TRƯỜNG ………………….
KHOA……………….
[\[\
ĐỀ ÁN
Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái
và chính sách tỷ giá hối đoái ở
Việt Nam
A - LỜI MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến
các phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực,
có hiệu quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi
nước, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc
gia. Đã bao thời nay, loài người
đã và đang tiếp tục đứng trước một vấn đề
có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một
nhận thức đúng đắn để từ đó xác định và đưa vào vận hành trong thực tế
một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến nó trở thành một công cụ tích cực
trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nước.
Tỷ giá h
ối đoái, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại "giá của
giá" , bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính
trừu tượng vốn có của bản thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì
đó để ngắm mà trái lại, là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày,
Hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm quốc gia liên kết (như liên minh
Châu Âu) đều có đồng tiền riêng của mình. Việt nam có tiền đồng (VNĐ)
Trung quốc có Nhân dân tệ (CNY), Mỹ có Dollar (USD).
Mối liên hệ kinh tế giữa các nước, các nhóm nước với nhau mà trước
hết là quan hệ mua bán trao đổi đầu tư dẫn đến việc cần có sự trao đổi đồng
tiền của các nước khác nhau với nhau, đông tiền này đổi lấy đông ftiền kia,
từ đố ta có thể nói rằng: tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của
một nước tính bằn tiền tệ của một nước khác. Thông thường, thuật ngữ "Tỷ
giá hối đoái" được ngầm hiểu là số lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để
mua một đơn vị ngoại tệ, tuy nhiên ở Mỹ và Anh được sử dụng theo nghĩa
ngược lại: số lượng đơn vị ngoại tệ cần thiết để mua một đồng USD hoặc
đồng bảng Anh; ví dụ: ở Mỹ 0,8 xu/USD.
Các nhà kinh tế thường đề c
ập đến hai loại tỷ gia hối đoái:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (e
n
): đây là tỷ giá hôí đoái được biết
đến nhiều nhất do ngân hàng nhà nước công bố trên các phương tiện thông
tin đại chúng hàng ngày.
- Tỷ giá hối đoái thực tế (e
r
) được xác định e
r
= e
n
* P
n
/P
f
hoặc làm giảm cung của nó đều có xu hướng làm cho tỷ giá hối đoái tăng
lên. Bất kỳ cái gì làm giảm c
ầu về một đồng tiền hoặc làm tăng cung đồng
tiền ấy trên các thị trường ngoại hối sẽ hướng tới làm cho giá trị trao đổi
của nó giảm xuống ở hình vẽ dưới, ta thấy được tỷ gía hối đoái cân bằng L
o
của đồng Việt Nam và đồng USD Mỹ thông qua giao điểm S và D. L USD
Đ
S Lo
D
Qo Q(đ)
2. Phân loại tỷ giá hối đoái
Trong thực tế tuỳ từng nơi từng lúc khi quan tâm đến một khía cạnh
nào đó của tỷ gía hối đoái người ta thường gọi đến tên đến loại tỷ giá đó.
Do vậy cần thiết phải phân loại tỷ giá h
ối đoái.
Dựa vào những căn cứ khác nhau người ta chia ra nhiều loại tỷ giá
khác nhau:
ngoại hối bằng tiền mặt.
d- Că
n cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối:
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mau bán
ngoại hối của chuyến giao dịch đầu tiên trong ngày.
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua
bán ngoại hối của chuyến giao dịch cuối cùng trong ngày.
- Tỷ giá giao nhận ngay: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc giao
nhận ngoại hối sẽ được thực hiện ch
ậm nhất trong 2 ngày làm việc.
- Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc
giao nhận ngoại hối sẽ được thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong
hợp đồng(có thể là 1,2,3 tháng sau).
5
e- căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá
chia ra làm hai loại:
- Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
- Tỷg ía bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
II- Những nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái:
1- Cán cân thương mại: trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập
khẩu của một nước tăng thì đường cung về tiền của nước ấy s
ẽ dịch chuyển
về phía bên phải, tỷ giá hối đoái giảm xuống; nếu xuất khẩu tăng thì đường
cầu về tiền của nước ấy sẽ dịch chuyển sang trái tỷ giá hối đoái tăng lên.
