng, được phát hiện tại các vùng núi ở đây. Ngày nay vùng đất này được xem là một
phần trong chiến lược phát triển rừng của chính phủ trong việc xây dựng hệ thống 2
triệu ha rừng đặc dụng (bao gồm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên và
các di tích lịch sử) trên khắp cả nước. Ngoài ra, đây là một trong những vùng rừng
được đưa vào danh sách những khu vực cần được đưa vào diện bảo tồn thiên nhiên
(41.548 ha) vào năm 2010 (Barney 2005).
Các cánh rừng quanh bản Khe Trăn là một trong những vùng đa dạng sinh học
trọng yếu của tỉnh vì ở đó còn tồn tại nhiều loài động, thực vật quý hiếm và đang bị đe
dọa. Theo Lê Trọng Trai và cộng sự (2001), một số lượng đáng kể các loài đặc hữu và
không đặc hữu như thực vật, động vật có vú, chim, bò sát, động vật lưỡng cư, bướm
hiện diện tại các khu rừng của Phong Điền, bao gồm cả bản Khe Trăn. Loài hổ đang
bị đe dọa, có tên gọi là Panthera tigris, cũng được khẳng định là có mặt tại khu vực
này. Anh Muốc, một người dân Pahy ở bản Khe Trăn cho biết anh đã tận mắt thấy một
Đa dạng sinh học và nhận thức của người dân địa phương | 11
con hổ nặng khoảng 100 kg cách bản 200m vào tháng 3, 1998. Anh cũng cho biết vào
tháng 5, 1998 anh đã phát hiện một con hổ đã bắt con trâu của anh làm mồi tại làng
Mới (ở tọa độ 16°27’N 107°15’E). Anh còn cho biết thêm rằng khi lần theo dấu chân
của nó, anh đã phát hiện thêm hai con trưởng thành và một con con. Trong suốt cuộc
khảo sát của chúng tôi, mặc dù chưa được xác minh, một số thông tin do người dân
cung cấp đề cập đến sự xuất hiện thường xuyên của một số loài chim công xanh, loài
đang bị đe dọa trên toàn cầu. Một số loài đa dạng sinh học trọng yếu này có quan hệ
rất mật thiết với sinh kế của người dân địa phương. Và vấn đề này cũng đã được chúng
tôi phân tích trong quá trình nghiên cứu.
Yếu tố nguy hại nhất đến đa dạng sinh học rừng được Tổ chức bảo tồn chim Quốc

tác động như thế nào đến công tác quản lý khu vực bảo tồn, đến sinh kế địa phương
và đến quá trình phát triển kinh tế kết hợp tại các khu vực. Nhiều công trình nghiên
cứu trường hợp (casestudy) cũng đã khảo sát các mối tương quan cụ thể giữa những
vùng phòng hộ và các ngành kinh tế (tham khảo http://www. mekong-protected-areas.
org/vietnam/docs/vietnam-eld.pdf).
12 | Bối cảnh chung của công tác bảo tồn tại Khe Trăn
Dự án về Sự tham gia của cộng đồng đối với sự thành công của công tác bảo tồn
do WWF, Đại học Lâm nghiệp Xuân Mai và FPD xây dựng, đã lấy bản Khe Trăn làm
địa điểm tập huấn tại các khu vực thuộc vùng đệm. Dự án được xây dựng nhằm nâng
cao hiệu quả của các chương trình bảo tồn ở Việt Nam bằng cách tăng cường sự tham
gia của cộng đồng, thông qua chương trình giáo dục về môi trường dựa vào cộng đồng
(CBEE). Dự án được triển khai vào năm 2003 với mục tiêu nâng cao năng lực ngắn
hạn và dài hạn của chính phủ nhằm tiến đến gắn kết chương trình đào tạo CBEE với
các đơn vị đào tạo chủ lực. Dự án cũng đã có những đóng góp trực tiếp đến các hoạt
động bảo tồn tại hai khu vực ưu tiên ở miền Trung bằng cách kết hợp các hoạt động
thuộc chương trình CBEE vào quá trình thực thi các dự án bảo tồn vùng phòng hộ
(Matarasso và Đỗ Thị Thanh Huyền. 2005).
4.2. Các chương trình của chính phủ có ảnh hưởng đến
bản Khe Trăn
Du canh là hoạt động sản xuất chính trong khung sinh kế của người dân địa phương
cho đến năm 1992-1993, thời điểm mà hầu hết các hộ gia đình được hỗ trợ để thực
hiện lối sống định cư theo chương trình định canh định cư của chính phủ. Với tên gọi
‘Chương trình 327’ (1992-1997), cùng với tiến trình ‘Đổi mới’ đường lối kinh tế (bao
gồm 6 thay đổi lớn về mặt kinh tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh
tế vào năm 1986), dự án là nỗ lực đầu tiên của chính phủ Việt Nam nhằm mục đích
phát triển trồng cây công nghiệp và phân quyền quản lý, quyền phân chia các nguồn
tài nguyên rừng tại Việt Nam (Barney 2005). Bắt đầu từ thời điểm đó, hầu hết người
dân Khe Trăn tập trung vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, trồng rừng, đồng
thời giảm các hoạt động khai thác rừng tự nhiên. Bản Khe Trăn có ít đất thích hợp cho
canh tác lúa nước, do đó, người dân canh tác các cây trồng như ngô, lạc và đa dạng

