Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 013/06VIE
Thay thế phân bón N hóa học bằng chế phẩm vi sinh
cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu
nhập cho nông dân và cải thiện môi trường MS3: BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐIỀU TRA
Ngày 24 tháng 10 năm 2007
1
Điều tra nông dân và cán bộ khuyến nông và các đầu vào,
bao gồm:
1. Thông tin về hiểu biết, kỹ năng, thái độ và thực hành của các nhóm mục
tiêu về ảnh hưởng tiềm năng của chế phẩm vi sinh cố định đạm đến năng
suất cây họ đậu và cung cấp N cho đất.
2. Thực hành hiện tại, kinh nghiệm về sử dụng chế phẩm, hạn chế và các lý
do không sử dụng.
3. Chi tiết về sự sẵn có, sả
n xuất và phân phối bởi các công ty tư nhân, đánh
• Nông dân hiện đang sử dụng phân bón N hóa học cho cây lạc và cây đậu
tương (95%) ở liều bón trung bình 25–80 kg N/ha.
Đối với cán bộ khuyến nông, mặc dù họ hiểu biết hơn về ch
ế phẩm hơn nông dân
(khỏang 70% đã nghe nói về chế phẩm và biết nó dùng để làm gì) nhưng hầu hết
không dùng nó bởi vì chế phẩm này không có trên thị trường. Họ có ý định dử dụng
chế phẩm (100% nếu chế phẩm sẵn có) và hiện tại họ cũng sử dụng phân N hóa học
cho cây họ đậu với liều lượng tương tự nông dân.
Phần 3 – sản xuất hiện tại, chấ
t lượng và hệ thống bảo đảm chất lượng
sản phẩm (QA)
Tiềm năng sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm tại Việt nam khỏang 15,000 túi mỗi
năm. Sản xuất thực thì thấp hơn nhiều, chỉ khỏang 1,000–2,000 túi mỗi năm theo đặt
2
hàng. Số lượng sản xuất trước kia nhiều hơn, nghĩa là khoảng hơn 10 năm trước, chủ
yếu tại IAS và CU. Như chúng tôi hiểu thì hiện nay không có sản xuất thương mại chế
phẩm này.
Chất lượng sản phẩm sản xuất bởi IAS, OPI và SFI đã được đánh giá trong 3 đợt
trong năm 2007. Số lượng tế bào sống trong chế phẩm đã được xác định bằng phương
pháp đếm trực tiếp số khuẩn lạc trên môi trường dinh dưỡng và bằng phương pháp
nhiễm vào cây và xác định bằng số lượng có xác xuất lớn nhất (MPN). Với phương
pháp trực tiếp số lượng rhizobia dao động trong khỏang <10
6
đến >10
9
. Số lượng xác
tương và NC 92 cho lạc và các chủng của Việt nam đã cho thấy các chủng của Úc có
có hoạt tính cao hơn. Đánh giá hơn nữa về hoạt lực, khả năng sản xuất của các chủng
sẽ tiếp tục thự
c hiện trong thời gian còn lại của dự án và sẽ đưa ra các chủng phục vụ
sản xuất thương mại. Phân tích rủi ro và tiềm năng tính ổn định của sản xuất thương
mại cho thấy tính rủi ro thấp và tiềm năng lớn cho sự cải thiện. Dự án này sẽ tập trung
vào tất cả yếu tố đầu vào nghĩa là lựa chọn chất mang than bùn/chất mang thích hợp,
đóng gói, lên men nhân sinh khố
i, kỹ thuật pha loãng cho sản xuất, và bảo quản và
phân phối. Nông dân và cán bộ khuyến nông sẽ được thuyết phục về lợi nhuận khi áp
dụng chế phẩm, sẽ hiểu biết về chế phẩm, cách sử dụng chế phẩm thông qua các trình
diễn đồng ruộng, hội thảo đào tạo và cung cấp tài liệu khuyến nông. Cuối cùng chúng
tôi dự tính có sự tham gia của công ty tư nhân trong sản xuất và thị trường v
ới sự trợ
giúp của các viện nghiên cứu nhà nước.