2- Tỷ giá lạm phát tương đối: nếu tỷ lệ lạm phát của một nước cao
hơn tỷ lệ lạm phát của một nước khác thì nước đó sẽ
cần nhiêù tiền hơn để
mua một lượng tiền nhất định của nước kia. Điều này làm cho cung tiền
tương đối dài. ở thời điểm công bố mức tỷ giá thấp hơn nhiều so với mức
giá trên thị trường và tình hình sức mua của
đồng tiền tính chung thời kỳ
1985-1988, 1rúp mua trên dưới 1.500VND hàng xuất khẩu, 1USD trên
dưới 3.000VND, trong khi đó tỷ giá kết toán nội bộ thanh toán trong quan
hệ xuất nhập khẩu giữu mức 150VND/Rúp và 225VND/USD. Nhìn chung
1Rúp hàng xuất khẩu phải bù lỗ 1.350VND và 1USD phải bù 2.775VND.
Kim ngạch xuất khẩu của năm 1987là 650 triệu R-USD trong đó khu vực
đồng Rúp 500 triệu và khu vực đồng USD 150 triệu, Ngân sách nhà nước
đã phải bù lỗ 900 tỷ. Đối với các ngành, các địa phương càng giao nhiều
hàng xuấ
t khẩu để thực hiện nghĩa vụ với bạn, thì ngân sách nhà nước càng
phải bù lỗ nhiều. Ngân sách nàh nước không bù lỗ đủ hoặc chậm trễ trong
việc thanh toán thì công nợ giữa các doanh nghiệp và các ngành càng tăng
và càng thiếu vốn để tiếp tục kinh doanh. Đối với hàng nhập, thì khi vật tư
nguyên liệu thiết bị về nước nhà nước đứng ra phân phối cho các ngành
trong nền kinh tế quốc dân với mức giá thấp (phù hợ
p với mức tỷ giá 150
VNĐ/Rúp và 225VND/USD nêu trên). Như vậy, các ngành, các địa
phương được phân phối các loại vật tư,nguyên liệu đó thì được hưởng phần
giá thấp còn ngân sách nhà nước lại không thu được chênh lệch giá. Việc
thực hiện cơ chế tỷ giá kết toán nội bộ trong thanh toán xuất - nhập khẩu và
bù lỗ hàng xuất khẩu đó là:
- Nếu thực hiện nghiêm trọng nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu cho b
ạn
để có thể đưa hàng nhập về đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, thì
mức lỗ của ngân sách cho hàng xuất khẩu lớn gây trở ngại cho việc điều
hành ngân sách - Nếu trì hoãn cho việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng xuất
khẩu nhưng trong khi đó vẫn yêu cầu bạn giao hàng nhập cho ta theo tiến
độ, thì việc bù lỗ hàng xuất khẩu được giảm ở mức độ nh
khẩu và đẩy mạnh hàng xu
ất khẩu, hệ quả là cán cân thương mại bị nhập
siêu nghiêm trọng, ngân sách Nhà nước phải gánh chịu thêm các thua thiệt.
Khi buộc phải thả nổi và phá giá mạnh đã làm cho chi phí của các
doanh nghiệp tăng lên đáng kể và lợi nhuận bị giảm, do đó mức thu từ thuế
lợi tức của các tổ chức kinh tế cho ngân sách Nhà nước cũng bị ảnh hưởng.
Mặt khác, các khoản chi tiêu cho các cơ quan và tổ chức
được Nhà nước
cấp cũng được tăng lên tương ứng với mức mất giá của đồng nội tệ. Tình
hình đó đã tác động đến yếu tố làm tăng bội chi ngân.
Từ năm 1989, cùng với các cải cách kinh tế, tài chính, tiền tệ, Nhà
nước đã bỏ chế độ tỷ giá trước đây (tỷ giá kết toán nội bộ) , giảm căn bản
bù lỗ cho hoạt động xu
ất - nhập khẩu và thực hiện chính sách giá sát với tỷ
giá thị trường. Ngân hàng nhà nước công bố tỷ giá chính thức của VNĐ với
các ngoại tệ mạnh, nhất là với USD trên cơ sở đó các ngân hàng thương
mại xây dựng và công bố tỷ giá hàng ngày với biên độ chênh lệch cho phép
(khoảng 5%) so với tỷ giá chính thức.
Về mặt ngân sách Nhà nước, chính sách một tỷ giá hối đoái sát với
thị trường khiến cho việ
c tính toán thu chi Ngân sách Nhà nước phản ánh
trung thực và chính xác hơn, không bị bóp méo. Tỷ giá đó góp phần làm
cho công tác kế hoạch hoá vay nợ và trả nợ nước ngoài từ ngân sách Nhà
nước thuận lợi hơn và có cơ sở vững chắc hơn.
