BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Đề tài: "Giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ở
Công ty giầy Thượng Đình "
toán.
Trong bối cảnh chung đó, Công ty giầy Thượng Đình đã có nhiều cố gắng
trong việc tìm hướng khai thác, huy động vốn vào phát triển kinh doanh và đã
đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều vấn
đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết như tích luỹ hơn nữ
a để tăng nguồn vốn
sở hữu, tự chủ trong sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản
xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn, đặc biệt là vấn đề quản lý và sử dụng
hiệu quả tài sản lưu động. Là một doanh nghiệp thương mại nhà nước hoạt động
đặc thù trong nghành sản xuất kinh doanh da giầy, tài sản lưu động củ
a Công ty
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
2
đòi hỏi lớn, . Kinh doanh các mặt hàng da giầy nên đã đòi hỏi một lượng hàng
hoá lớn trong khâu dự trữ và lưu thông, điều này bắt buộc doanh nghiệp phải có
phương thức quản lý và sử dụng tài sản lưu động một cách hết sức khoa học,
hợp lý nhằm đạt hiệu quả tối ưu nhất của đồng vốn.
Do tầm quan trọng của vấn đề và qua th
ực tế nghiên cứu, tìm hiểu trong
thời gian thực tập tại Công ty. Đặc biệt là được sự giúp đỡ tận tình của Th.s.
Phạm Hồng Vân và các cô, chú ,anh chị trong phòng Kế toán – Tài chính Em đã
mạnh dạn chọn đề tài chuyên đề tốt nghiệp là: "Giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản lưu động ở Công ty giầy Thượng Đình ".
Song do thời gian có hạn nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu
sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các cô,
chú ,anh,chị trong phòng Kế toán –Tài chính để bài viết của em được tốt hơn.
Qua đây em cũng tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của Cô giáo –
Th.s .Phạm Hồng Vân cùng các cô, chú ,anh chị trong phòng Kế toán –Tài
chính. Em xin chân thành cảm ơn!
Nội dung chính của chuyên đề được trình bày trong các chương sau:
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TRONG CỦA
DOANH NGHIỆP.
1.1.1. Khái niệm tài sản lưu động.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu một bước ngoặt
lớn trong lịch sử tồn tại và phát triển của đất nước ta, với việc chuyển đổi nền
kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấ
p sang cơ chế thị trường. Trong điều
kiện đó, các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mở rộng và phát
triển, trong nền kinh tế xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp với các hình thức
sở hữu khác nhau, cùng tồn tại, cạnh tranh lẫn nhau và bình đẳng trước pháp
luật. Cho dù có khác nhau về loại hình, về lĩnh vực kinh doanh nhưng các doanh
nghiệp luôn là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế nướ
c ta. Nhiệm vụ chủ
yếu của doanh nghiệp là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo
ra sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp có thể
thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu từ sản xuất đến
tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu t
ối đa hoá lợi
nhuận.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải có
3 yếu tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình sản
xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm hàng hoá
lao vụ, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động( nhiên nguyên,
nhiên, vật liệu, bán thành phẩm )chỉ tham gia vào m
ột chu kì sản xuất kinh
doanh và luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
4
