BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
“HỖ TRỢ THIẾT LẬP HỆ THỐNG THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ VỀ DỊCH VỤ – SERV- 5”
Thực hiện chính
Bà Trần Thị Hằng
Trưởng nhóm chuyên gia trong nước - Tổng cục Thống kê
Ông Julian Arkel và Dietrich Barth
Chuyên gia EU Dự án MUTRAP
Tham gia
Bà Nguyễn Thị Liên, Bà Lê Thị Minh Thủy, Ông Nguyễn Bích Lâm,
Bà Nguyễn Thị Hồng, Ông Lê Hoàng Lân, Bà Nguyễn Thị Mơ, Ông Dương Duy Hưng
Giai đoạn I: Quý IV/2005 - Quý II/2006 do nhóm chuyên gia trong nước gồm Bà Trần Thị
Hằng, Bà Nguyễn Thị Liên, Bà Lê Thị Minh Thủy, Ông Nguyễn Bích Lâm, Ông Lê
Hoàng Lân (Tổng cục Thống kê), Bà Nguyễn Thị Hồng (Ngân hàng Nhà nước), Ông
Dương Duy Hưng (Bộ Thương mại), Bà Nguyễn Thị Mơ (Trường Đại học Ngoại thương),
Ông Bùi Hữu Ánh (Tổng công Ty Hàng Hải) phối hợp với các chuyên gia EU gồm Tiến
sỹ Dietrich Barth và Ông Julian Arkell thực hiện;
Giai đoạn II: Quý III/2006 - Quý I/2007 do nhóm chuyên gia của Tổng cục Thống kê và
Ngân hàng Nhà nước thực hiện với sự phối hợp của Ông Julian Arkell.
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cám ơn Tiến sỹ Lê Mạnh Hùng, Tổng cục trưởng Tổng cục
Thống kê; Tiến sỹ Maria Cristina Hernandez, Cố vấn kỹ thuật cao cấp của Dự án VIE/02/09
UNDP-MPI; Ông Hans Farhammer, Bí thư thứ nhất Phái đoàn EC tại Việt Nam; Bà Trần Thị
Thu Hằng, Giám đốc Dự án MUTRAP; Tiến sỹ Peter Naray, Cố vấn trưởng Dự án MUTRAP;
Ban đặc trách Dự án MUTRAP; Ông Lê Việt Đức, Phó vụ trưởng Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc
dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về sự quan tâm, hỗ trợ quan trọng, thiết thực, hiệu quả, và các ý
kiến đóng góp trong quá trình nghiên cứu và chuẩn bị báo cáo.
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác tích cực của các cơ quan có liên quan như Cục Đầu tư nước
ngoài(Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động TB và XH),
Vụ Thương mại, Dịch vụ và Giá cả, Vụ Tài khoản quốc gia, Vụ Công nghiệp và Xây dựng, Vụ
Phương pháp Chế độ, Vụ Hợp tác Quốc tế của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Hà Nội
trong các buổi làm việc và các hoạt động nghiên cứu của nhóm chuyên gia.
Trân trọng.
3
NỘI DUNG
TÓM TẮT
19
19
21
23
PHẦN II: KHUYẾN NGHỊ VỀ HỆ THỐNG THỐNG KÊ TMQT VỀ DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM………
Chương 4: Khuyến nghị về hệ thống báo cáo thống kê………………………… ………
.
4.1. Thu thập số liệu XNK dịch vụ trong điều tra doanh nghiệp hàng năm
4.2. Sửa đổi, bổ sung chế độ báo cáo/điều tra doanh nghiệp tháng, qúy
4.3. Khai thác số liệu hiện có và hoàn thiện thống kê FDI để tách riêng bộ dữ liệu về
FATS
4.4. Tăng cường sự phối hợp Bộ/ngành để khai thác nguồn số liệu từ hệ thống ghi
chép hành chính
4.5. Cần nghiên cứu và sớm thực hiện một cuộc điều tra chuẩn về thương mại dịch
vụ quốc tế …………………………… ……………………………
4.6. Phân bổ số liệu EBOPS theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ
.
4.7. Thiết lập cơ sở dữ liệu siêu văn bản và thực hiện từng bước việc công bố số liệ
u
thương mại dịch vụ
4.8. Nghiên cứu và phát triển phương pháp ước tính dựa trên các nguồn số liệu
khác nhau
Chương 5: Khuyến nghị về danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế về dịch vụ đáp ứng
26
27
28
44
52
54
56
57
57
57
59
62
63
PHẦN IV: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN ƯU TIÊN THỰC HIỆN VÀ NHU CẦU TRỢ GIÚP KỸ
THUẬT………………………………… …………………………………………………………………….
.