bảo vệ rừng (để dễ so sánh, thu nhập bình quân đầu người hàng năm tại bản Khe Trăn
là 1.944.000 đồng). Họ sẽ không được phép đốn cây, trừ những nơi có các cây lớn
tuổi hơn thì được phép nhặt các cành cây gãy để làm củi. Ví dụ tại huyện A Lưới, các
hộ gia đình được trả 400 đồng cho việc trồng mỗi cây quế, tương đương với 4 triệu
đồng Việt Nam trên mỗi ha (mật độ trồng cây Quế - Cinnamomum cassia rất cao, với
10.000 cây/ha; Lê Thành Chiến 1996).
Bên cạnh đó, Lê Trọng Trai và cộng sự (2001) mô tả rằng việc chi trả từ các
chương trình trồng rừng quốc gia này đã mang lại lợi ích cho dân làng trong thời gian
ngắn, việc trồng keo - Acacia spp. và thông thuộc các chương trình này phát triển tốt.
Tuy nhiên, người dân đưa ra nhiều vấn đề mà họ phải đối mặt trong nỗ lực đáp ứng
những yêu cầu của các chương trình trồng rừng quốc gia. Ví dụ, người dân bản Khe
Trăn và bản Hạ Long đã chỉ ra những khó khăn mà họ gặp phải sau khi sự thỏa thuận
mang tính cá nhân (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời) về trồng rừng với
Lâm trường hết hiệu lực. Sau thời điểm đó, họ không còn nhận một hình thức khuyến
khích nào nữa. Thỏa thuận theo hình thức này không mang lại một sự công nhận chính
thức nào về quyền sử dụng đất của người dân địa phương. Họ chỉ có quyền sử dụng
đất tạm thời trong thời gian hợp đồng. Những người dân này đã bảy tỏ sự mong muốn
có được một hình thức quản lý rừng tự nhiên có thể mang lại cho họ những lợi ích
lâu dài, bền vững, đồng thời tạo điều kiện cho họ quản lý đất rừng hiện có (gồm đất
‘trống’ và đất rừng tái tạo) theo hướng bền vững hơn.
Ở huyện Phong Điền, các loài chính được các nhà quản lý dự án thuộc các chương
trình trồng rừng quốc gia chọn để trồng là Keo lá tràm - Acacia auriculiformis, Keo tai
tượng - Acacia mangium và Thông ba lá - Pinus kesiya. Tổng diện tích trồng rừng rất
lớn: theo thông tin từ Lâm trường Phong Điền, dưới sự hỗ trợ của chương trình 327 và
chương trình 661, đã có 30.366 ha rừng trồng được triển khai tại ba xã nằm gần vùng
đệm thuộc huyện Phong Điền. Hầu hết công việc trồng rừng đều được thực hiện trên
đất bằng và dốc thấp do các điều kiện về tài chính và khả năng tiếp cận.
Việc trồng cây cao su vẫn được thực hiện trong Chương trình 327 tại bản Khe
Trăn. Thế nhưng, theo Lê Trọng Trai và cộng sự (2001), việc trồng loại cây này đã
được thực hiện ở các khu đất sát bờ sông, những vùng đất tốt nhất hiện có của bản,

khai dưới sự hỗ trợ của chính phủ. Cho dù các chương trình này sẽ mang lại nguồn
thu nhập bằng tiền mặt cho người dân địa phương, một số người dân vẫn lo ngại về
các quyền lợi trong tương lai của họ trong việc trồng rừng, họ mong có được quyền
quản lý rừng tự nhiên và các vùng đất trống theo hướng bền vững. Việc thiếu đất
cho hoạt động nông nghiệp đã trở thành một vấn đề liên quan đến quá trình bảo
đảm an ninh lương thực, và sự thiếu hụt này đã khiến cho nhiều người dân ít có các
hoạt động thay thế khác cho việc khai thác rừng tự nhiên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status