1.1.2.1. Phân loại tài sản lưu động
Có thể phân loại TSLĐ theo khả năng chuyển đổi và đặc điểm kinh tế của
từng nhóm:
a, Tiền(Cash)
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
5
Tất cả tiền mặt tại quỹ ,tiền trên các tài khoản ngân hàng và tiền đang
chuyển .Lưu ý rằng ,ở đây tiền (hay vốn bằng tiền )không phải chỉ là tiền mặt
.Nhiều người nhầm lẫn khái niệm Cash trong tiếng Anh và cho nó đồng nghía
với khái niệm tiền mặt trong tiếng Việt.Theo ngôn ngữ tiếng Việt Nam ,”tiền
mặt “ không bao gồm tiền gửi ngân hàng.Khi các doanh nghiệp thanh toán bằng
séc hoặc chuy
ển khoản thì được gọi là “thanh toán không dùng tiền mặt “.Trong
lĩnh vực tài chính- kế toán ,tài sản bằng tiền “Cash “của một công ty hay doanh
nghiệp bao gồm:
+Tiền mặt(Cash on hand)
+Tiền gửi ngân hàng(Bank accounts)
+Tiền dưới dạng séc các loại (Cheques)
+Tiền trong thanh toán(Floating money,Advanced payment)
+Tiền trong thẻ tín dụng và các loại tài khoản thẻ ATM
b,Vàng,bạc ,đá quý và kim khí quý
Đây là nhóm tài sản đặc biệt ,chủ yếu dùng vào mục đích dự trữ.Tuy
vậy,trong một số
nghành như ngân hàng ,tài chính ,bảo hiểm ,trị giá kim cương
,đá qúy ,vàng bạc ,kim khí quý vv có thể rất lớn
c,Các tài sản tương đương với tiền(cash equivalents)
Nhóm này gồm các tài sản tài chính có khả năng chuyển đổi cao ,tức là dễ
bán ,dễ chuyển đổi thành tiền khi cần thiết.Tuy nhiên, không phải tất cả các loại
chứng khoán đều thuộc nhóm này .Chỉ có các chứng khoán ngắn hạn dễ bán mới
được coi là TSLĐ thuộc nhóm này.Ngoài ra,các giấy tờ thươ
Hàng hoá vật tư được theo dõi trong một tài khoản gọi là hàng tồn
kho.”Hàng tồn kho” trong khái niệ
m này không có nghĩa là hàng hoá bị ứ
đọng,không bán được ,mà thực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật
liệu,nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng.Nó gồm
nhiều chủng loại khác nhau như:NVL chính, NVL phụ ,vật liệu bổ trợ ,nhiên
liệu và các loại dầu mở, thành phẩm…
h, Các chi phí chờ phân bổ
Trong thực tế ,một khối lượng NVL và một số khoản chi phí đã phát sinh
nhưng có thể chưa
được phân bổ vào giá thành sản phẩm hay dịch vụ.Những
khoản này sẽ được đưa vào giá thành trong khoảng thời gian thích hợp.
1.1.2.2. Kết cấu tài sản lưu động.
Bên cạnh việc nghiên cứu các cách phân loại TSLĐ theo những tiêu thức
khác nhau, doanh nghiệp còn phải đánh giá, nắm bắt được kết cấu TSLĐ ở từng
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
7
cách phân loại đó. Kết cấu TSLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ
giữa thành phần trong tổng số TSLĐ của doanh nghiệp. Ở các doanh nghiệp
khác nhau thì kết cấu TSLĐ cũng không giống nhau. Việc phân tích kết cấu
TSLĐ của doanh nghiệp theo các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh
nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về TSLĐ mà mình đang quản lý, sử
dụng t
ừ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý TSLĐ có hiệu
quả hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, thông qua
việc đánh giá, tìm hiểu sự thay đổi kết cấu TSLĐ trong những thời kỳ khác nhau
có thể thấy được những biến đổi tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong
công tác quản lý TSLĐ
của từng doanh nghiệp.
Kết cấu TSLĐ của doanh nghiệp luôn thay đổi và chịu tác động của nhiều
cổ phần, vốn góp liên doanh, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại.Vốn chủ sở hữu
thể hiện khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn chủ sở
hữu trong tổng vốn càng lớn thì sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng
cao.
