Tài liệu Đề án môn học "Giải pháp để hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển cho công nhân sản xuất tại công ty Lắp Máy và Xây dựng số1 Hà Nội. " - Pdf 95

Luận văn tốt nghiệp
"Ảnh hưởng của hệ thống
phòng thủ tên lửa quốc gia tới
quan hệ của Mỹ và Trung
Quốc"
Khoa hoïc
Söùc khoeû
Luận văn tốt nghiệp
"Ảnh hưởng của hệ thống
phòng thủ tên lửa quốc gia tới
quan hệ của Mỹ và Trung
Quốc"
Khoa hoïc
Söùc khoeû
Luận văn tốt nghiệp
"Ảnh hưởng của hệ thống
phòng thủ tên lửa quốc gia tới
quan hệ của Mỹ và Trung
Quốc"
Khoa hoïc
Söùc khoeû
Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước đang phát triển, đang trong thời kỳ thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó, đặt ra rất nhiều thách thức cho nền
kinh tế trong hiện tại cũng như trong tương lai. Một trong những yếu tố quan
trọng, then chốt của nền kinh tế đó là trình độ quản lý của cán bộ quản lý và
trình độ tay nghề của công nhân sản xuất. Đây là yếu tố quyết định của nền
kinh tế một quốc gia vì chúng ta đang trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước, với những máy móc thiết bị tương đối hiện đại đòi hỏi
người sử dụng phải có trình độ cao mới đáp ứng được.Vậy để đáp ứng yêu

với mọi tổ chức. Một công ty mới được thành lập thì vấn đề đào tạo và phát
triển là vô cùng cấp bách và quan trọng bởi công việc mới mẻ với những máy
móc, thiết bị tinh vi nếu không được đào tạo con người sẽ không thể ứng dụng
được. Ngược lại, với những công ty lâu đời, vấn đề đào tạo lại là bồi dưỡng
thêm kinh nghiệm, kiến thức còn thiếu trong thực hiện công việc.
Nhưng để hiểu được vấn đề đào tạo và phát triển, chúng ta trước hết
cần phải làm rõ các khái niệm cơ bản.
I. Các khái niệm cơ bản
Các khái niệm về đào tạo và phát triển có rất nhiều, chúng ta xem xét
một số quan điểm này.
1. Quan điểm quản trị tài nguyên nhân sự – Nguyễn Hữu Thân.
Theo quan điểm này, danh từ đào tạo nói lên các hoạt động nhằm mục đích
nâng cao tay nghề hay kỹ năng của một cá nhân đối với công việc hiện hành
hoặc liên hệ.
Giáo dục nói lên các hoạt động nhằm cải tiến nâng cao sự thành thực khéo
léo của một cá nhân một cách toàn diện theo một hướng nhất định nào đó
vượt ra ngoài công việc hiện hành.
Phát triển bao gồm các hoạt động nhằm chuẩn bị cho công nhân theo kịp
với cơ cấu tổ chức khi nó thay đổi va phát triển.
2. Quan điểm của giáo trình quản trị nhân lực
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
Theo quan điểm này thì điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng
vững và thắng lợi là phải đào tạo và phát triển vì nó là các hoạt động để duy
trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Qua đó thấy được tầm quan trọng
của công tác đào tạo và phát triển trong tổ chức.
Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động
có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng,nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá
trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là
những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để