3
Phần 1 và 2. Điều tra nông dân và cán bộ khuyến nông tại các vùng
trọng điểm về hiểu biết và tiềm năng sử dụng chế phẩm rhizobium
cho lạc và đậu tương và nhận thức của họ về lợi ích kinh tế và môi
trường. Giới thiệu
Mục tiêu của điều tra này là xác định hiểu biết hiện tại và sử dụng chế phẩm
rhizobium và sự quan tâm của nông dân và cán bộ khuyến nông trong việc sử dụng
chế phẩm trong tương lai. Điều tra này được xây dựng ngắn và đơn giản nhưng cung
khả năng sử dụng chế phẩm và các vấn đề quan trọng mà nông dân quan tâm khi sử
dụng nó (câu 7 )
Trong câu hỏi 5, chúng tôi tìm kiếm để cho thấy lý do chính tại sao nông dân và cán
bộ khuyến nông không dùng chế phẩm và do đó, có nhiều gợi ý với câu hỏi này (xem
phần phụ lục 2). Kết quả cho thấy chỉ có hai lý do át hắn các lý do khác là nông dân
không sử dụng chế phẩm bởi vì họ không biế
t gì về chúng hoặc là chế phẩm không có
trên thị trường. Câu hỏi số 7 được phân bố để xác định mối quan tâm của nông dân và
đòi hỏi cho việc sử dụng chế phẩm trong tương lai đặc biệt liên quan đến lợi nhuận
(sinh học, kinh tế và môi trường), kỹ thuật nhiễm, khuyến nông và các gợi ý khác.
Các phản hồi của nông dân về câu hỏi 7 mô tả mối quan tâm nhiều sử dụng chế phẩm
trong tương lai.
Ở thời điểm kết thúc của dự án, nông dân và cán bộ khuyến nông liên
4
quan đến 39 thí nghiệm và 39 trình diễn đã được lên kế hoạch thực hiện cũng như các
nông dân và cán bộ khuyến nông tham dự hội thảo đầu bờ và đào tạo sẽ cung cấp
phản hồi điều tra dựa trên các kinh nghiệm của họ.
Điều tra đã được thực hiện tại các vùng mục tiêu của dự án tại Việt nam (xem bảng
dưới đây). Đó là tỉnh Sơ
n La (vùng núi phía bắc), Nghệ An (ven biển miền bắc), Bình
Định (duyên hải nam trung bộ), DakLak, DakNong (vùng cao miền trung), Bình
Thuận và Tây Ninh (đất cao nam trung bộ), Đồng Tháp, An Giang, Trà Vinh (Đồng
bằng sông Cửu long). Các điểm điều tra được chọn lựa sau khi thảo luận với cán bộ
khuyến nông đối với vùng canh tác mở rộng của lạc và đậu tương tại mỗi tỉnh.
Vùng Tỉnh
Số nông
Đồng bằng sông Cửu
long
Đồng Tháp 41 0 41 5
An Giang 51 0 51 8
Trà Vinh 24 24 0 3
Tổng cộng 281 153 168 44
Nông dân tham gia vào điều tra này đã trồng lạc và đậu tương lâu đời và là những
nông dân giỏi. Nông dân điều tra được giới thiệu bởi cán bộ khuyến nông địa phương.
Trong số 281 nông dân, 153 (54%) trồng lạc và 168 (60%) trồng đậu tương. Kết quả
Sau đây là tóm tắt các câu trả lời của điều tra. Bộ dữ liệu được trình bày trong phụ lục
2.
Câu hỏi 1: Anh/chị đã từng nghe nói về
chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ
đậu?
Kết quả cho thấy chỉ có 15% nông dân hiểu biết về chế phẩm so sánh với 69% cán bộ
khuyến nông. Hầu hết tất cả nông dân này với hiểu biết về chế phẩm là từ Đồng bằng
sông Cửu long, có thể đây là do ảnh hưởng của nhóm nghiên cứu rhizobium ở trường
Đại học Cần Thơ. Điều gây ngạc nhiên là sự
hiểu biết về chế phẩm trong cán bộ
khuyến nông thay đổi giữa các vùng, từ 100% tại một số vùng (An Giang, Trà Vinh
Không biết về chúng 88 49
Không có để mua 11 51
Đối với nông dân, lý do họ không sử dụng chế phẩm cho cây lạc và đậu tương vì họ
không biết gì về nó cả (câu 1 và 2). Trong trường hợp cán bộ khuyến nông, là nhóm
hiểu biết tốt hơn về vấn đề này, thì lý do không sử dụng thì gần như là họ thiếu hiểu
biết và không có chế phẩm trên thị trường. Hai lý do này gần như tương đương nhau
Câu hỏi 6: Anh/chị có thể mua chế phẩm trên thị trườ
ng?
Kết quả cho thấy chế phẩm không có mặt trên thị trường ở các vùng điều tra. Không
có ai trả lời rằng họ có thể mua sản phẩm này trên thị trường. Chúng tôi cho là một
vài trả lời có áp dụng chế phẩm (câu hỏi 4) là có nguồn gốc từ các cơ quan nghiên cứu
nhà nước ví dụ như trường Đại học Cần Thơ.
Câu hỏi 7: Anh/chị sẽ sử dụng chế phẩm n
ếu anh.chị có thể mua nó trên thị
trường?
