ĐỀ ÁN " TRÌNH TỰ TỔ
CHỨC CÔNG TÁC KIỂM
TOÁN"
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
LỜI MỞ ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tàI chính nhằm nâng cao chất
lượng quản lý kinh tế trong nền kinh tế quốc dân ,vấn đề kiểm tra kiểm soát chất lượng
làm lành mạnh hoá các thông tin tàI chính trong nền kinh tế quốc dânlà một nhu cầu cấp
thiết. Giúp cho nền kinh tế thị trường có thể đứng vững và có thể phát triển toàn diện về
mọi mặt.Nó đIũu tiết nền kinh tế đI đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng
có thể xảy ra trong nền kinh tế thị trường.chính vì vậy mà kiểm toán ra đời như một sự
tất yếu.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đang phát triển, sự
ra đời của các doanh nghiệp trẻ và đày triển vọng khiến cho sự canh tranh giữa các
doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Các doanh nghiệp cần mở rộng sản xuất kinh
doanh, đầu tư mới máy móc, trang thiết bị hiện đại cho sản xuất…do vậy doanh nghiệp
cần phải huy động vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài. Các nhà đầu tư cần có những tài
liệu tin cậy để có sự đầu tư đúng đắn, ngoài ra; các cơ quan Nhà nước cần thông tin
trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế; người lao động cần thông tin đáng tin cậy về
kết quả kinh doanh, thực hiện chính sách tiền lương…; khách hàng, nhà cung cấp cần
hiểu rõ thực chất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp để cung cấp hàng
hoá, dịch vụ. Chính vì vậy, kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính ra đời với vai
trò, chức năng xác minh và tư ván không chỉ giúp cho sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
mà còn ý nghĩa cho bản thân doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm. Nếu như Báo
cáo tài chính chỉ cung cấp và trình bày cho người đọc thực trạng của doanh nghiệp tại
một thời gian nhất định thì kiểm toán các Báo cáo tài chính sẽ gây dựng lòng tin cho
người sử dụng đối với Báo cáo tài chính đó.
Từ đó ta có thể thấy mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng tơí việc tạo ra
PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán.
Phần III: Vận dụng quy trình kiểm toán vào các loại hình kiểm toán 2
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán
1.1Kiểm toán và tổ chức kiểm toán
1.1.1 Tổ chức
Là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống .mức độ liên hệ này
được xác định qua biên độ giao động từ không đến một.ở mức độ
không,các yếu tố trong cùng một hệ thống không tồn tại bấ kì mối liên
hệ nào.khi đó hệ thống rơI vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức.ở độ
một ,ngược lại ,các yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt
động ở mức độ tối ưu .
1.1.2 Tổ chức kiểm toán
là kháI niệm bao hàm trình tự kiểm toán.một cuộc kiểm toán chỉ có
thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định
thống nhất giữa chủ thể và khách thểkiểm toán,trong đó chủ thể kiểm
toán được xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán vàkết hợp khéo
léo các phương pháp kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ
những cơ sở pháp lý nhất định để thực hiện cuộc kiểm toán,thoả mãn
nhu cầu khách thể kiểm toán và các bên quan tâm.theo đó tổ chức
kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa quyết định sự thành côngvà
tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán.
1.1.3 Trình tự
ập
kế ho
ạ
ch và thiết kế
p
hươn
g
p
há
p
kiểm Giai đoạn II
Thực hiện kế hoạch kiểm toán Giai đoạn III
Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên
cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng
như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán
đã được quy định rõ trong các Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành, Chuẩn mực
và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.
Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh xảy ra
những bất đồng đối với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập,
kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực
hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên…
Điều này tránh xảy ra những hiểm lầm đáng tiếc giữa hai bên.
Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể
kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện,
góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt
chặt hơn mối quan hệ giữa Công ty kiểm toán với khách hàng.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như
hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong
khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy
trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt
Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và
hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để
đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm
toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy kế hoạch kiểm toán được lập
đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công
của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp.
2.1.2 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán
Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán được thực
hiện có hiệu quả, các giám đốc kiểm toán và các kiểm toán viên cao cấp thường
lập chiến lược kiểm toán. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Kế
5
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và
th
ự
c hi
ệ
n các
Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán
Tìm hiểm hệ thống kiểm soát nội và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình
ể
2.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 qui định: “ Kế hoạch kiểm toán phải được
lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc
kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc kiểm toán được hoàn thành
đúng hạn”. Theo đó, việc lập kế hoạch kiểm toán thường được triển khai qua các bước
chi tiết sau.