nhan chóng.Vậy tác dụng của đào tạo là giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh
tranh cho mình.
Khi người lao động đã đủ trình độ để thực hiện công việc của mình, nó sẽ
làm cho năng suất lao động tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Người lao
động ý thức được hành vi lao động của mình ,điều đó sẽ giúp cho doanh
nghiệp giảm bớt được số lượng cán bộ giám trong bộ phận giám sát - điều mà
mọi tổ chức luôn mong đợi vì nó làm giảm chi phí cho tổ chức.
Còn đối với người lao động, sau khi được đào tạo họ sẽ làm việc tự tin hơn
với tay nghề của mình.Trình độ tay nghề của họ được cải tạo và nâng cấp để
đáp ứng nhu cầu của công việc.
Việc đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động tạo ra tính
chuyên nghiệp cho họ.Nói tóm lại là người lao động được trang bị thêm kiến
thức tạo ra sự thích ứng với công việc hiện tại cũng như trong tương lai. Đào
tạo và phát triển lao động không chỉ có tác dụng đối với doanh nghiệp và lao
động mà nó còn có tác dụng to lớn đối với nền kinh tế. Một nền kinh tế phát
triển là nền kinh tế có ngành công nghiệp phát triển. Vì nó sẽ tạo ra nhiều của
cải, vật chất cho xã hội, làm giàu cho xã hội. Và điều quan trọng hơn cả là nó
nâng cao trình độ tay nghề cho đội ngũ lao động của cả nước, làm cho nền
kinh tế không bị tụt hậu mà theo kịp với thời đại.
2. Ý nghĩa
Với những tác dụng như trên thì đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là có
ý nghĩa vô cùng to lớn. Đối với một tổ chức thì quan hệ giữa tổ chức và người
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
lao động sẽ được cải thiện, gắn kết với nhau hơn, nâng cao tính ổn định và
năng động của tổ chức; tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Và nó còn
có ý nghĩa vô cùng lớn đối với doanh nghiệp đó là có thể đạt được mục tiêu
tối đa hoá lợi nhuận của mình.
Đối với người lao động, được đi đào tạo họ cảm thấy mình có vai trò quan
trọng trong tổ chức, từ đó tạo ra một sự gắn bó giữa họ và tổ chức. Điều quan

đầy đủ, có hệ thống. Và trong khi làm việc cùng với công nhân lành nghề thì
học viên có thể bắt chước những hành vi lao động xấu. Hơn nữa, do thực hành
ngay tại nơi làm việc có thể sẽ gây hỏng hóc máy móc, dẫn đến đính trệ công
việc.
a. Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn
Đây chính là phương pháp đào tạo tại chỗ hay chính tại nơi làm việc.
Công nhân học nghề sẽ được phân công làm việc với một công nhân lành
nghề, có trình độ, có kinh nghiệm hơn. Người dạy trước tiên sẽ giới thiệu, giải
thích về mục tiêu của công việc. Sau đó hướng dẫn tỉ mỉ cho học viên quan
sát, trao đổi, học hỏi và cho học viên làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự
giám sát chặt chẽ của người dạy. Người học vừa phải học vừa phải quan sát,
lắng nghe những lời chỉ dẫn và làm theo cho đến khi thuần thục mới
thôi.Trong quá trình học, người học cũng như người dạy đều phải có sự nỗ
lực cao, người dạy phải có tay nghề vững chắc, tạo sự tin tưởng về tay nghề
của mình đối với học viên, ngoài ra còn phải biết lắng nghe những thắc mắc
của người học.Như vậy, phải có sự kết hợp của cả người dạy và người học
mới đào tạo ra được học viên có trình độ như mong muốn.
Phương pháp này có ưu điểm là không đòi hỏi phải có một không gian
riêng, cũng như máy móc, thiết bị đặc thù để phục vụ cho việc học. Đồng thời
giúp cho viên nắm bắt nhanh kiến thức vì được thực hành ngay sau khi hướng
dẫn.
Tuy nhiên, nhược điểm là can thiệp vào tiến trình sản xuất, có thể làm
hư hại máy móc, thiết bị do chưa quen việc, chưa quen sử dụng máy móc,
thiết bị vừa học.
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
b. Đào tạo theo kiểu học nghề
Đây thực chất là phương pháp kèm cặp của công nhân lành nghề đối
với người học. Phương pháp này rất phổ biến ở Việt Nam, nó thường được áp
dụng cho những công việc thủ công, cần sự khéo léo, tỉ mỉ như thợ nề, thợ