* Mặc dù có những thành công rất đáng kể trong lĩnh vực tỷ giá và
quản lý ngoại tệ, nhưng vẫn còn một số hạn chế đã làm ảnh hưởng không
tốt đến quản lý,
điều hành ngân sách, đó là
- Nguồn ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ, còn bị buông lỏng đã
khiến cho lực lượng ngoại tệ của Nhà nước tăng chậm và chưa tương xứng
gốc vay tăng từ 44 triệu USD lên 58 triệu USD (chưa tính đến yếu tố lãi
suất tiền vay và tỷ giá giữa đồng Việ
t nam và USD). Do tổng hợp nhiều
yếu tố, rong đó có yếu tố về tỷ giá, nên đại bộ phận trong số 81 doanh
nghiệp vay vốn theo phương thức này đều bị sức ép của cả hai loại tỷ giá.
- Tỷ giá giữa Yên và USD (đại bộ phận doanh số vay của các doanh
nghiệp kể trên là vay đồng Yên cuả các công ty Nhật trong khi đó đồng
Yên tăng giá).
- Tỷ giá giữa đồng Việt nam và USD (trong khi đó đồng Việt nam b
ị
giảm giá).
Sự biến động của tỷ giá cùng các với yếu tố ngoại hối, nhưng nó có ý
nghĩa đặc biệt riêng của nó đối với việc huy động vốn, thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, thu chi ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế và xã
hội. Ngược lại, vực nợ nước ngoài nếu không quản lý tốt và không sử dụng
có hiệu quả sẽ trở thành gánh năngk đố
i với nền kinh tế hiện tại và tương
lai, có khi còn ảnh hưởng đến nền độc lập và chủ quyền quốc gia.
9
Về vay nợ chính phủ phải có quy chế chặt chẽ quy định được vay về
trách nhệm,nghĩa vụ và quyền hạn của các pháp nhân kinh tế và pháp nhân
công quyền trước các khỏan vay và khỏan trả nợ. Hiện nay chúng ta có qui
định Nhà nước vay Nhà nước trả, doanh nghiệp vay doanh nghiệp trả, Nhà
nước không gánh hộ nợ doanh nghiệp.
Thiếu vốn phải vay, nhưng không phải ai cho vay với điều kiện nào
cũng chấp nhậ
n cả. Phải thấy rằng, nếu tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam hạ,
đồng ngoại tệ tăng, thì khoản trả nợ của Ngân sách Nhà nước của doanh
nghiệp sẽ phải tăng , nhưng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ lại có lợi, đó là
viện trợ, tài trợ của chính phủ, các cấp chính quyền, mà cả các khoản nợ
của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện yêu cầu
quản lý vĩ mô của nhà nước trong điều kiện kinh tế mở. Chỉ xét riêng trong
cán cân vay lãi, cán cân thanh toán quốc tế, thì không phải chỉ có nợ chính
10
phủ mới nằm trong đó mà ngay cả nợ của các doanh nghiệp tư nhân các của
nước cũng phải đưa vào. Bởi vì, vốn đưa vào dù ai sử dụng thì vẫn là cho
cả nền kinh tế và khi trả, dù ai trả cũng phải lấy một phần GDP để trả nợ
mà việc đó liên quan đến lợi ích quốc gia, trực tiếp tác dộng đến sự cân
bằng của cán cân thanh toán. là quốc gia có số n
ợ nước ngoài lớn nếu so
với GDP, trong tương lai còn phải vay và đồng thời phải trả nợ đến hạn vì
vậy với việc hình thành chiến lược vay và trả nợ có ý nghĩa chiến lược to
lớn.
1.3 Thực trạng tác động cuả tỷ giá đến lãi suất và trái phiếu chính
phủ.