6
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a 2.2.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và Công ty kiểm toán thu nhận một
khách hàng. Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm 2 bước: thứ nhất, phải có sự
liên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu được
kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận
dũng-Kiểm toán42a
+ Trách nhiệm của ban giám đốc công ty khách hàng và công ty kiểm toán.
+ Hình thức thông báo kết quả kiểm toán.
+ thời gian tiến hành, kết thúc và phát hành báo cáo kiểm toán.
+ Căn cứ tính giá phí của cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.
+ Chỉ rõ trách nhiệm của kiểm toán viên và Công ty kiểm toán không liên quan tới
những sai sót do bản chất của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng.
2.2.2 Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch kiểm toán
tổng quát. Trong giai đoạn này, như đã được xác định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 300, Lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thu thập hiểu biết nghành nghề,
công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và
các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán. Trong giai đoạn này
kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu
về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để
thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác.
- Tìm hiểu nghành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng. Cụ thể, mỗi
nghành nghề có một hệ thống kế toán riêng và có những nguyên tắc đặc thù. Để tìm
hiểm nghành nghề kinh doanh của công ty khách hàng có thể trao đổi với kiểm toán
viên tiền nhiệm hoặc trực tiếp trao đổi với nhân viên, ban giám đốc của khách hàng.
Ngoài ra kiểm toán viên có thể có được những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu các
sách báo, tạp chí chuyên nghành, và ở Việt Nam, kiểm toán viên có thể lấy các
thông tin từ Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hàng năm.
- Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán thường xuyên. Các
hồ sơ kiểm toán thường xuyên thường chứa đựng rất nhiều thông tin về khách hàng,
về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác. Ngoài ra
đa phần các công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối với
mỗi khách hàng. Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu như: sơ đồ tổ chức bộ
máy, điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm
tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này
được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc khách hàng bao gồm các loại
sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ thành lập của công ty khách hàng. Việc nghiên cứu
những giấy tờ này giúp cho kiểm toán viên hiểu được quá trình hình thành, mục tiêu
hoạt động và những lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị.
- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, biên bản thanh tra, kiểm tra của năm hiện
hành hoặc một vài năm trước. Các báo cáo trên cung cấp về thực trạng tài chính, kết
quả hoạt động kinh doanh và dự kiến về phương án kiểm tra thông qua các biên bản
kiểm tra, thanh tra trước.
- Biên bản họp của hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc. Thông qua
việc nghiên cứu các biên bản này kiểm toán viên sẽ xác định được những yếu tố ảnh
hưởng tới thông tin trên báo cáo tài chính.
9
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng: Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán việc
xem xét sơ bộ các hợp đồng đó giúp cho kiểm toán viên hình dung được những khía
cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị.
2.2.4 Thực hiện các thủ tục phân tích
Theo Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả
các cuộc kiểm toán và chúng thường được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc
kiểm toán.
Thủ tục phân tích, theo định nghĩa của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, “là việc
phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng
biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác
khách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thông tin đã
thu thập được để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
2.2.6 Đánh giá mức trọng yếu
- Khái niệm: trọng yếu là khái niềm dùng để chỉ tầm cỡ và bản chất các sai phạm của
các thông tin tài chính, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá mức trọng
yếu để ước tính mức độ sai sót trên báo cáo tài chính có thể chấp nhận từ đó xác
định nội dung và trình tự thực hiện các thử nghiệm kiểm toán.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra ước tính ban
đầu về tính trọng yếu và phân bổ các ước tính ban đầu đó cho các khoản mục.
+ Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: mức ước tính ban đầu về tính trọng yếu là giá trị
tối đa mà kiểm toán viên tin rằng tại giá trị tối đa đó các báo cáo tài chính có thể bị sai
nhưng không ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng thông tin tài
chính, hay nói cách khác là mức sai sót có thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính.
Ý nghĩa: việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế
hoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và thích hợp. Cụ thể, nếu
kiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu càng thấp thì độ chính xác của các số liệu trên
các báo cáo tài chính càng cao và do đó số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều
và ngược lại.
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một việc mang tính chất xét đoán nghề
nghiệp, nên các mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là không cố định, mà có thể
thay đổi trong quá trình kiểm toán nếu kiểm toán viên nhận thấy rằng mức ước lượng
ban đầu là quá cao hoặc quá thấp hoặc chỉ tiêu chọn làm gốc thay đổi trong quá trình
kiểm toán.
Các yếu tố ảnh hưởng tới việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:
Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối, nó được
xác định gắn liền với quy mô của công ty khách hàng. Một sai sót với một quy mô
nhất định có thể là trọng yếu đối với một công ty nhỏ nhưng lại là không trọng yếu
phân bổ này nhằm giúp kiểm toán viên xác định được số lượng bằng chứng kiểm
toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp nhất, mà
vẫn đảm bảo được tổng hợp các sai sót trên báo cáo tài chính không vượt quá ước
lượng ban đầu về tính trọng yếu.