việc do thời gian thực hiện một thao tác, động tác quá ngắn làm cho người lao
động cảm thấy nhàm chán vì vậy chuyển họ sang làm một công việc khác
cùng phân xưởng hoặc khác.
Tuy nhiên, phương pháp này chủ yếu dành cho lao động quản lý nhằm
cung cấp cho họ những kinh nghiệm làm việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau
trong tổ chức.Mục đích của quá trình đào tạo này là giúp người học có khả
năng thực hiện được những công việc cao hơn trong tương lai.
Phương pháp này giúp người học học được nhiều công việc, được làm
thật nhiều công việc và tránh được sự nhàm chán. Tuy nhiên, chỉ là luân
chuyển và thuyên chuyển nên thời gian làm một công việc hay một vị trí là
ngắn dẫn đến không hiểu biết đầy đủ về một công việc.
1.2.Đào tạo ngoài công việc.
a. Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp.
Đây là phương pháp thay vì đào tạo tại nơi làm việc bằng cách mở một
lớp học riêng cũng với những máy móc, thiết bị, quy trình làm việc ấy nhưng
chỉ phục vụ cho học tập. Phương pháp này áp dụng đối với những nghề tương
đối phức tạp hoặc các công việc có tính đặc thù mà phương pháp kèm cặp tại
chỗ không đáp ứng được.
Phương pháp này có chương trình học chia làm hai phần: lý thuyết và
thực hành. Phần lý thuyết do các kỹ sư , cán bộ kỹ thuật phụ trách còn phần
thực hành thì đến xưởng riêng dưới sự hướng dẫn của kỹ sư hoặc công nhân
lành nghề.
Ưu điểm của phương pháp: Học viên được trang bị kiến thức một cách
có hệ thống cả lý thuyết lẫn thực hành. Do có xưởng thực hành riêng nên quá
trình thực hành của học viên không ảnh hưởng đến công việc sản xuất.Tuy
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
nhiên, phương pháp này đòi hỏi không gian riêng cho học tập dẫn đến chi phí
tốn kém cộng thêm việc mua sắm thiết bị riêng cho học tập.
b. Cử đi học ở các trường chính quy.

không cần người dạy. Học viên có thể tự sắp xếp thời gian học cho mình một
cách hợp lý, nội dung chương trình học đa dạng nên có nhiều cơ hội lựa chọn
và đặc biệt là cung cấp tức thời thông tin phản hồi đối với câu trả lời của
người học là đúng hay sai, có đáp án ngay giúp người học giải quyết vướng
mắc.
e. Đào tạo theo phương thức từ xa.
Đào tạo từ xa là phương thức đào tạo mà người học tự học qua sách, tài
liệu hoc tập, băng hình băng đĩa CD và VCD, internet. Khoa học công nghệ
thông tin càng phát triển thì các phương tiện trung gian càng đa dạng. Trong
chương trình này người học và người dạy không gặp nhau tại một địa điểm,
cùng thời gian mà người học tự sắp xếp thời gian học cho mình. Đây chính là
một ưu điểm của phương pháp đó là người học có thể chủ động bố trí thời
gian học tập cho phù hợp với kế hoạch của mình; người học ở xa trung tâm
vẫn có thể học được mà không mất chi phí đi lại; chất lượng đào tạo cao tuy
nhiên hình thức đào tạo này đòi hỏi cơ sở đào tạo phải có sự đầu tư lớn để
chuẩn bị bài giảng.
f. Đào tạo theo kiểu phòng thí nghiệm.
Phương pháp này đào tạo cho cán bộ quản lý cách giải quyết các tình
huống có thể xảy ra trong thực tế được mô hình hoá qua các bài tập tình
huống, diễn kịch, mô phỏng trên máy tính, trò chơi quản lý… thông qua các
cuộc hội thảo.Ưu điểm của phương pháp là ngoài học được những kiến thức
về thực hành, học viên còn có cơ hội được đào luyện những kỹ năng thực
hành, nâng cao khả năng làm việc với con người và ra quyết định. Tuy nhiên,
phương pháp này đòi hỏi tốn nhiều công sức, tiền của, thời gian để xây dựng
lên các tình huống mẫu.
g. Mô hình hoá hành vi.
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
Đây là phương pháp diễn các vở kịch được thiết kế sẵn để mô hình hoá
các hành vi hợp lý trong các tình huống đặc biệt.