Tỷ giá ngoại hối có liên quan chặt chẽ đến lãi suất và có tác dụng
điều chỉnh lãi suất. Trong nền kinh t
ế thị trường khi đồng nội tệ mất giá
khối lượng nội tệ cung ứng ngoài thị trường lớn đòi hỏi phải điều chỉnh
tăng lãi suất, trong trường hợp này làm tăng chi ngân sách về thanh toán lãi
suất huy động nội tệ. Khi đồng nội tệ lên giá nhà nước phải điều chỉnh
giảm mức lãi suất, điều này sẽ giảm chi ngân sách về thanh toán lãi suất
huy
động nội tệ, nếu không điều chỉnh mức lãi suất thì những nhà sản xuất
kihn doanh sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng lấy nội tệ gửi vào ngân hàng
hoặc mua trái phiếu chính phủ để hưởng lãi suất cao. Điều này sẽ tác động
xấu đến sản xuất-kinh doanh trong khi đó ngân sách phải tiếp tụcthanh toán
thanh toán quốc tế lâu bền. Bằng cách tă
ng giá các hàng thương mại hoá
được so với các hàng hoá không thương mại hoá được; sự phá giá đồng
thời chuyển dịch cầu tổng thể có lợi cho các cho các hàng hoá không
thương mại hoá được, và cung tổng thể có lợi cho các hàng hoá thương mại
hoá được, và do đó giảm bội dư cầu đối với hàng hoá thương mại hoá
được (tức là cải thiện được vị thế của cán cân vãng lai). Ngoài tác dộng của
chính sách chuyển đổi chi tiêu, phá giá cũng giảm c
ầu tổng thể thông qua
ảnh hưởng của khối lượng tài sản, một sự tăng giá nội địa sẽ làm cho sự
phá giá đồng tiền nội địa tháp hơn giá trị thực của tài sản tài chính và giảm
hấp thụ.
Do vai trò cốt yếu của tỷ giá hối đoái đói với việc duy trì sức cạnh
tranh đối với bên ngoài tỷ giá có thể làm thay đổi vượt ra khỏi điểm cân
b
ằng của nó. Bởi vì điểm cân bằng này được xác địng nội sinh, chính sách
tỷ giá hối đoái cần lưu ý đến các tác động của các cơn sốc khác nhau lên
điểm cân bằng của tỷ giá thực. Phần này đề cập đến các tiếp cận khác nhau
trong việc xác định điểm cân bằng tỷ giá thực và nghiên cứu tác dộng của
các cơn sốc bên trong và bên ngoaig lên điểm cân bằng đó, sau đó sẽ t
ập
trung vào chính sách cụ thể nhằm duy trì sức cạnh tranh trong quá trình
điều chỉnh.
Xác định tỷ giá hối đoái cân bằng:
Nói chung có hai tiếp cận để xác định tỷ giá hối đoái thực "cân
bằng". Tiếp cận đơn giản và phổ biến nhất là dựa vào khái niệm tỷ giá theo
sức mua so sánh. Nguyên lý trung tâm của tỷ giá so sánh sức mua là tỷ thực
cân bằng tỷ lệ với các mức giá tương đối giữa mộ
t nước với đối tác ngoại
thương của mình, tức là đối với sức mua so sánh giữa các đồng tiền các
nước và nước ngoài gây ra (ví dụ: sự tác động cảu chênh l
ệch mức tăng
năng suất, thay đổi điều kiện ngoại thương, cải cách thuế quan, thay đổi
trong điều hành ngân sách chính phủ, sự tăng lên của lãi suất thực quốc tế)
lên cân bằng của tỷ giá thực.
Chênh lệch về mức độ phát triển, tiến bộ trong công nghệ có tác
động quan trọng đến điểm cân bằng của tỷ giá thực, ví dụ: nếu năng suấ
t
lao động tăng nhanh hơn trong khu vực hàng hoá thương mại hoá so với
khu vực hàng hoá không thương mại hoá, thì giá so sánh giữa hàng hoá
không thương mại hoá sẽ tăng do sự tăng đồng nhất của tiền lương trong cả
hai khu vực. Với giá hàng hoá thương mại hoá thị trường quốc tế quy định
thì tỷ giá hối đoái thực cân bằng sẽ giảm. vậy tỷ giá thực cân bằng ở các
nước có tốc độ t
ăng năng suất thấp các nước đang phát triển thường chịu
các cơn sốc về điều kiện ngoại thương. Giả sử điều kiện ngoại thương xấu
đi vì sự giảm giá tương đối của hàng xuất khẩu, sự xấu đi này tạo nên dư
thừa cung đối với hàng hoá không thương mại hoá và dư thừa cầu đối với
hàng hoá thương m
ại hoá, làm cho cán cân vãng lai xấu đi. Mất cân bằng
cán cân vãng lai được điều chỉnh lại qua việc giảm giá tương đối của hàng
hoá không thương mại hoá-tức là tăng tỷ giá thực và dịch chuyển cung nội
địa từ hàng hoá không thương mại hoá sang hàng hoá xuất nhập khẩu.