Do hầu hết các thủ tục kiểm toán thường tập trung vào các tài khoản trên bảng cân
đối kế toán nên việc phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thường được
tiến hành đối với bảng cân đối kế toán. Việc phân bổ được thực hiện theo cả hai
chiều hướng mà các sai phạm có thể xảy ra là khai khống và khai thiếu.
Cơ sở để tiến hành phân bổ: dựa vào bản chất của các khoản mục, đánh giá về rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của kiểm toán viên và chi phí kiểm toán
12
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
cho từng khoản mục. Trong thực tế khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí kiểm
toán cho từng khoản mục thường khó dự đoán trước, cho nên sự phân bổ ban đầu
ước lượng về mức trọng yếu thường mang tính chủ quan đòi xét đoán nghề nghiệp
của kiểm toán viên.
2.2.7 Đánh giá rủi ro
Trên cơ sở mức trọng yếu và phân bổ mức trọng yếu thì kiểm toán viên cần đánh giá
khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trên từng
khoản mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình
kiểm toán phù hợp. Công việc này được gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán để lập kế hoạch
kiểm toán.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thường phải xác định một
mức rủi ro kiểm toán mong muốn, mức rủi ro này được xác định phụ thuộc vào hai yếu
tố:
Đánh giá rủi ro phát hiện: được xác định từ 3 loại rủi ro trên, xảy ra do các nhân tố :
- Kiểm toán viên thực hiện các bước kiểm toán không thích hợp do kế hoạch kiểm
toán chi tiết không được chú trọng hoặc do không áp dụng quy trình hợp lý cho từng
phần hành.
- Kiểm toán viên có phát hiện được các bằng chứng nhưng không nhận thức được các
sai sót cũng như ảnh hưởng của nó tới báo cáo tài chính.
- Hoàn toàn không phát hiện được sự sai sót do có sự thông đồng.
2.2.8 Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro
kiểm soát.
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát là
một phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện trong một cuộc
kiểm toán, vấn đề này được quy định trong nhóm chuẩn mực đối với công việc tại chỗ ở
điều thứ 2 trong 10 Chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận rộng rãi( GASS): “Kiểm toán
viên phải có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm
toán và để xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các cuộc khảo sát phải thực
hiện” . Và điều này cũng được quy định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400,
Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “ Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống
kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng
cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả”.
Trong các bước tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa vào các yếu tố xác
định trong kế hoạch kiểm toán tổng quát, kiểm toán viên sẽ thiết kế các thủ tục kiểm
toán chi tiết và soạn thảo chương trình kiểm toán.
2.2.9 Thiết kế chương trình kiểm toán
2.2.9.1 Chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần thực
hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các kiểm toán viên cũng như
14
nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ và kết quả ước tính của thử nghiệm kiểm
soát.
- Quy mô mẫu chọn: Trong trắc nghiệm công việc, để xác minh quy mô mẫu chọn
người ta thường dùng phương pháp chọn mẫu thuộc tính được sử dụng để ước tính
tỷ lệ của phần tử trong một tổng thể có chứa một đặc điểm hoặc thuộc tính được
quan tâm.
15
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Khoản mục được chọn: sau khi xác định quy mô mẫu chọn, kiểm toán viên phải xác
định các phần tử cá biệt mang tính đại diện cao cho tổng thể.
- Thời gian thực hiện: các trắc nghiệm công việc thường được tiến hành vào thời điểm
giữa năm( nếu hợp đồng kiểm toán dài hạn) hoặc vào thời điểm kết thúc năm.
2.2.10 Thiết kế các trắc nghiệm phân tích
Các trắc nghiệm phân tích được thiết kế để đánh giá tính hợp lý chung của các số dư
tài khoản đang được kiểm toán. Trên cơ sở kết quả của việc thực hiện các trắc nghiệm
phân tích đó, kiểm toán viên sẽ quyết định mở rộng hay thu hẹp các trắc nghiệm trực
tiếp số dư. Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán, qui trình phân tích còn bao
hàm những thủ tục phân tích chi tiết đối với số dư các tài khoản và được thực hiện qua
các bước sau:
Xác định số dư tài khoản và sai sót tiềm tàng cần được kiểm tra.
Tính toán giá trị ước tính của tài khoản cần được kiểm tra.
Xác định giá trị chênh lệch có thể chấp nhận được.
Kiểm tra số chênh lệch trọng yếu.