Chương 11: Những vấn đề cần ưu tiên thực hiện 65
Chương 12: Nhu cầu hỗ trợ và trợ giúp kỹ thuật… 68
KẾT LUẬN 70
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tài liệu tham khảo 72
Phụ lục 2: Dự thảo Danh mục dịch vụ trong TMQT của Việt Nam, các bảng mã số
tương thích………………………………………………………………………… ………………………
73
Phụ lục 3: Điều tra chọn mẫu chi phí vận tải, bảo hiểm hàng nhập khẩu 2005 103
5
Phụ lục 4: Số liệu thống kê FATS luồng vào tổng hợp từ kết quả Điều tra doanh nghiệp 107
Phân loại chuẩn quốc tế các hoạt động kinh tế
OECD
Tổ chức phát triển và hợp tác
PCPC
Danh mục sản phẩm trung tâm, ban hành tạm thời
SNA
Hệ thống tài khoản quốc gia
TSA
Tài khoản vệ tinh du lịch
UNCTAD
Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên hợp quốc
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
BD
3
Định nghĩa chuẩn về đầu tư trực tiếp nước ngoài
6
TÓM TẮT
thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam, bao gồm các nội dung liên quan đến vai trò của
khu vực dịch vụ trong nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam, các chuẩn mực quốc tế về thống
kê lĩnh vực này, thực trạng hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam, từ
đó đưa ra nhu cầu cho việc xây dựng một khuôn khổ thống kê.
Phần II của Báo cáo thể hiện nội dung quan trọng nhất của hoạt động SERV-5 - các khuyến
nghị về việc xây dựng hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ theo các chuẩn mực về
phương pháp luận, tổ chức luồng thông tin, phát triển điều tra thống kê, danh mục, các vấn đề
quan trọng khác của hoạt động thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ. Các khuyến nghị về
tổng thể và chi tiết cho từng lĩnh vực dịch vụ xuất phát từ những đặc thù của từng lĩnh vực trong
đó đề cập sự cần thiết phải tiến hành một cuộc điều tra chuẩn mực, chi tiết về thương mại dịch
vụ quốc tế, các cuộc điều tra chuyên đề riêng cho 6 lĩnh vực dịch vụ ưu tiên. Trên cơ sở đó mới
có thể đánh giá được hoạt động này trong mối quan hệ với các nước đối tác, hoạt động của các
chi nhánh, công ty con nước ngoài về dịch vụ. Các lĩnh vực dịch vụ ưu tiên theo định hướng của
Chính phủ gồm: vận tải biển, vận tải hàng không, du lịch, bưu chính viễn thông, bảo hiểm và tài
chính ngân hàng.
Nghiên cứu, trao đổi giữa Chuyên gia EU và Chuyên gia trong nước thuộc Tổng cục Thống kê,
các Bộ/ngành, Cục Thống kê đã chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng hệ thống thống kê với hướng
dẫn cụ thể về phương pháp luận, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và điều kiện cụ thể của Việt
1
Dự án MPI-UNDP - VIE/02/009, Tăng cường năng lực quản lý và xúc tiến thương mại dịch vụ của VN trong
bối cảnh hội nhập, Báo cáo về thống kê thương mại dịch vụ của Việt Nam, Hanoi, tháng 12/2004
7
Nam cũng như tổ chức hệ thống trên cơ sở phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thống kê nhà nước,
các Bộ/ngành, doanh nghiệp.
Cần đặt ra mục tiêu tổng hợp được số liệu thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ theo 11 ngành của
Cần có sự hỗ trợ và trợ giúp kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế liên quan đến các nội
dung:
1. Hỗ trợ hoàn thiện hệ thống thống kê thương mại dịch vụ:
• Thiết kế và thực hiện một cuộc điều tra chuẩn (benchmark census) về thương mại dịch vụ
trong năm 2008 hoặc 2009
• Hoàn thiện phương án và phiếu điều tra doanh nghiệp cho các năm tiếp theo trên cơ sở
dàn mẫu và kết quả của cuộc điều tra chuẩn nêu trên, phát triển kỹ thuật ước tính
(estimation and imputation) để có được các số liệu định kỳ tháng/qúy.
• Điều tra chuyên ngành về các lĩnh vực dịch vụ ưu tiên và các lĩnh vực dịch vụ phức tạp
khác để có được thông tin sâu hơn, chi tiết hơn
2. Hỗ trợ thiết kế và xây dựng trung tâm tích hợp và cập nhật dữ liệu doanh nghiệp phục vụ điều
tra thống kê thương mại dịch vụ trên cơ sở các nguồn số liệu Bộ Kế hoạch Đầu tư về đăng ký
doanh nghiệp, từ T
ổng cục Thống kê về điều tra doanh nghiệp và từ Tổng cục Thuế về dữ
liệu thuế hàng tháng.
3. Hỗ trợ nghiên cứu sửa đổi và hoàn thiện thống kê FDI, làm cơ sở cho việc phát triển thống kê
FATS.
4. Hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu siêu văn bản và cơ sở dữ liệu về thống kê thương mại dịch vụ.
8
5. Hỗ trợ đào tạo về thống kê thương mại dịch vụ cho cán bộ của Tổng cục Thống kê, Cục
Thống kê địa phương, các Bộ/ngành và doanh nghiệp.
Hỗ trợ và trợ giúp kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế có thể được thực hiện thông qua các
phương thức.
• Các chuyến công tác tại Việt Nam của chuyên gia EU hoặc những nước đã phát triển điều
tra TMQT về dịch vụ như Mỹ, Ôxtrâylia để trao đổi kinh nghiệm, phổ biến kỹ thuật .
nghiên cứu, phát triển hệ thống thống kê của mình trên cơ sở hài hòa với khu vực về danh mục,
phương pháp điều tra, phạm vi thống kê, thiết kế phiếu cũng như các vấn đề có liên quan khác.