- Các khoản nợ: Là các khoản TSLĐ
được hình thành từ các khoản vay
của các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tài chính, vốn vay qua phát hành
trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán
* TSLĐ hình thành căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Nguồn
vốn của doanh nghiệp chia thành hai loại :
- Nguồn vốn thường xuyên: Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài
hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn để tài trợ cho nhu cầu
TSLĐ th
ường xuyên cần thiết của doanh nghiệp
Nguồn vốn thường xuyên = Tổng nguồn vốn - Nợ ngắn hạn
- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, gồm các
khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản nợ ngắn
hạn, được dùng để đáp ứng nhu cầu TSLĐ có tính chất tạm thời, bất thường phát
sinh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồ
n vốn tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp
*TSLĐ hình thành theo phạm vi huy động vốn: TSLĐ được hình thành từ
hai nguồn
- Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động đ-
ược từ bản thân doanh nghiệp. Bao gồm: vốn từ lợi nhuận để lại trong quá trình
kinh doanh, các quĩ của doanh nghiệp, các khoản thu từ nhượng bán, thanh lý tài
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
9
sản Sử dụng triệt để nguồn vốn bên trong doanh nghiệp tức là doanh nghiệp đã
phát huy được tính chủ động trong quản lý và sử dụng TSLĐ của mình.
Hiệu quả
sử dụng tài sản lưu động có vai trò quan trọng trong việc đánh
giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, bởi khác với tài sản cố định, tài sản
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
10
lưu động cần các biện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì
mới đem lại hiệu quả cao. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là một trong những
căn cứ đánh giá năng lực sản xuất, chính sách dự trữ tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh cu
ối cùng
của doanh nghiệp.
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Việc quản lý sử dụng tốt tài sản lưu động sẽ góp phần giúp doanh nghiệp
thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý tài sản lưu động không những
đảm bảo sử dụng tài sản lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa đối vớ
i
việc hạ thấp chi phí sản xuất, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm và thu tiền bán
hàng, từ đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tóm lại, hiệu quả sử dụng tài sản lưu động của doanh nghiệp có thể hiểu
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác và quản lý tài sản lưu động
của doanh nghiệp, đảm bảo lợi nhuận tối
đa với số lượng tài sản lưu động sử
dụng với chi phí thấp nhất. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là yêu
cầu tất yếu khách quan của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Mặc
dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ
không phải chỉ đơn thuần do quản trị tài sản lư
u động tồi. Nhưng cũng cần thấy
rằng sự bất lực của một số doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát một
cách chặt chẽ các loại tài sản lưu động hầu như là một nguyên nhân dẫn đến thất
bại cuối cùng của họ.
ốn,tài sản nói chung và TSLĐ
nói riêng vẫn ở mức thấp. Đó là do các doanh nghiệp chưa bắt kịp với cơ chế thị
trường nên còn nhiều bất cập trong công tác quản lý và sử dụng tài sản.
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp
lý, hiệu quả từng đồng TSLĐ nhằm làm cho TSLĐ được thu hồi sau mỗi chu kỳ
sản xuất. Việc tăng t
ốc độ luân chuyển TSLĐ cho phép rút ngắn thời gian chu
chuyển của vốn, qua đó, vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số
TSLĐ cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng
hoặc lớn hơn trước. Nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ còn có ý nghĩa quan
trong trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản
phẩm.
Hơ
n nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thu
được lợi nhuận và lợi ích xã hội chung nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan
trọng đặt ra tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn TSLĐ. Do đặc
điểm TSLĐ lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái
TSLĐ thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn TSLĐ chỉ xét trên m
ặt giá
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
12
trị . Bảo toàn TSLĐ thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ được đủ mua một
lượng vật tư, hàng hoá tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hoá tăng lên, thể
hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ và tài sản lưu động định mức
nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tăng cư-
ờng qu
ản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ còn giúp cho doanh nghiệp
luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹ thuật đ-
ược cải tiến. Việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến công nghệ hiện đại sẽ tạo ra khả
năng rộng lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm,
thuần.
1.2.3.2. Hiệu quả sử dụng tài sản lưu động
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lợi TSLĐ =
TSLĐ bq trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản lưu động có thể tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt. Mức doanh lợi tài sản lưu
động càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao.