Phân tích về tác động của cải cách thuế nhập khẩu cho thấy: giảm
thuế nhập khẩu thường là tương đương với tăng tỷ
giá thực cânbằng. về
phương diện định tính thì tác động của tự do hoá nhập khẩu cũng giống
như việc cải thiện điều kiện ngoại thương (do giảm giá xuất khẩu). Thuế
nhập khẩu thấp hơn sẽ giảm giá tương đối của hàng nhập khẩu, tạo nên sự
dư thừa cầu đối với hàng hoá này, và dư thừa cung đối với hàng hoá xu
động của lãi xuất quốc tế cao hơn cũng phụ thuộc vào phản ứng ngân sách
của chính phủ. Nếu chính phủ làm trung hoà tác động của ngân sách lên sự
thay đổi lãi xuất bằng cách giảm chi tiêu hàng hoá thương mại hoá, thì tỷ
giá thực cân bằng sẽ có xu hướng giảm trong dài hạn. mặt khác, tỷ giá thực
cân bằng sẽ tăng nếu việc trả lãi xuất được tài trợ bằng cách tăng thuế, hoặc
nếu kèm theo việc giảm chi tiêu chính phủ đối với hàng hoá không thương
mại hoá.
Tỷ giá hối đoái thực, sức cạnh tranh quốc tế và lạm phát:
Trong khi tỷ giá th
ực có thể chênh lệch ra khỏi điểm cân bằng vì một
số các cơn sốc gây nên thì nguyên nhân chủ yếu của viêvj xấu đi sức cạnh
tranh đối với bên ngoài ở hầu hết các nước đang phát triển là tỷ lệ lạm phát
nội địa cao kèm theo việc duy trì chế độ tỷ giá tỷ giá danh nghĩa cố định.
Các tiếp cận để ngăn ngừa sự xấu đi của sứ
c cạnh tranh quốc tế là thực hiện
quy tắc tỷ giá thực.
Như vậy quy tắc tỷ giá có thể ngăn ngừa được sự xuất hiện mất cân
đối lớn và lâu dài của các giá cả tương đối và do đó tránh được mất cân
bằng ngoại, bằng cách cho tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh thường
14
xuyên và theo liều lượng tương đối nhỏ. Người ta lập luận rằng: tỷ giá hối
đoái thực tế có thể giữ được ở mức đúng đắn, không gây ra cái giá điều
chỉnh phải trả cho nền kinh tế, và do đó che lấp được vấn đề phá giá có thể
nổi lên trên chiến trường chính trị. Hơn thế nữa, người ta còn khẳng định
quy tắc tỷ giá thực cung cấ
p một mức cho dự đoán. bởi vì nó cung cấp cho
những người tham gia thị trường thông tin bổ ích về chiều hướng có thể
xảy ra các giá tương đối và do đó tránh được các quyết định sản xuất dựa
trên các dự đoán mong đợi sai lệch.
sách hỗ trợ tài chính và tỷ giá hối đoái sẽ phụ thu vào nguồn gây nên biến
động. Nếu cơn sốt cung thống trị, thì biến động của tổng sản phẩm sẽ tăng
lên do chỉ số hoá đầy đủ tỷ giá hối đoái. Ngược lại, nếu cơn sốt cầu thóng
trị thì các chính sách hỗ trợ sẽ làm ổn định tổng sản phẩm.
Các nghiên cứu về hệ quả của quy tắc tỷ giá thực voà ổn định giá chỉ
mới bắt đầu gần đây và có ít. Ađam và Gros(1966) nghiên cứu vấn đề bằng
cách sử dụng một số mô hình phân tíc đơn gi
ản với các giả thiết khác nhau
15
liên quan đến cơ cấu hàng hoá, tính cứng nhắc của giá lương, độ tự do lưu
chuyển vốn. Họ kết luận rằng: chính sách tiền tệ có thể mất khả năng kiểm
soát lạm phát nếu đặt tỷ giá danh nghĩa theo quy tắc tỷ giá thực và nếu sau
đó lại tìm cách kiểm soát lạm phát, thì sẽ mất khả năng kiểm soát diễn biễn
kinh tế vĩ mô khác, họ cũng lậ
p luận rằng: nếu tỷ giá hối đoái thực nâng
quá mức so với điểm cân bằng thì lạm phát chắc chắn sẽ cao hơn.