9
PHẦN I
THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỐNG KÊ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VỀ DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 1
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.1 Thương mại dịch vụ quốc tế
Trong hơn hai thập kỷ qua, hoạt động dịch vụ có xu hướng phát triển nhanh và ngày càng đóng
vai trò quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết các nước nói chung và thương mại thế giới nói
riêng. Những năm qua, tốc độ tăng trưởng của thương mại dịch vụ thường cao hơn thương mại
hàng hoá. Tuy nhiên gần đây, xu hướng này đã có sự thay đổi, thời kỳ 2000-2004, xuất khẩu hàng
hoá và dịch vụ đều tăng trưởng ở mức 9%/năm. Năm 2004, xuất khẩu dịch vụ thương mại thế giới
lần đầu tiên đã vượt qua mức 2 nghìn tỷ USD, so với xuất khẩu hàng hoá là 8,9 nghìn tỷ USD.
Tầm quan trọng ngày càng tăng của dịch vụ kéo theo sự gia tăng về tỷ trọng dịch vụ thương mại
và các công cụ pháp lý cho thị trường dịch vụ còn thiếu và chưa được coi trọng. Phần lớn những
khiếm khuyết này là do trình độ nhận thức của các Bộ ngành, cơ quan quản lý và chính quyền đị
a
phương về vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế còn hạn chế. Các giải pháp thúc đẩy phát triển nền
kinh tế trong một thời gian dài vừa qua thường tập trung vào phát triển sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp, các định hướng và ưu tiên về chính sách tập trung chủ yếu vào mục tiêu tăng trưởng xuất
khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư cho khu vực sản xuất vật chất. Vì vậy tỷ trọng đầu tư cho khu v
ực
dịch vụ còn thấp, thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho khu vực này chưa được chú trọng. Ngoài ra
2
WTO, Thống kê thương mại quốc tế 2005, Geneva 2005, trang 2
3
WTO, Thống kê thương mại quốc tế 2005, Geneva 2005, bảng I.7
10
còn một số vấn đề khác là thiếu các phương pháp phát triển thực tế, kinh nghiệm quản lý nghèo
nàn, thiếu thông tin cho việc phát triển các kế hoạch và chính sách hợp lý và không cập nhật được
thông tin về các hoạt động thực tế của các thị trường dịch vụ hiện đại mà một trong những lý do
chính là do Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống thống kê dịch vụ nói chung và thương mại
quốc tế về dịch vụ nói riêng.
Kế hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 đã tập trung nhấn mạnh mục tiêu
phát triển khu vực dịch vụ với mục tiêu tăng trưởng bình quân 7,7 - 8,2%, tỷ trọng khu vực dịch
vụ trong GDP năm 2010 đạt 41 - 42%, tỷ trọng lao động chiếm 26 - 27% vào năm 2010.
1.3 Thực trạng hoạt động dịch vụ và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ở
Việt Nam.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đạt mức tăng trưởng kinh tế cao so với các nước trong khu
Thực hiện chính sách Đổi Mới nền kinh tế từ năm 1986, đến năm 1996, tăng trưởng dịch vụ đã
cao hơn các ngành khác (41-42%). Tuy nhiên từ năm 2000, tỷ trọng dịch vụ trong GDP có xu
hướng giảm do tốc độ gia tăng mạnh mẽ của công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến (39%
năm 2003 và 38% năm 2004 và 2005).
Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ t
ăng lên nhưng gia tăng việc làm
trong khu vực này lại thấp hơn so với công nghiệp khai thác và chế biến. Hiện nay, có khoảng
62,2% các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ (trong đó tỷ lệ cao nhất thuộc về
hoạt động thương nghiệp). Tuy nhiên, tỷ trọng lao động trong các doanh nghiệp dịch vụ chỉ chiếm
26,3%.
Bảng 2 - Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực d
ịch vụ
31/12/02 31/12/03 31/12/04 31/12/05
Tổng số doanh nghiệp 62,908 72,012 91,755 113,352
11
Trong đó: Doanh nghiệp dịch vụ 35,826 41,690 53,868 70,472
Tỷ trọng (%) 56.9 57.9 58.7 62.2
Tổng số lao động (nghìn người) 4,657 5,175 5,770 6,244
Trong đó: Doanh nghiệp dịch vụ 1,152 1,254 1,413 1,642
Tỷ trọng (%) 24.7 24.2 24.5 26.3
Nguồn: Kết quả Điều tra doanh nghiệp hàng năm 2003-2005 - TCTK
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô nhỏ, đặc biệt là trong lĩnh vực
dịch vụ. Kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2005 cho thấy 51,3% số doanh nghiệp có dưới 10 lao
động.
Bảng 3 - Quy mô doanh nghiệp theo lao động- Tỷ lệ %
Trong thời kỳ 2006 – 2010, xuất khẩu dịch vụ được kỳ vọng là sẽ đạt mức tăng trưởng bình quân
16,3%, đến năm 2010, xuất khẩu dịch vụ sẽ đạt mức 12 tỷ USD. Tuy nhiên có thể thấy đây là mục
tiêu khá cao so với thực tế.