1.2.3.3. Mức đảm nhiệm tài sản lưu động
TSLĐ
Hệ số đảm nhiệm
TSLĐ
=
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra 1 đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng
tài sản lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt đối với doanh nghiệp, vì khi đó
tỷ suất lợi nhuận của một đồng tài sản lưu động sẽ tăng lên.
1.2.3.4. Mức tiết kiệm tài sản lưu động
Doanh thu thuần
kỳ phân tích
Mức
tiết
kiệm
TSLĐ
=
360
- Hệ số thanh toán ngắn hạn:
Tài sản lưu động
Hệ số thanh toán ngắn hạn =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp trong
ngắn hạn,nghĩa là khả năng đáp ứng các nhu cầu thanh toán dưới một năm của
các khoản mục tài sản lưu động của doanh nghiệp .
- Hệ số thanh toán nhanh:
Vốn bằng tiền + các khoản phải
thu
Hệ số thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán của tiền và các khoản phải thu
nghĩa là các tài sản có thể chuyển nhanh thành tiền đối với các khoản nợ ngắn
hạn của doanh nghiệp .
- Hệ số thanh toán tức thời:
Vốn bằng tiền
Hệ số thanh toán tức thời =
Nợ đến hạn
Hệ số này cho biết khả năng đáp ứng ngay các nhu cầu thanh toán đến hạn
của doanh nghiệp .
- Vòng quay hàng tồn kho:
Doanh thu thuần
Vòng quay hàng tồn kho
=
Giá trị hàng tồn kho
hoặc
Giá vốn hàng bán
Vòng quay hàng tồn kho
=
chính sách tín dụng
Các chỉ tiêu trên đây tuy không phản ánh trực tiếp hiệu quả sử d
ụng tài
sản lưu động nhưng nó cũng là những công cụ mà người quản lý tài chính cần
xem xét để điều chỉnh việc sử dụng tài sản lưu động sao cho đạt hiệu quả cao
nhất.
1.2.4. Một số phương pháp quản lý tài sản lưu động trong doanh
nghiệp
1.2.4.1. Quản lý tiền mặt
Quản lý tiền mặt đề cập đến vấn đề quản lý tiền mặt trong két và các
khoản tiền gửi ngân hàng và các loại tài sản có tính lỏng cao. Các loại chứng
khoán gần như tiền mặt giữ vai trò quan trọng vì nếu số dư tiền mặt nhiều,
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
16
doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có tính thanh khoản cao vì các loại
chứng khoán này cho hiệu suất sinh lời cao và lúc cần cũng dễ dàng chuyển sang
tiền mặt. Vì thế mà trong quản trị tài chính, ngời ta thờng sử dụng chứng khoán
có tính thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn.
Tiền mặt tại quỹ là một bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền của
doanh nghiệp. Trong quá trình s
ản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn có
nhu cầu dự trữ tiền mặt ở một quy mô nhất định. Vốn tiền mặt đòi hỏi doanh
nghiệp phải quản lý một cách chặt chẽ hơn các loại tài sản khác vì nó rất dễ bị
tham ô, lợi dụng, mất mát.
Nhu cầu dự trữ tiền mặt trong các doanh nghiệp thông thường là để thực
hiện nhiệm vụ thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Ngoài ra nó còn dùng để đáp
ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như mua sắm hàng hoá, vật liệu, thanh toán
các khoản chi phí cần thiết. Ngoài ra còn xuất phát từ nhu cầu dự phòng để ứng
hình đơn giản và thực tế.
Theo mô hình này, doanh nghiệp sẽ xác định mức giới hạn trên và giới
hạn dới của tiền mặt, đó là thời
điểm doanh nghiệp bắt đầu tiến hành mua hoặc
bán chứng khoán có tính thanh khoản cao để cân đối mức tiền mặt dự kiến.