Hoạt động của quy tắc tỷ giá thực và chính sách ngân sách liên quan
chặt chẽ với nhau Lizondc(1989) đưa ra lược đồ mối quan hệ giưã in tiền
do thiếu hụt ngân sách và tốc độ phá giá tỷ giá. Trong đó, giá trị cân bằng
lâu bền của tỷ giá thực là hàm không chỉ biến thự
c nêu trên mà còn của tỷ
lệ lamj phát trong nước. Đại lượng sau quyết định tổng thu được của chính
phủ thông qua thuế lạm phát, đếnlượt nó lại tác động lên giá trị tài sản của
tư nhân và chi tiêu trong dài hạn, và do đó lên điểm cân bằng của tỷ giá
thực. Mỗi một đích tỷ giá thực gây ra một tỷ lệ lạm phát nội địa về dài hạn,
khi các điều kiện khác không thay đổi. Bên cạ
nh đó cần lưu ý không phải
tất cả các đích tỷ giá thực là khả thi và không phải tất cả các quy tắc tỷ giá
đều đưa nền kinh tế đến đích, ngay như nếu đích đó là khả thi.
nghĩa đó thì cần phải chú ý rằng các chính sách như vậy bản thân chúng có
thể chịu tác động bởi chế độ tỷ giá hối đoái mà chính phủ đưa ra.
Để phân tích tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế ta đưa ra
khái niệm khả năng cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh =
ePo/P
trong đó: Po: giá sản phẩm ngoài tính theo gía thi trường nước ngoài.
P: giá sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước tính theo
đồng nội tệ.
e:tỷ giá hối đoái của đồng tiền nước ngoài tính theo đồng
nội địa.
Với P và Po không đổi khi E tăng , EPo sẽ tăng. Giá của sản phẩm
nước ngoài trở nên đắt tương đối so với giá của sản phẩm trong nước và
ngược lại, giá của sản phẩm trong nước trở nên rẻ, tương đối so với sản
phẩm nước ngoài. Sản phẩm trong nước do đó có khả n
ăng cạnh tranh cao
hơn xuất khẩu sẽ tăng ( X tăng ), nhập khẩu giảm đi (IMgiảm), điều này
làm cho xuất khẩu ròng (NX= X_IM) tăng lên. Vì AD=C+I+G+NV nên
NX tăng lên làm cho AD dịch phải, trên hình vẽ ta thấy sản lượng cân bằng
Q tăng lên tỷ lệ thất nghiệp giảm.
AD'
P AS
LR
AS
SR
AD
điều chỉnh kinh tế vĩ mô, nhất là với các nước đang thực hiện chuyển đổi
cơ chế thực sự là vấn đề nan giải.
1. Tỷ giá hối đoái cố định bản v
ị vàng
Theo chế độ bản vị vàng,tỷ giá hối đoái được qui định căn cứ vào
hàm lượng vàng của các đồng tiền. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện
đại, khi thương mại quốc tế tăng lên cùng với hoạt động đầu cơ, chế độ bản
vị vàng này không đáp ứng được nhu cầu phát triển và các nước thôi áp
dụng từ năm 1971.
2. Tỷ giá h
ối đoái kế hoạch bao cấp
Loại tỷ giá hối đoái này được áp dụng tại các nước Xã hội chủ nghĩa
thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp
thường chênh lệch nhiều lần so với tỷ giá hối đoái thị trường, không có vai
trò là công cụ điều tiết vĩ mô đối với xuất nhập khẩu, loạ
i tỷ giá hối đoái
này được áp dụng tại Việt Nam trước năm 1989
3. Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do
Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái được quyết định
hoàn toàn bởi các lực lượng cung cấp cầu về ngoại tệ. Trong hệ thống này
chính phủ giữ thái độ thụ động, để cho thị trường ngoại tệ đ
ánh giá giá trị
của ngoại tệ - loại tỷ giá hối đoái này ít được áp dụng vì các thị trường tiền
18
tệ thường không hoàn hảo và do vậy luôn cần có vai trò can thiệp của nhà
nước
4. Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết
Theo chế độ này, chính phủ không cam kết duy trì một tỷ lệ cố định
với ngoại tệ, mà thả nổi đồng tiền của mình và có biện pháp can thiệp mỗi
n lý " hoặc " cố định linh hoạt" trở thành chế độ tỷ giá phổ biến nhất ở
các nước đang phát triển, loại cơn sốc mà nền kinh tế thường phải đối phó
trở thành vấn đề cốt lõi cần xem xét khi định liệu tỷ giá hối đoái cố định
hay điều chỉnh. Các nghiên cứu trước đây đã nhận dạng một số tiêu chuẩn
quản lý
để phản ứng lại các cơn sốc trong nước. Các cơn sốc nội địa đòi hỏi
áp dụng. Tỷ giá hối đoái cố định hay linh hoạt phụ thuộc vào cơn sốc là
tiền tệ hay thực tế khi cơn sốc là tiền tệ thì quan điểm xưa nay là duy trì tỷ
giá cố định sẽ co hiệu lực hơn trong việc ổn định tổng sản phẩm. Vì cung
tiề
n tệ là biến nội sinh dưới chế độ tỷ giá hối đoái, các đột biến trong thị
19
trường tiền tệ nội địa đơn giản sẽ được hấp thụ bởi thay đổi của dự trữ
ngoại tệ mà không ảnh hưởng đến các điều kiện cung cầu của thị trường
hàng hoá, là nơi quy định mức độ biến động kinh tế. Đổi lại khi cơn sốc là
thực tế thì tỷ giá hối đoái cần phải được đ
iều chỉnh ổn định tổng sản phẩm
bằng cách tạo nên (hoặc giảm) cầu bên ngoài. Nói chung, theo mục tiêu của
chính sách nhằm vào ổn định tổng sản phẩm trước các cơn sốc tạm thời thì
tỷ giá hối đoái cần phải được điều chỉnh khi cơn sốc xuất phát từ bên ngoài
hoặc từ thị trường.