L

a ch

n đối t
ư

n
g
đào t

o
Xác định chương trình đào tạo
và l

a ch

n
p
hươn
g

p

p
đào
Lựa chọn và đào tạo giáo
Tính toán chi phí đào
Thiết lập quy trình đánh giá


KT
i
: Nhu cầu công nhân viên thuộc nghề i.
T
i
: Tổng hao phí thời gian lao động kỹ thuật thuộc nghề i cần thiết
để sản xuất.
Q
i
: Quỹ thời gian lao động của một công nhân viên kỹ thuật thuộc
nghề i.
H
i
: Khả năng hoàn thành vượt mức ở kỳ vọng của nhân viên kỹ thuật
thuộc nghề i
2. Phương pháp tính toán căn cứ vào số lượng máy móc, thiết bị kỹ
thuật cần thiết cho quá trình sản xuất, mức đảm nhiệm của một
nhân viên kỹ thuật và hệ số ca làm việc của máy móc thiết bị. KT=
Trong đó:
SM : Số lượng máy móc thiết bị kỹ thuật cần thiết ở kỳ triển vọng.
H : Hệ số ca làm việc của máy móc trang thiết bị.
ca
N : Số lượng máy móc trang thiết bị do công nhân viên kỹ thuật phải tính.
Đây là hai phương pháp thường được sử dụng trong các doanh nghiệp
sản xuất. Ngoài ra khi xác định nhu cầu công nhân viên đi đào tạo còn phải
dựa vào các dấu hiệu: Sản phẩm mới doanh nghiệp định sản xuất cần phải có
kỹ năng gì mới, xem xét thị trường có được mở rộng? Lợi nhuận có giảm?

 Số luợng và cơ cấu học viên.
 Thời gian đào tạo.
c, Lựa chọn đối tượng đào tạo.
Để đào tạo được một người lao động là rất tốn kém, vì vậy, trước khi
thực hiện chương trình đào tạo phải xác định, lựa chọn đối tượng được cho đi
đào tạo. Trước hết, người đó phải nằm trong số nhu cầu cần đào tạo, sau đó
xem xét động cơ học tập của họ có muốn được tham gia khoá đào tạo hay
không? Tuy nhiên, cũng phải xem xét đến khả năng học tập của từng người
lao động, có thể do trình độ thấp hoặc tuổi cao nên không có khả năng tiếp thu
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
bài học thì không nên lựa chọn. Và cuối cùng là dự đoán việc thay đổi hành vi
nghề nghiệp của người lao động tới đâu. Nếu thấy có khả quan thì lựa chọn.
d, Xây dựng chương trình và lựa chọn phương pháp đào tạo.
Sau khi xác định được đối tượng đào tạo, mục tiêu đào tạo, đi xây dựng
chương trình đào tạo phù hợp với đối tượng cần đào tạo cũng như mục tiêu
đào tạo.
Xác định các chương trình đào tạo bao gồm:
 Số lượng các bài học và môn học cần phải học.
 Thời lượng của từng môn học, bài học.
 Thứ tự của từng môn học.
Sau đó xác định xem, phương pháp đào tạo nào là phù hợp với yêu cầu
dặt ra cũng như phù hợp về mặt kinh phí của tổ chức.
đ, Dự tính chi phí đào tạo
Đây là một trong những vấn đề then chốt trong việc ra quyết định đào tạo.
Những doanh nghiệp có kinh phí giành cho đào tạo người lao động hạn
hẹp thì chọn phương pháp đào tạo ít tốn kém nhưng vẫn hiệu quả. Vì để thực
hiện được một khoá đào tạo cần phải dự tính rất nhiều chi phí.
- Chi phí cho người dạy.
- Chi phí cho người học.

 Đánh giá xem mặt mạnh, mặt yếu của quá trình đào tạo.
Để từ đó rút ra bài học làm cơ sở cho đợt đào tạo sau.
 Đánh giá hiệu quả kinh tế của chương trình đào tạo và
phát triển: so sánh lợi ích đạt được với chi phí bỏ ra.
Để thực hiện việc đánh giá, thường lấy thông tin từ kết quả học tập, từ
thăm dò ý kiến của người học và người dạy; Sau đó, so sánh kết quả thực hiện
của người đi học trước và sau quá trình đào tạo bằng cách thăm dò ý kiến của
người quản lý trực tiếp bộ phận có người được đi đào tạo.
Trong thực tế, các bược được thực hiện song song với nhau, hỗ trợ và
điều chỉnh lẫn nhau. Đây là vai trò quan trọng của phòng quản lý nhân lực,
cùng với sự ủng hộ của các phòng ban khác.
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
IV. Sự cần thiết phải nghiên cứu vấn đề đào tạo và phát triển cho công nhân
sản xuất.