Đánh giá kết quả kiểm tra.
2.2.11 Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư
Sơ đồ 3: Phương pháp luận thiết kế các khảo sát chi tiết số dư
ợcchọn16
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Chương trình kiểm toán được thiết kế ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán
và có thể cần phải sửa đổi do hoàn cảnh thay đổi. Việc thay đổi chương trình kiểm toán
ban đầu không phải là điều bất thường vì việc dự kiến trước tất cả các tình huống xảy ra
là rất khó khăn. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, lập kế hoạch kiểm
toán, kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán sẽ được sửa đổi, bổ xung nếu cần
trong quá trình kiểm toán nếu có những thay đổi về tình huống hoặc do những kết quả
ngoài dự đoán của các thủ tục kiểm toán. Nguyên nhân dẫn đến việc phải có những sửa
đổi đáng kể trong kế hoạch kiểm toán hoặc chương trình kiểm toán cần phải được ghi rõ
trong hồ sơ kiểm toán.
Trong thực tế, chương trình kiểm toán có thể được soạn thảo trong giai đoạn thực
hiện kiểm toán hoặc không cần soạn thảo mà sử dụng chương trình kiểm toán mẫu của
công ty kiểm toán phù hợp với điều kiện thực tế. 2.3. Thực hiện kế hoạch kiểm toán
2.3.1 Khái quát quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm
toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đó là
quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán
nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài
chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy. Như vậy, thực hiện kế
Để hiểu rõ quá trình thực hiện các trắc nghiệm này chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu
việc thực hiện các thủ tục kiểm toán và vận dụng chúng trong các loại nghiệp vụ.
2.3.2 Thực hiện thủ tục kiểm soát
Thủ tục kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ với
đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống kiếm soát nội bộ hoạt động có hiệu
lực. Khi đó, thủ tục kiểm soát được triển khai nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán
về thiết kế và về hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 500 quy định: “Thử nghiệm kiểm soát( kiểm tra hệ thống kiểm soát) là việc
kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu
hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ”.
Cụ thể, các bằng chứng kiểm toán phải minh chứng được:
- Thiết kế các hoạt động kiểm soát cụ thể của khách thể kiểm toán thích hợp để ngăn
ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu.
- Hoạt động kiểm soát đã được triển khai theo đúng yêu cầu của thiết kế trong thực tế.
Bằng chứng về sự vận hành hữu hiệu này liên quan đến cách thức áp dụng các hoạt
động kiểm soát về tính nhất quán trong quá trình áp dụng và đối tượng áp dụng
những hoạt động đó.
Các cách thức hay phương pháp cụ thể được áp dụng trong kiểm tra hệ thống kiểm soát
nội bộ bao gồm:
- Điều tra: bao gồm quan sát thực địa và xác minh thực tế kể cả chữ ký trên các chứng
từ hoặc báo cáo kế toán.
- Phỏng vấn: là cách thức đưa ra những câu hỏi và thu thập những câu trả lời của các
nhân viên của khách thể kiểm toán để hiểu rõ về những nhân viên này và xác nhận
họ đã thực hiện các hoạt động kiểm soát.
- Thực hiện lại:được hiểu đơn giản là phép lặp lại hoạt động của một nhân viên đã làm
để xác nhận mức độ thực hiện trách nhiệm của họ với công việc được giao.
- Kiểm tra từ đầu đến cuối: là sự kết hợp giữa kỹ thuật phỏng vấn, điều tra và quan sát
theo trật tự diễn biến qua từng chi tiết của nghiệp vụ cụ thể đã được ghi lại trong sổ
cái.
kiểm toán. Để có thể tăng tính chính xác cho các dự đoán bằng cách phát triển mô
hình theo hướng chi tiết hoá dữ liệu, thậm chí chi tiết hoá thành nhiều mô hình nhỏ
hơn.
- Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ: tính độc lập và
tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ sử dụng trong mô hình có ảnh hưởng trực
tiếp đến tính chính xác của dự đoán và tới bằng chứng kiểm toán thu được từ thủ tục
phân tích.
19
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ: dựa theo mô hình và trên cơ sở dữ liệu
độc lập và tin cậy có thể so sánh ước tính này với giá trị ghi sổ. Phép so sánh này
cần chú ý tới những xu hướng sau:
Tính thường xuyên của việc đánh giá mối quan hệ đang được nghiên cứu.
Tính biến động tất yếu và biến động bất thường.
- Phân tích nguyên nhân chênh lệch: chênh lệch phát sinh có thể do số dư tài khoản
hay loại nghiệp vụ được kiểm toán chứa đựng sai sót nhưng có thể chênh lệch được
hình thành từ chính ước tính trong phân tích.