Các yêu cầu khi lựa chọn chế độ tỷ
giá hối đoái: một số tiêu chuẩn
quy định tỷ giá phụ thuộc vào bản chất của cơn sốc lên nền kinh tế cũng
như đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế. Tuy vậy trong thực tế khó mà áp
dụng đó cho các trường hợp cụ thể. Các khó khăn đó không những lên quan
đến các vấn đề thực tiễn, sự nhận biết nguồn gốc các cơn số
c và các đặc
trưng cơ cấu mà còn liên quan đến mâu thuẫn tiềm tàng giữa các mục tiêu
20
+ Trong công tác điều hành hệ thống tỷ giá hối đoái nói chung và thị
trường ngoại hối nói riêng, ngân hàng nhà nước cần có sự phân tích rõ ràng
giữa hai chức năng: chức năng ngân hàng đại diện cho nhà nước với chức
năng can thiệp thị trường. Trong đó chức năng ngân hàng đại diện cho nhà
nước là để thực hện các chức năng giao dịch nhằm thanh toán các khoản
thu chi của nhà nước và giao dịc tăng tích luỹ
ngoại tệ theo mục tiêu. còn
chức năng can thiệp thị trường là nhằm điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị
trường.
+ Ngân hàng nhà nước phải không ngừng chú trọng việc xây dựng và
tăng cường bộ khung của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bằng việc tăng
số lượng thành viên trên thị trường. Từng bước cho các tổ chức tín dụng
không phải là ngân hàng thương mại tham gia đầy
đủ các nghiệp vụ như kỳ
hạn hoán đổi mặc dù có thể giới hạn ở việc các giao dịch này chỉ được thực
hiện voí các ngân hàng thương mại và ngân hàng nhà nước.
+ Ngân hàng nhà nước và cac bộ ngành phải có kế hoạch dự tính
trước các giao dịch của mình một cách cụ thể và không để các thành phần
kinh tế khác bật ra khỏi thị trường chính thức bằng cách các giao dịch của
nhà nước không chỉ được thự
c hiện trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
mà còn phải mở rộng giao dịch trên khu vực tự do của thị trường.
+ Chú trọng hơn đến việc hoàn thiện và phát triển các công cụ của
thị trường ngoại tệ mà trước mắt là các nghiệp vụ đang hiện tồn tại như các
nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn ngoại tệ hoán đổi bằng các biện pháp cụ thể
như: ngân hàng nhà nướ
c, cơ quan có trách nhiệm; tổ chức báo cáo bồi
dưỡng nghiệp vụ ngân hàng, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
phương pháp khác nhau, sau đây là một vài phương pháp phổ biến:
1- Phương pháp lãi suất chiết khấu:
Đây là phương pháp thường được sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối
đoái trên thị rường. Với phương pháp này, khi tỷ giá hối đoái đạt đến mức
"báo động" cần phải can thiệp thì ngân hàng trungương nâng cao lãi suất
chiết khấu. Do lãi suất chiết khấu tăng, lãi suấ
t cho vay trên thị trường cũng
tăng lên. kết quả là vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ dồn vào để
thu lãi cao hơn. Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi, tỷ
giá hối đoái không có cơ hội để tăng nữa. Vào năm 1971 đến năm 1973
USD rơi vào khủng hoảng. Tổng thống Mỹ Nich-xơn đã ph
ải áp dụng
những biện pháp khẩn cấp để cứu nguy cho USD banừg cách tăng lãi suất
chiết khấu lên rất cao để thu hút vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ quốc
tế. Tuy nhiên chính sách lãi suất chiết khấu cũng có những hạn chế nhất
định, vì quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lại gián
tiếp, chứ không phải quan hệ trực tiếp nhân quả.