Giới hạn trên
Mức tiền mặt theo thiết kế
Giới hạn dưới
Nhìn vào đồ thị ta thấy rằng mức giao động tiền mặt lên xuống không thể
dự đoán được. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có các nhu cầu
tiền mặt khác nhau, có khi lên đến gi
ới hạn trên và cũng có khi nhu cầu tụt
xuống giới hạn dới. Chính vì những biến động không thể lường trớc đợc nh thế
nên các doanh nghiệp đều băn khoăn không biết dự trữ tiền mặt theo mức nào là
hợp lý. Mô hình Miller và Orr chỉ ra rằng khoảng giao động của mức cân đối
phụ thuộc vào ba yếu tố. Nếu mức giao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày
lớn hoặc chi phí cố định c
ủa việc mua bán chứng khoán ngày càng cao thì doanh
nghiệp nên quy định khoản dao động tiền mặt lớn. Ngược lại, nếu như lãi suất
cao, thì doanh nghiệp nên thu hẹp khoảng dao động tiền mặt. Khoảng giao động
tiền mặt được xác định theo công thức sau:
3
Chi phí giao dịch mua bán CKxPhơng sai của thu chi ngân quỹ
Khoảng giao
động TM
= 3x
(
4
x
Lãi suet
sản xuất kinh doanh khác và làm tăng chi phí cơ hội của số vốn này.
Để tối thiểu hoá chi phí tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thì
doanh nghiệp phải xác định được số lượng vật tư, hàng hoá tố
i ưu mỗi lần đặt
mua sao cho vẫn đáp ứng được nhu cầu sản xuất. Ngoài ra doanh nghiệp cũng
cần phải có những biện pháp quản lý hữu hiệu để bảo đảm nguyên vật liệu trong
kho không bị hư hỏng, biến chất, mất mát.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định mức dự trữ tối ưu, công
thức chung để tính quy mô dự trữ tối ưu cho doanh nghiệ
p là:
1
2
*
2
C
xDxC
Q =
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
19
Trong đó :
*
Q : Mức dự trữ tối ưu.
D: Toàn bộ lượng hàng hoá cần sử dụng.
1
C
: Chi phí lưu kho hàng hoá (Bốc xếp, bảo hiểm, bảo quản…)
2
C
: Chi phí cho một lần đặt hàng.
1.2.4.3. Quản lý các khoản phải thu
Trong nền kinh tế thị trường việc mua chịu, bán chịu là điều khó tránh
khỏi. Doanh nghiệp có thể sử dụng các khoản phải trả cha đến kỳ hạn thanh toán
như một nguồn vốn bổ xung để tài trợ cho các nhu cầu tài sản lưu động ngắn hạn
và đương nhiên doanh nghiệp cũng bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn.
Việc bán chịu sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng tiêu thụ được s
ản phẩm đồng thời
góp phần xây dựng môí quan hệ làm ăn tốt đẹp với khách hàng. Tuy nhiên nếu
tỷ trọng các khoản phải thu quá lớn trong tổng số tài sản lưu động thì nó sẽ gây
ra những khó khăn cho doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản lưu
động trong doanh nghiệp.
Quản trị các khoản phải thu tốt, tức là hạn chế mức tối thiểu lượng tài sản
l
ưu động bị chiếm dụng sẽ làm giảm số ngày của chu kỳ thu tiền bình quân, thúc
đẩy vòng tuần hoàn của tài sản lưu động. Đồng thời sẽ làm giảm các chi phí
quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro
Trong chính sách tín dụng thương mại doanh nghiệp cần đánh giá kỹ ảnh
hưởng của chính sách bán chịu đối với lợi nhuận của doanh nghiệp. Đồng thời
để hạn chế m
ức thấp nhất mức độ rủi ro có thể gặp trong việc bán chịu doanh
nghiệp có thể xem xét trên các khía cạnh mức độ uy tín của khách hàng, khả
năng trả nợ của khách hàng Gọi chung là phân tích tín dụng khách hàng.