Theo dự báo của Bộ Thương mại, các dịch vụ bảo hiể
m, bưu chính viễn thông, tài chính và vận tải
biển sẽ là những ngành có mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất, từ 22% - 29%. Kim ngạch xuất
khẩu của mỗi ngành này sẽ đạt từ 470 đến 550 triệu USD. Xuất khẩu dịch vụ du lịch vẫn sẽ đạt
kim ngach cao nhất trong số các ngành dịch vụ mũi nhọn với mục tiêu tăng trưởng 10% hàng năm
về số lượng khách quốc tế
đến Việt nam. Hy vọng đến năm 2010, ngành du lịch sẽ phục vụ hơn 6
triệu khách quốc tế, mang lại thu nhập khoảng 4,5 tỷ USD. 12
Với mức đóng góp hàng năm gần 2 tỷ USD, “xuất khẩu lao động” - một chủ trương tích cực của
Chính phủ - có thể đem lại thu nhập ngoại tệ khoảng 3 tỷ USD cho đất nước. Bộ Lao động đang
phấn đấu đưa số lượng lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc lên đến 70-80.000 người/năm.
Tuy nhiên về mặt lý thuyết, xuất khẩu lao động không phải là mục tiêu và cũng không phải là một
khái niệm trong GATS. GATS chỉ bao gồm thể nhân cung cấp các dịch vụ theo hợp đồng ở nước
ngoài trên cơ sở tạm thời, không nhằm mục đích mở cửa thị trường lao động ra nước ngoài hay
chấp nhận công dân, người cư trú hay lao động nước ngoài trên cơ sở ổn định lâu dài.
4Vận tải biển sẽ có mức thu xuất khẩu ước khoảng 650 triệu USD và vận tài hàng không khoảng
950 triệu USD.
Mặc dù trong vài năm qua, xuất khẩu phần mềm còn thấp song Bộ Thương mại vẫn hy vọng vào
khu vực dịch vụ này, với thu nhập từ 300-400 triệu USD đến năm 2010. Ước tính này của Bộ
CHƯ Ơ NG 2
CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ 2.1 Cẩm nang thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ
Cẩm nang được ban hành năm 2002 nhằm giúp cho việc xây dựng một hệ thống hoàn thiện về
thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ, đưa ra phương pháp phân loại, thu thập số liệu về lĩnh vực
thương mại dịch vụ. Đây là tài liệu hướng dẫn người tổng hợp số liệu thống kê, nhằm giúp cho các
hoạt động phân tích kinh tế, lập chính sách một cách có hiệu quả, đồng thời hỗ trợ cho hoạt động
đàm phán về thương mại dịch vụ. Cuốn Cẩm nang này được xây dựng bởi một nhóm chuyên gia
thuộc nhiều tổ chức quốc tế gồm Eurostat, IMF, OECD, UNSD, UNCTAD và WTO và cũng được
các tổ chức này khuyến nghị sử dụng. Việc khuyến nghị thực hiện theo từng giai đoạn là một giải
pháp thích hợp, cho phép các nước đưa vào sử dụng hệ thống thống kê phù hợp với điều kiện thực
tế và mức độ ưu tiên của nước mình.
Cuốn Cẩm nang này được xây dựng dựa trên các chuẩn mực quốc tế như Hệ thống tài khoản quốc
gia 1993 (SNA93) của LHQ về một hệ thống tổng hợp các tài khoản liên quan đến các hoạt động
và các lĩnh vực kinh tế của một nước. Nó đưa ra một bức tranh toàn diện về một nền kinh tế, các
hoạt động sản xuất, đầu ra và các hoạt động thương mại quốc tế. SNA93 được các nước sử dụng
như một chuẩn mực để lập tài khoản quốc gia. Đề phản ánh được các giao dịch giữa một nước với
các nước khác trên thế giới, SNA93 đưa ra một tài khoản, gọi là “Phần còn lại của thế giới” liên
quan đến “tài khoản kinh tế đối ngoại”.
Trong SNA93 danh mục phân loại hoạt động sản xuất, áp dụng cho các yếu tố đầu vào của quá
trình sản xuất, gồm lao động và vốn, là “Phân ngành chuẩn quốc tế các hoạt động kinh tế” của
LHQ, phiên bản 3 (ISIC3) và Danh mục phân loại sản phẩm của LHQ (CPC) áp dụng cho sản
phẩm đầu ra. Danh mục này cũng được IMF khuyến nghị sử dụng cho mục đích cán cân thanh
toán để có thể so sánh được với SNA93.
• 1 Vận tải
• 2 Du lịch
• 3 Dịch vụ viễn thông
• 4 Dịch vụ xây dựng
• 5 Dịch vụ bảo hiểm
• 6 Dịch vụ tài chính
• 7 Dịch vụ máy tính thông tin
• 8 Phí bản quyền và giấy phép
• 9 Dịch vụ kinh doanh khác
• 10 Dịch vụ cá nhân, văn hoá và giải trí
• 11 Dịch vụ Chính phủ chưa được phân ở đâu (n.i.e)
11 ngành dịch vụ này về cơ bản phù hợp với phạm vi sản phẩm trong GATS, trừ một số khác biệt:
- Thứ nhất, hầu như toàn bộ phần Dịch vụ Chính phủ chưa được phân ở đâu bị loại trừ trong
GATS.
- Thứ hai, một số giao dịch trong GATS được coi như dịch vụ thì trong BPM5 lại được xem
như là các giao dịch về hàng hoá, các giao dịch này liên quan đến giá trị sửa chữa hàng hoá
khi chúng được đưa ra nước ngoài để sửa chữa cũng như hầu hết các dịch vụ chế biến.
- Thứ ba, một số ngành dịch vụ trong BPM5, đặc biệt là du lịch, bao gồm các giao dịch về
hàng hoá.