1. Cơ sở hình thành nhu cầu đào tạo và phát triển.
Bất kể một tổ chức nào trước khi đi vào hoạt động cũng phải có bản
phân tích công việc. Nó là công cụ cơ bản của QTNL, được sử dụng là cơ sở
cho việc thực hiện công việc của nhà quản trị như: công tác tuyển dụng, đào
tạo và phát triển, đánh giá thực hiện công việc, thù lao lao động. Nó giúp cho
người lao động hiểu rõ hơn công việc của mình: họ phải làm như thế nào, tại
sao lai phải làm như vậy, từ đó họ thực hiên công việc tốt hơn. Chính đây là
yếu tố tạo động lực rất tốt cho người lao động.
Khi tổ chức tuyển người lao động mới thì họ chưa thể có đủ trình độ
như yêu cầu của công việc đòi hỏi. Vì vậy, cần phải đào tạo họ theo đúng yêu
cầu của bản phân tích công việc.
Đối với những lao động cũ được đánh giá là có trình độ thấp, chưa đáp
ứng được yêu cầu của công việc thì cũng phải đưa đi đào tạo để nâng cao
trình độ.

khắc sẽ bị đào thải. Sức mạnh của cạnh tranh là vô địch, những sản phẩm mới
liên tục được tạo ra với những tính năng ngày cành hiện đại đã tạo ra một sự
cạnh tranh, một môi trường cạnh tranh rất mạnh mẽ. Cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong nước với nhau và cạnh tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài.
Đứng trước sức ép cạnht ranh như vậy, doanh nghiệp không thể ngồi
nhìn thế giới đổi thay mà họ buộc phải tìm cách chạy đua cùng sự thay đổi đó.
Và để tăng tốc độ cho mình thì doanh nghiệp phải đào tạo lại đội ngũ lao
động lạc hậu của mình thành một đội ngũ lao động tiên tiến thích ứng với
những công nghệ hiện đại để đáp ứng với tốc độ cạnh tranh trên thị trường.
Doanh nghiệp nào chiếm được vị thế cạnh tranh cao trên thị trường thì lợi
nhuận càng cao. Và vậy, để đạt được lợi nhuận cao doanh nghiệp cần nâng
cao năng suất lao động, giảm chi phí Máy móc công nghệ hiện đại đòi hỏi
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
người sử dụng được phải có trìnhđộ cao và nó cũng làm giảm thiểu được
lượng lao động, do đó giảm được chi phí, tăng lợi nhuận.
Chúng ta đều biết, mục tiêu của cac doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận, mà yếu tố quyết đinh đến lợi nhuân là tăng năng suất lao động. Để
tăng năng suất lao động thì có nhiều yếu tố trong đó có đổi mới công nghệ
nhưng khi đỏi mới công nghệ thì doanh nghiệp phải đào tạo lại, đào tạo nâng
cao trình độ tay nghề cho người sử dụng lao động để ứng dụng công nghệ mới
đó một cách có hiệu quả.
Một trong những yếu tố làm tăng năng suất lao động đó là động lực của
người lao động. Vì động lực lao động của người lao động được tạo ra xuất
phát từ hai nhu cầu: vật chất và tinh thần. Khi nhu cầu về vật chất không còn
quan trọng nữa họ sẽ có nhu cầu về mặt tinh thần. Họ muốn khẳng định mình,
muốn tổ chức thấy tầm quan trọng của họ trong tổ chức. Do đó, họ có nhu cầu
được đưa đi đào tạo để nâng cao trình độ. Tổ chức muốn đạt được mục tiêu
của mình thì phải nắm bắt được nhu cầu của người lao động để tạo động lực