- Xem xét những phát hiện qua kiểm toán: bằng chứng kiểm toán thu nhận được từ
thủ tục phân tích cần được đánh giá do phát hiện qua kiểm toán không chỉ bao gồm
những sai sót trong tài khoản mà cả những quan sát hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ
thống thông tin và những vấn đề khác.
2.3.4 Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết
Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệm tin cậy
thuộc trắc nghiêm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toán từng khoản
mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ. Quá trình kiểm
chọn mẫu đại diện hoặc kết hợp cả hai phương pháp.
2.3.7 Lựa chọn khoản mục chính
Các khoản mục chính là những khoản mục mà dựa trên đánh giá, kinh nghiệm và sự
hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng, kiểm toán viên thấy chúng là khoản
mục không phát sinh thông thường, không dự đoán trước được hay dễ có sai phạm. Để
lựa chọn được những khoản mục chính cần đọc những chứng từ tài liệu.
Bảng số1: cơ sở và thủ tục lựa chọn các khoản mục chính
Cơ sở lựa chọn khoản mục Ví dụ về thủ tục tương ứng áp dụng
Thiếu số thứ trong dãy số liên tục Đọc danh mục hoá đơn bán hàng để tìm
ra những số thứ tự bị khuyết
Trùng lắp số thứ tự trong dãy số liên tục Đọc hồ sơ nhân viên để tìm ra những hồ
sơ có 2 bản của cùng một nhân viên
trong một thời kỳ nào đó
Giá trị lớn (hoặc bé ) hơn một giá trị cụ
thể
Đọc lướt danh mục hàng tồn kho để phát
hiện những dòng có giá trị âm
v.v… v.v…
2.3.8 Thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản mục đã
chọn
Trên cơ sở các khoản mục đã chọn, cần thực hiện các biện pháp kỹ thuật để kiểm tra
chi tiết. Có thể áp dụng các kỹ thuật kiểm toán thích hợp đối với mỗi khoản mục lựa
chọn để tiến hành kiểm tra chi tiết nhằm xác định khả năng tồn tại những chênh lệch
đến mức đòi hỏi điều tra và theo dõi. Trong các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết xác
nhận và kiểm tra thực tế là những kỹ thuật thường được áp dụng rộng rãi trong kiểm
toán báo cáo tài chính và cần được thực hiện trên cơ sở xác định.
21
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
Báo cáo về những chênh lệch kiểm toán: cần được thực hiện ngay lập tức cho Ban
giám đốc và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh có thể thông tin cho Hội đồng quản trị trong
những trường hợp sau đây:
- Phát hiện ra sai sót trọng yếu trong Báo cáo tài chính.
- Phát hiện ra một điểm yếu quan trọng hoặc một khía cạnh cần phải báo cáo về hệ
thống kiểm soát nội bộ.
22
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Phát hiện ra sai phạm cố ý.
- Tin rằng có tồn tại sai phạm thậm chí có ảnh hưởng không trọng yếu đối với Báo
cáo tài chính.
Với những chênh lệch kiểm toán không được sửa đổi cần lập một tóm tắt tính trọng
yếu của những chênh lệch này và xét khả năng ảnh hưởng của chúng đến Báo cáo tài
chính.
2.4 Kết thúc kế hoạch kiểm toán
2.4.1 Xem xét các khoản nợ ngoài dự kiến:
Trong thực tế, có những sự kiện phát sinh trong năm có thể dẫn đến một khoản
công nợ hay thiệt hại mà cho đến thời điểm khoá sổ vẫn chưa thể xác định liệu có thể
chắc chắn xảy ra hay không, và số tiền cụ thể là bao nhiêu?
Ví dụ: Mọt khách hàng kiện đơn vị trong năm, đòi hỏi đơn vị phải bồi thường một
khoản tiền lớn. Đến cuối năm sự kiện vẫn chưa kết thúc nên chưa thể kết luận chắc chắn
rằng liệu đơn vị có phải bồi thường không và nếu có là bao nhiêu?
Những khoản công nợ hay thiệt hại đó được gọi là công nợ ngoài dự kiến hay còn
gọi là các khoản còn mập mờ. Đó là các nghĩa vụ có thể có do một sự kiện đã xảy ra tạo
nên; và việc nghĩa vụ này có thực sự có hay không, và số tiền cụ thể là bao nhiêu thì
còn tuỳ thuộc vào một số sự kiện trong tương lai. Nói cách đây là những thiệt hại có thể
chắc chắn xảy ra, hay có thể xảy ra, hay là rất khó xảy ra, sự mập mờ đó chủ yếu là do