- Thứ tư, trong BPM5 bao gồm cả các khoản thanh toán phí bản quyền và giấy phép, ngoại trừ
chi phí nhượng quyền kinh doanh, khoản mục này bị loại trừ trong phạm vi của GATS.
(Cẩm nang, đoạn 2.53).
Cẩm nang cũng khuyến nghị các chỉ tiêu FATS được phân loại theo hoạt động dựa trên danh mục
ICFA. ICFA bao gồm tất cả các loại hoạt động, kể cả sản xuất hàng hoá. ICFA được xây dựng để
cung cấp các kết nối khả thi nhất với EBOPS giúp cho việc so sánh tương thích tối đa giữa hai tập
hợp thống kê. Danh mục này đưa ra một khuôn khổ cho việc trình bày các dịch vụ được sản xuất
theo hoạt động thứ bậc bởi các doanh nghiệp được xếp vào là các nhà sản xuất hàng hoá.
trên việc cân nhắc xem xét (3.45):
• Dịch vụ máy tính và thông tin
• Dịch vụ kinh doanh khác
• Dịch vụ cá nhân, văn hoá và giải trí
2.1.3 Thương mại dịch vụ của các chi nhánh nước ngoài (FATS)
Chương 4 của Cuốn Cẩm nang đưa ra phương pháp xử lý về thương mại dịch vụ của các công ty
con, chi nhánh nước ngoài, một mục rất quan trọng khác của thống kê thương mại dịch vụ. Thuật
ngữ FATS đề cập các doanh nghiệp hoạt động tại một nước nhưng do các công ty nước ngoài
kiểm soát. Hiện chỉ có Mỹ là nước duy nhất có hệ thống thống kê FATS tương đối hoàn thiện.
Nhìn chung, thống kê FATS thường thiếu các dữ liệu về doanh thu, thương mại, FDI và các hoạt
động của các chi nhánh nước ngoài. Dữ liệu FDI luồng vào và luồng ra cần được thu thập và tổng
hợp riêng. Cẩm nang khuyến nghị các chỉ tiêu FATS nên được phân loại theo hoạt động dựa trên
danh mục ICFA, được đề cập tại mục 2.1.1 mở trên.
2.2 Giới thiệu các danh mục quốc tế
2.2.1 Danh mục các hoạt động kinh tế
Danh mục “Phân ngành chuẩn các hoạt động kinh tế của” phiên bản 3 (ISIC3) của Liên hợp quốc
phân loại tất cả các hoạt động kinh tế. Cuốn cẩm nang khuyến nghị nên sử dụng ISIC3 cho GATS.
Phương thức cung cấp 3 nhằm mục đích so sánh với SNA93 thông qua tập hợp con ICFA đã nói ở
trên.
2.2.2 Danh mục sản phẩm trung tâm của LHQ (CPC) đối với các sản phẩm dịch vụ
Danh mục CPC bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ, kể cả các sản phẩm phi thương mại.
Phiên bản đầu tiên ban hành tạm thời (PCPC 1991), được GATS sử dụng để xây dựng danh mục
- Dịch vụ trung gian tài chính bao gồm cả FISIM
- Tổng giá trị gộp về buôn bán hàng hoá
- Các giao dịch nghe nhìn
Cuốn Cẩm nang cũng bao gồm một số các trường hợp đặc biệt như:
- Xây dựng 3.7
- Các hoạt động ngoài khơi 3.8
- Thiết bị di động 3.9
- Tàu thuỷ 3.10
- Đại lý 3.11
- Hộ gia đình và cá nhân 3.12
- Phục vụ cá nhân 3.13
- Người tị nạn 3.14
Dịch vụ vận tải là một ví dụ của một lĩnh vực g
ặp nhiều khó khăn trong việc thu thập số liệu và
cần tiến hành điều tra chuyên ngành. Ví dụ ở Anh, Cơ quan Thống kê dựa vào các dữ liệu từ các
Cơ quan quản lý: vận tải thuỷ, hàng không dân dụng vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải
đường bộ. Ở Mỹ, Bộ Phân tích kinh tế thu thập thông tin về phí bảo hiểm vận tải hàng hoá từ
ngành bảo hiểm phục vụ cho việc tính toán giá CIF trong thương mại hàng hoá với các tỷ lệ khác
nhau theo lượng hàng hoá.
Trong tương lai, EBOPS cần sửa đổi để có thể bao gồm vận tải đa phương thức, phân phối nội
vùng và bảo dưỡng các thiết bị vận tải.
Các bảng mã tương thích 2 chiều giữa EBOPS - CPC 1.0 và GNS/W/120 cũng như GNS/W/120 –
CPC1. – EBOPS cũng được xây dựng và giới thiệu trong Cẩm nang nhằm tạp thuận lợi cho việc
tra cứu, đối chiếu giữa các danh mục có liên quan.
hoạt động cho thuê hoặc bán quyền sử dụng tài sản như phần mềm, bản quyền âm nhạc, điện ảnh,
nghiên cứu và phát triển, Việc xác định cư trú đối với các tổ chức, cá nhân là du học sinh, thủy
thủ, lao động nước ngoài tạm thời cũng cần được định nghĩa rõ ràng hơn. Dự kiến, SNA sửa đổi sẽ
được hoàn thành trong năm 2008.