Nông dân và cán bộ khuyến nông quan tâm rất nhiều đến việc áp dụng chế phẩm nếu
nó có trên thị trường (chỉ có 3 nông dân trong số 281 nông dân được hỏi nói rằng họ
sẽ không sử dụng). Áp dụng chế phẩm không nghi ngờ gì sẽ phụ thuộc vào lợi ích
sinh học và kinh tế. Tuy nhiên, mức độ quan tâm cao như vậy cho thấy sản xuất chế
phẩm thương mại tạ
i Việt nam sẽ rất khả thi. 6
Trả lời của nông dân đối với các yếu tố họ quan tâm về lợi ích và sử dụng chế
phẩm trong tương lai
Trung bình liều lượng phân N sử dụng thay đổi từ 25 kgN/ha ở vùng núi phía bắc tới
80 kgN/ha ở vùng đồng bằng song Cử
u long.
Vùng Mức độ sử dụng (kg N/ha)
Vùng núi phía bắc 25
Ven biển miền bắc 72
Duyên hải Nam Trung bộ 38
Cao nguyên Trung bộ 30
Đông Nam bộ 63
Đồng bằng song Cửu long 80
Kết luận
Chúng tôi kết luận từ điều tra này là có sự quan tâm lớn của nông dân và cán bộ
khuyến nông trong tương lai về việc áp dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây
lạc và đậu tương tại các vùng trọng điểm tại Việt nam hầu hết bởi vì các lý do kinh tế,
lý do quan tâm và mong muốn áp dụng các kỹ thuật mới và tiên tiến. Sự không áp
dụng chế phẩm này hiện nay phản ánh hi
ểu biết nghèo nàn về chế phẩm, nó là gì, nó
có tác dụng gì và sự vắng mặt của chế phẩm trên thị trường. Điều tra này chỉ ra rằng
7
chế phẩm sẽ được chấp nhận không khó khăn gì nếu chế phẩm sẵn có trên thị trường
và dễ dàng sử dụng. Tăng sản xuất và cung cấp chế phẩm vi sinh cố định đạm chất
lượng cao tại Việt nam, đi kèm với một chương trình khuyến nông hiệu quả, sẽ dẫn
đến chế phẩm được chấp nhận cao. Đồng thời, chương trình khuyến nông c
Vẫn sử dụng liều lượng phân bón N cao?
Giá chế phẩm cao?
Thu nhập thấp hơn?
- Kỹ thuật nhiễm
Không dễ sử dụng?
Chi phí lao động them vào đáng kể khi áp dụng nhiễm?
Thay đổi tập quán canh tác?
Không dễ bảo quản chế phẩm?
Gợi ý để cải thiện hơn nữa kỹ
thuật nhiễm
- Khuyến nông
Không biết/biết rất ít về chế phẩm và cách sử dụng?
Nông dân có được thuyết phục?
Sản phẩm sẵn có?
Không dễ mua?
- Khác
Câu hỏi 6: Anh/Chị có thể mua chế phẩm này trên thị trường?
8
Câu hỏi 7: Anh/Chị có sử dụng chế phẩm nếu sản phẩm này có trên thị
trường?. Nếu vậy, đưa ra lý do
- Lợi ích
+ Lợi ích sinh học
Năng suất tăng?
Năng suất duy trì so với áp dụng phân bón N hóa học?
+ lợi ích kinh tế
Tiết kiệm phân bón N?
Giá cả chê phẩm hợp lý?
Tăng thu nhập?
3. Vẫn còn dùng nhiều phân N hóa học
4. Giá chế phẩm cao
5. Thu nhập thấp hơn
6. Sản phẩm thân thiết với môi trường
7. Tốn nhân công
8. Thay đổi tập quán trồng trọt
9. Khó bảo quản chế phẩm
10. Gợi ý để cải thiện hơn kỹ thuật nhiễm
11. Không biết/biết rất ít về chế phẩm và sử dụng
12. Nông dân không được thuyết phục
13. Không có sản phẩm
14. Khác Điều tra – Câu hỏi 5 – lý do CB Khuyến nông/CB nông nghiệp không
dùng chế phẩm
1. Mất thu hoạch
2. Năng suất thấp hơn so với bón phân N
3. Vẫn còn dùng nhiều phân N hóa học
4. Giá chế phẩm cao
5. Thu nhập thấp hơn
6. Sản phẩm thân thiết với môi trường
7. Tốn nhân công
8. Thay đổi tập quán trồng trọt
9. Khó bảo quản chế phẩm
10. Gợi ý để cải thiện hơn kỹ thuật nhiễm
11. Không biết/biết rất ít về chế phẩm và sử dụng
12. Không được thuyết phục
13. Không có sản phẩm