Trớc khi doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng thì công việc đầu tiên
phải làm là phân tích tín dụng khách hàng. Khi phân tích tín dụng khách hàng
người ta thường đề ra các tiêu chuẩn, nếu khách hàng đáp ứng được các tiêu
chuẩn đó thì có thể được mua chịu. Các tiêu chuẩn người ta có thể
sử dụng để
phân tích tín dụng khách hàng là:
* Uy tín, phẩm chất của khách hàng: Nói lên uy tín của khách hàng qua
các lần trả nợ trước, tinh thần trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ đối
- Có biện pháp phòng ngừa rủi ro không
được thanh toán (lựa chọn khách
hàng, giới hạn giá trị tín dụng, yêu cầu đặt cọc )
- Tiến hành xác định và trích lập dự phòng phải thu khó đòi vào chi phí
sản xuất kinh doanh. Quỹ này có thể được sử dụng trong trường hợp có khoản
phải thu của doanh nghiệp nhưng không thể thu hồi đợc thì doanh nghiệp sẽ
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
22
trích từ quỹ ra để bù vào với mục đích bảo toàn vốn kinh doanh cho doanh
nghiệp.
- Có sự ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng bán hàng, nếu vượt quá thời
hạn thanh toán theo hợp đồng sẽ bị phạt hoặc được thu lãi suất như lãi suất quá
hạn của ngân hàng. Hiện nay ở nước ta còn cha có luật rõ ràng về vấn đề này.
Tuy nhiên đối với các nước phát triển thì họ đã có luật để bảo v
ệ quyền lợi cho
doanh nghiệp trong trường hợp không đòi được nợ. Các doanh nghiệp Việt Nam
cũng cần quan tâm đến vấn đề này để khi có luật có thể áp dụng được ngay hoặc
trong trường hợp làm ăn với các đối tác nước ngoài có thể áp dụng.
- Phân loại các khoản nợ quá hạn, tìm nguyên nhân của từng khoản nợ để
có biện pháp xử lý thích hợp nh gia hạn nợ, thoả ước xử lý nợ, xoá m
ột phần nợ
cho khách hàng, hoặc yêu cầu toà án giải quyết.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
TSLĐ của doanh nghiệp luôn vận động chuyển hoá không ngừng và tồn
tại dưới nhiều hình thái khác nhau. Trong quá trình vận động đó, TSLĐ chịu tác
động bởi nhiều nhân tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh
nghiệp. Có th
ể chia các nhân tố đó ra làm hai nhóm chủ yếu sau:
*
Nhóm các nhân tố khách quan: hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh
ặc thiếu vốn trong sản xuất kinh doanh. Nếu thừa
vốn sẽ gây lãng phí còn nếu thiếu vốn thì lại không đảm cho qúa trình sản xuất.
Điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình hoạt động kinh doanh cũng như
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
+ Việc lựa chọn phương án đầu tư: là một nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất
lớn đế
n hiệu quả sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản
xuất ra những sản phẩm lao vụ dịch vụ chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với thị
hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành hạ thì doanh nghiệp thực hiện được
quá trình tiêu thụ nhanh, tăng vòng quay của tài sản lưu động, nâng cao hiệu quả
sử dụng TSLĐ và ngược lại.
+ Do trình độ
quản lý: trình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ
dẫn đến thất thoát vật tư hàng hoá trong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến sử dụng lãng phí TSLĐ, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
+ Do kinh doanh thua lỗ kéo dài, do lợi dụng sơ hở của các chính sách
gây thất thoát TSLĐ, điều này trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng TSL
Đ.
Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới công tác tổ chức và
sử dụng TSLĐ của doanh nghiệp. Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không
Vũ Quang Hoà - TCDN 42A
24
tốt tới hiệu quả tổ chức và sử dung TSLĐ, các doanh nghiệp cần nghiên cứu
xem xét một cách kỹ lưỡng sự ảnh hưởng của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân
của những mặt tồn tại trong việc tổ chức sử dụng TSLĐ, nhằm đưa ra những
biện pháp hữu hiệu nhất, để hiệu quả của đồng TSLĐ mang lại là cao nhất.