Cẩm nang Cán cân thanh toán của IMF
Các vấn đề đang được xem xét giải quyết bao gồm cư trú của các tổ chức và cá nhân, phân loại
dịch vụ trong cán cân thanh toán, ranh giới giữa thương mại hàng hoá và dịch vụ (ví dụ: hoạt động
sửa chữa, gia công hàng hóa, tái xuất, mua bán chuyển khẩu, sản phẩm thông tin và các sản phẩm
nguyên bản). Theo kế hoạch, phiên bản sửa đổi (BPM6) sẽ được hoàn thành trong năm 2008.
ISIC 1993
ISIC sửa đổi tập trung khá nhiều vào các lĩnh vực dịch vụ (21 phân ngành thay vì 17 phân ngành
và 87 phân nhóm thay vì 60 phân nhóm trong Rev.3.1). Trong ISIC 4. sẽ bao gồm ngành cấp I mới
là “thông tin và truyền thông” (cải tiến nhóm ICT), chi tiêt các ngành dịch vụ chuyên môn và hỗ
trợ kinh doanh, dịch vụ văn hoá, giải trí và sức khoẻ con người. Ngoài ra, các hoạt động về môi
trường cũng là những ngành mới được sửa đổi và chi tiết. Hiện tại ISIC4 đã được Liên hợp quốc
thông qua và Việt Nam đã sử dụng phiên bản này cho việc sửa đổi và ban hành VSIC-2007.
CPC 2.0
Các sản phẩm dịch vụ sẽ được chi tiết hơn và một nhóm mới về các sản phẩm của dịch vụ công
nghệ thông tin cũng sẽ được cập nhật trong CPC 2.0. Theo kế hoạch, CPC 2.0 sẽ được Liên Hợp
Quốc thông qua và ban hành trong năm 2007. Phiên bản này cũng sẽ được Tổng cục Thống kê sử
dụng cho việc xây dựng và ban hành VCPC, dự kiến hoàn thành trong năm 2008.
Cẩm nang Thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ
19
CHƯƠNG 3
KHUÔN KHỔ THỐNG KÊ
Ở Việt Nam, có hai cơ quan liên quan đến công tác thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ là
Tổng cục Thống kê (GSO) và Ngân hàng Nhà nước (SBV). Nhìn chung hai cơ quan đều đã tiếp
cận và thực hiện nhiệm vụ của mình dựa trên các chuẩn mực quốc tế có liên quan như SNA93,
GNS W/120, ISIC, BPM5, một phần Cẩm nang thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ và thống
kê FATS. Tuy nhiên, còn có những khoảng cách khá lớn giữa thực trạng và các chuẩn mực quốc
tế, số liệu về nhiều lĩnh vực dịch vụ cũng như mức độ chi tiết còn chưa thu thập được.
3.2.1 Khuôn khổ pháp lý
Cũng như hệ thống thống kê nói chung, công tác thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ cũng
được xây dựng trên cơ sở các căn cứ pháp lý sau đây:
• Luật Thống kê số 04-2003-QH11 được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2003 và có hiệu lực
thi hành từ 1/1/2004;
• Nghị định của Chính phủ số 101/2003/ND-CP ngày 3/9/2003 qui định Chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê.
• Chỉ thị số 49/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ tháng 12/2004 về tăng cường các
hoạt động dịch vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010.
• Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 305/2005/QD-TTG ngày 24/9/2005 về việc ban
hành Hệ thống Chỉ tiêu thống kê quốc gia.
20
Theo qui định của Luật Thống kê, hoạt động thống kê phải dựa trên nguyên tắc: bảo đảm tính
trung thực, khách quan, chính xác, thống nhất về chỉ tiêu, phương pháp tính, phân loại, bảo đảm
tính so sánh quốc tế, tránh trùng lặp, trùng chéo trong các hoạt động thống kê, công bố công khai
về phương pháp, số liệu thống kê, bảo đảm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng thông
tin, bảo đảm cho các thông tin thống kê chỉ được sử dụng cho mục đích thống kê. Luật cũng qui
định về thẩm quyền về xử phạt hành chính với các vi phạm về Luật Thống kê.
được Tổng cục Thống kê hoàn thành trong năm 2008 để trình Chính phủ ban hành sử dụng cho
phù hợp với sự phát triển thực tế của Việt Nam cũng như hài hoà với các danh mục có liên quan
khác.
Chỉ thị 49 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Nội vụ phối hợp với Tổng cục Thống kê, Bộ Kế
hoạch Đầu tu và các Bộ/ngành có liên quan chỉ rõ những lĩnh vực dịch vụ nào chưa có sự rõ ràng
trong phân công quản lý để đề xuất với Chính phủ có sự phân công trách nhiệm. Liên quan đến
khía cạnh thố
ng kê, để thực hiện hiệm vụ này sẽ cần phải sử dụng phân loại các hoạt động dịch vụ
(VSIC 2007) và phân loại sản phẩm dịch vụ (VCPC).
3.2.3. Khó khăn, tồn tại
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi về cơ sở pháp lý, thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của
Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn, tồn tại sau đây:
- Về lý thuyết, đây là lĩnh vực thống kê mới, có phạm vi thu thập và tổng hợp số liệu rất rộng,
rất khó khăn cho việc xây dựng hệ thống thống kê.