có giấy phép đăng ký kinh doanh số 109587 do Uỷ ban Kế hoạch thành phố
Hà Nội cấp.
Qua 46 năm xây dựng và truởng thành, công ty đã có một đội ngũ cán
bộ kỹ sư công nhân lành nghề có trình độ khoa hoạ kỹ thuật cao, tay nghề
giỏi, được trang bị nhiều phương tiện dụng cụ thi công chuyên nghành tiên
tiến, hiện đại.
Với truyền thống lâu đời trong lắp máy và xây dựng, công ty đã và đang
không ngừng lớn mạnh, xây dựngvà lắp đặt cho đất nước nhiều công trình
hiện đại có quy mô lớn và phức tạp, đáp ứng ngày càng tốt hơn sự đòi hỏi của
đất nước, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà Đảng và Nhà nước
đã đề ra. Công ty đã thi hành và đưa vào sử dụng hàng trăm công trình với
chất lượng cao trên mọi lĩnh vực từ công trình kinh tế, văn hoá đến các công
trình quốc phòng.
2. Đặc điểm về tổ chức bộ máy quản lý của công ty.
Công ty lắp máy và xây dựng số 1 Hà Nội có tổ chức bộ máy quản lý
theo mô hình trực tuyến, đứng đầu là Giám đốc chỉ đạo trực tiếp đến từng đơn
vị thành viên, giúp việc cho Giám đốc là các phó giám đốc bao gồm PGĐ nội
chính và thường trực, phòng tổ chức, phòng hành chính, phòng cung ứng vật
tư, phòng kinh tế kỹ thuật và phòng kế hoạch và đầu tư.
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
Bộ phận trực tuyến của công ty bao gồm các xí nghiệp trực thuộc
xưởng cơ khí chế tạo thiết bị và đội cơ giới. Các xí nghiệp trực thuộc có 5 xí
nghiệp trong đó gồm có 2 xí nghiệp lắp máy, 1 xí nghiệp hàn và xây dựng.
Các xí nghiệp và xưởng sản xuất có các đội công trình, thi côngcác công trình
dưới sự chỉ huy của đội trưởng. Hoạt động quản lý sản xuất thi công đều do
đội trưởng trực tiếp điều hành, có sự trợ giúp của các phòng ban chức năng
của công ty.
Bộ máy tổ chức quản lý của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:


chức năng quản lý và mục tiêu chung. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của
công ty theo dạng trực tuyến chức năng. Do đó, mức độ chuyên môn hoá của
từng bộ phận cao, đòi hỏi trình độ của người lao động phải chuyên sâu. Việc
đào tạo nguồn nhân lực do đó cũng phải đào tạo chuyên sâu cho từng bộ
phận: bộ phận quản lý và bộ phận sản xuất, nhất là bộ phận sản xuất. Vì vậy,
chi phí cho việc đào tạo sẽ lớn do phải mất nhiều thời gian đào tạo và mức độ
phức tạp của công việc.
3. Đặc điểm sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ và máy móc thiết bị
của công ty.
a, Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngoài những đặc điểm của
các doanh nghiệp sản xuất nói chung còn mang những đặc diểm riêng xuất
phát từ những đặc điểm của sản phẩm xây lắp và đặc điểm tổ sản xuất xây lắp
với công việc chủ yếu là lắp máy, tái tạo ta tái sản cố đinh. Do đó, hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty còn mang một số đặc điểm sau:
+ Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trức có quy
mô lớn, giá trị cao, kết cấu phức tạp, yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật cao, giá trị
cao, đơn chiếc, có tính cố định thời gian thi công dài chủ yếu ở ngoài trời và
thởi gian sử dụng sản phẩm xây lắp lâu dài.
+ Sản phẩm xây lắp được sản xuất theo đơn đặt hàng, có tính đơn chiếc,
ít và được tiêu thụ theo giá dự toán hay thoả thuận nên tính chất hàng hoá của
sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ.
+ Quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp rất phức tạp, không ổn định, việc
hoàn thành kế hoạch sản xuất chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau
Đặng Thị Hải – QTNL 43B
Đề án môn học
như: tư tưởng tổ chức chỉ đạo thi công, lực lượng sản xuất của doanh nghiệp,
điều kiện thời tiết.
b, Đặc điểm quy trình công nghệ của công ty.
Hiện nay, công ty có các quy trình công nghệ cụ thể như:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status