- Chế độ báo cáo và các qui định thống kê về lĩnh vực này hiện vẫn chưa được Tổng cục
Thống kê ban hành một cách chính thức trong khi những thay đổi trong chế độ báo cáo
21
thống kê của Ngân hàng Nhà nước theo quyết định 477 dường như không đem lại nhiều kết
quả cho việc hoàn thiện thu thập số liệu cho BOP
- Ở các Cục Thống kê và doanh nghiệp hiện các cán bộ thống kê chưa hiểu biết và quan tâm
một cách đầy đủ về lĩnh vực thống kê này. Mặt khác đối với doanh nghiệp, số liệu thống kê
thương mại quốc tế về dịch vụ cũng là số liệu nhạy cảm nên việc thực hiện báo cáo, phiếu
điều tra của doanh nghiệp khá hạn chế. Tuy Luật Thống kê đã được ban hành chính thức từ
năm 2003 nhưng việc chấp hành luật của các đối tượng liên quan còn rất hạn chế, điều này
ảnh hưởng rất lớn đến tính chính xác, đầy đủ và kịp thời của thông tin thống kê nói chung số
liệu thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ nói riêng.
- Nhận thức và yêu cầu sử dụng số liệu của các cơ quan quản lý nhà nước doanh nghiệp về vai
EBOPS và đề nghị một danh mục tối thiếu các lĩnh vực dịch vụ trong EBOPS cho mục tiêu hài
hoà. Về phân tổ theo nước đối tác, danh mục các nước đối tác chủ yếu cũng được các nước
ASEAN thồng nhất ưu tiên cho mục tiêu hài hòa bao gồm: các nước thuộc ASEAN, EU và 7 nước
khác.
Về lộ trình xây dựng và hài hòa, ASEAN cũng đã nhất trí thành lập nhóm đặc trách về Thống kê
thương mại dịch vụ quốc tế bao gồm sự tham gia của các nước thành viên trong đó Việt Nam được
bầu làm chủ tịch. Nhóm này có nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển một khuôn khổ chung về điều tra
chọn mẫu, đề xuất lộ trình thực hiện khuyến nghị của Cẩm nang, thiết kế dàn chọn mẫu cho thống
kê FATS và phương pháp thu thập, tổng hợp số liệu theo EBOPS, kể cả phát triển điều tra doanh
nghiệp cho mục tiêu thương mại dịch vụ.
3.3.2.2 Hoạt động dịch vụ 22
Nhằm mục tiêu hài hòa danh mục phân ngành các hoạt động kinh tế, năm 2006 ASEAN cũng đã
nhất trí đưa ra một danh mục hài hòa ASEAN về cơ bản dựa trên ISIC4 đến ngành cấp 3, trừ một
số sự khác biệt, bổ sung cho phù hợp với điều kiện và mục tiêu của ASEAN. Danh mục này dự
kiến sẽ được thông qua vào năm 2007 để sử dụng từ năm 2009. VSIC 2007 của Việt Nam vừa
được Thủ tướng Chính phủ ban hành tháng 1/2007cũng đã có sự hài hòa, thống nhất với danh mục
ASEAN ở các ngành cấp 3 và đây cũng là thuận lợi cho Tổng cục Thống kê khi thực hiện chương
trình hài hòa ASEAN về thống kê thương mại dịch vụ
3.3.2.3. So sánh khu vực về thực trạng thống kê TMDV
5Tại hội thảo của ASEAN đã đề cập thực trạng thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của các
nước thành viên so với các chuẩn mực của BOP, thể hiện qua bảng dưới đây:
hàng Trung ương có kế
hoạch tổng hợp số liệu theo
nước đối tác.
L
ào
M
alaixia Có Không, chỉ công bố số
liệu qúy đối với dịch vụ
vận tải, du lịch, dịch vụ
kinh doanh khác và dịch
vụ Chính phủ .
Không
M
yanma
Philipin Có, trừ nguyên tắc cư trú áp
dụng đối với người lao động
làm việc ở nước ngoài, khó
khăn về thời điểm thống kê,
xác định trị giá.
Có, với một số chi tiết
thêm về dịch vụ kinh
doanh khác, dịch vụ cá
nhân, văn hóa và giải
trí.
Không, trừ số liệu về lao
động làm việc ở nước ngoài,
một số ngành có hoạt động
của các công ty con, chi
nhánh nước ngoài thông qua
mới chi tiết được 6
ngành: vận tải, bưu
chính viễn thông, du
lịch, tài chính, bảo
hiểm, DV Chính phủ.
Không. Đã có kế hoạch khai
thác và tổng hợp số liệu
FATS từ số liệu FDI và số
lượng lao động xuất khẩu
sang một số nước.
Bảng trên cho thấy một bức tranh không mấy sáng sủa về thực trạng tổng hợp và công bố số liệu
của nhiều nước ASEAN. Nhìn chung các chuẩn mực quốc tế về phương pháp và danh mục được
nhiều nước áp dụng, tuy nhiên rất ít nước áp dụng đầy đủ. Philipin và Thái lan có một số khác biệt
do đặc thù riêng. Số liệu thống kê qúy được một số nước công bố nhưng thiếu chi tiết vì lý do chất
lượng, bí mật số liệu hoặc hạn chế khác. Chưa có nước nào tổng hợp số liệu theo phân loại dịch vụ
của GATS và 4 phương thức cung cấp dịch vụ, trừ một số nội dung hạn chế về số liệu của các
công ty con, chi nhánh đầu tư nước ngoài thông qua thống kê FDI. (Philipin và Việt Nam). Một số
nước công bố số liệu EBOPS chi tiết đến một số phân ngành dịch vụ lớn. Một số nước đã công bố
được số liệu về nước bạn hàng chủ yếu (Singapo và Inđônêxia) và số liệu về xuất khẩu lao động
(Inđônêxia, Philipin, Việt Nam).
Mặc dù thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của các nước ASEAN còn có khoảng cách khá xa
so với các chuẩn mực quốc tế nhưng với Việt Nam, lĩnh vực thống kê này mới chỉ ở mức trung
bình: việc công bố số liệu thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ mới chỉ được thực hiện hàng qúy với
6/11 lĩnh vực dịch vụ, chưa có số liệu chi tiết về phân nhóm dịch vụ, nước đối tác. Thực trạng này
là một trong những nguyên nhân dẫn đến những yếu kém về công tác quản lý, điều hành chính
sách vĩ mô, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
3.4. Nhu cầu xây dựng hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ.
29% tng vn ng ký. Cỏc t l ny ang chng t cỏc chớnh sỏch thu hỳt u t nc ngoi
cho khu vc dch v ang t ra thua kộm so vi khu vc sn xut hng húa, cha tng xng
vi nh hng cng nh cỏc mc tiờu phỏt trin khu vc dch v trong tng th nn kinh t
quc dõn.
Ch th ca Th tng Chớnh ph v tng cng phỏt trin khu vc dch v thỏng 12/2004 giao
trỏch nhim cho Tng cc Thng kờ phi hp vi cỏc B/ngnh cú liờn quan xõy dng v trỡnh
Chớnh ph ban hnh Danh mc dch v trong thng mi quc t. Danh mc ny phi nhm ỏp
ng yờu cu ca ch bỏo cỏo thng kờ v thng mi dch v. iu ny s cho phộp nhỡn
nhn mt cỏch rừ rng hn v c cu v tỡnh hỡnh thng mi dch v ca Vit Nam, tm quan
trng ca nú i vi tng th nn kinh t, xu hng phỏt trin, nhng yu kộm ca khu vc dch
v v tim nng ca t do húa dch v cng nh yờu cu qun lý. Nú cng cú ý ngha c bit
trong chin lc phỏt trin khu vc dch v.
S liu thng kờ chớnh xỏc, kp thi v y v thng mi dch v cũn cú ý ngha ht sc
quan trng trong vic nõng cao v th m phỏn ca Vit Nam trong cỏc hip nh thng mi
song phng v a phng, nh cỏc Hip nh v dch v trong khuụn kh ASEAN hoc
xut v khu vc t do ASEAN-Trung quc.
T 11/1/2007, Vit Nam ó chớnh thc tr thnh thnh viờn th 150 ca WTO. Theo ú, thụng
tin thng kờ v thng mi dch v s c s dng ỏnh giỏ mc thõm nhp th trng
v kim soỏt vic thc hin cam kt m ca th tr
ng thụng qua cỏc s liu v xut khu v
nhp khu dch v ca Vit Nam. Nu khụng cú nhng thụng tin thng kờ ỏng tin cy thỡ rt
khú ỏnh giỏ c tỏc ng tiờu cc cng nh tớch cc, kh nng thõm nhp th trng nc
ngoi v cỏc bin phỏp bo v th trng trong nc, li ớch ca ngi sn xut v tiờu dựng
dch v ca Vit Nam.
GATS quan tõm
n tt c cỏc lnh vc dch v cú liờn quan n thng mi v u t nc
• Chương 4 đề cập các khuyến nghị về hệ thống báo cáo thống kê liên quan đến 8 vấn đề:
- Thu thập số liệu xuất nhập khẩu dịch vụ trong điều tra doanh nghiệp hàng năm
- Sửa đổi, bổ sung chế độ báo cáo/điều tra doanh nghiệp tháng/qúy.
- Khai thác số liệu hiện có và hoàn thiện thống kê FDI để tách riêng bộ dữ liệu về thống
FATS.
- Tăng cường sự phối hợp bộ/ngành để khai thác nguồn số liệu từ hồ sơ hành chính.
- Nghiên cứu và sớm thực hiện cuộc điều tra toàn diện chuẩn về thương mại dịch vụ quốc
tế
- Thực hiện phân bổ số liệu thống kê EBOPS theo các phương thức cung cấp dịch vụ của
GATS
- Thiết lập cơ sở dữ liệu siêu văn bản và thực hiện từng bước việc công bố số liệu.
- Nghiên cứu và áp dụng các phương pháp ước tính số liệu
• Chương 5 đề cập các khuyến nghị về xây dựng danh mục dịch vụ sử dụng cho mục đích
thống kê.
Yêu cầu của hệ thống thống kê các ngành dịch vụ trong EBOPS
Hệ thống thống kê dịch vụ nói chung và thương mại quốc tế về dịch vụ nói riêng cần được xây
dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
• Phù hợp với các qui định của pháp luật và chiến lược phát triển đất nước như: Luật Thống kê,
Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (tên chỉ tiêu, phân tổ chủ yếu, kỳ báo cáo,
trách nhiệm của các Bộ/ngành, doanh nghiệp trong việc thu thập, tổng hợp và công bố số liệu
thống kê;
• Đảm bảo khả năng so sánh quốc tế và khu vực;
• Phù hợp với thực tế họat động dịch vụ và công tác thống kê;
• Đáp ứng yêu cầu sử dụng số liệu trong nước và quốc tế về tính chính xác, kịp thời và đầy đủ.