2- Các nghi
ệp vụ thị trường hối đoái:
Thông qua các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái
là một trong những biện pháp rất quan trọng của nhà nước để giữ vững sự
ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia. Đây là biện pháp trực tiếp tác
động vào tỷ giá hối đoái.
Đây là hoạt động mang tính chủ quan, do vậy việ lựa chọ
n các thời
điểm cần mua bán ngoại tệ trên thị trường với tỷ giá nào để đạt được mục
tiêu điều chỉnh có ý nghĩa quyết định. Để nắm được một cách đầy đủ tình
hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường, nagỳ nay nhiều nước trên thế giới đã
và đang tổ chức các thị trường ngoại tệ liên ngân hàng.
Để thực hiện có hiệu quả
Việt nam được tính theo đồng Rúp clearing(sau này đổi là rúp chuyển
khoản- transferable ruble) đồng tiền ghi sổ dùng trong thanh toán mậu dịch
giữa các nước thuộc khối XHCN tự quy định với nhau để làm sao cho tài
khoản các bên, sau khi trao đổi ngoại thương theo khối lượng đã được quy
định trong hiệp định ký kết vào đầu năm thì cuối năm không còn số dư.
Đặc trưng của chế độ
tỷ giá Việt nam trong thời kỳ này là cố định, đã bộc
lộ nhiều mặt bất hợp lý, nó không những không thể hiện vai trò điều tiết tỷ
giá hối đoái trong việc cân bằng cán cân thanh toán, điều tiết tái sản xuất
mà còn kìm hãm các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta là nghuyên
nhân dẫn đến tình trạng trì trệ kinh tế trong một thời gian dài.
Từ năm 1989 trở về sau cho đế
n nay, nhà nước ta đã có những chủ
trương và giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại, và chính sách tỷ giá
đã từng bước xoá bỏ cơ chế độc quyềnngoại thương, cho phép các tổ chức
kinh tế được phép xuất nhập khẩu trực tiếp với nước ngoài. Số lượng các
23
công ty được trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên,
cùng với việc mở rộng ngoại thương chế độ tỷ giá cũng có những thay đổi
căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản thân cơ chế điều hành
tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù hợp với bối cảnh thực tế.
Từ một c
ơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao cấp, xa rời với thị
rường; tỷ giá hối đoái đã được điều chỉnh theo các quan hệ và điều kiện của
các quy luật kinh tế thị trường. Cơ chế một tỷ giá linh hoạt, có sự điều tiết
của nhà nước đã phát huy được vai trò vừa là một phạm trù kinh tế vận
động theo quy luật cung cầu c
ủa nền kinh tế vừa là một công cụ điều tiết vĩ
mô quan trọng của nhà nước. Nhà nước đã áp dụng chính sách tỷ giá linh
lệch giá.
+ Tình trạng tỷ giá thường xuyên đột biến và thiếu ngoại tệ đã gây
nên những cơn sốc USD làm mất ổn ddịnh nền kinh tế.
24
+ Quản lý ngoại tệ của chính phủ không đạt được kết quả như mong
muốn.
+ Nhà nước không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ.
Tình trạng leo thang của giá đồng Đôla đã kích thích tâm lý dự trữ
Đôla. Ngoại tệ vốn đã khan hiếm lại không được dùng cho hoạt động xuất
nhập khẩu mà còn bị buôn bán vòng vèo giữa các tổ chức trong nước. Mọi
cố gắng quản lý ngoạ
i tệ của chính phủ ít đem lại kết quả, thậm chí có
những quyết định của chính phủ về quản lý ngoại tệ đã bị mất hiệu lực
ngay khi vừa mới công bố. Giai đoạn này, ngân hàng không kiểm soát được
lưu thông ngoại tệ.
Trước tình hình đó, từ năm 1992 chính phủ đã chọn con đường thay
đổi cách quản lý ngoại tệ và đổi mới cơ chế
điều hành tỷ giá hối đoái
VND/USD. Nội dung chính của những thay đổi về chính sách và cơ chế
nêu trên là:
+ Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vịkinh tế quốc
doanh có ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định băngf biện
pháp kinh tế: mở trung tâm giao dịch ngoại tệ để cho các doanh nghiệp và
ngân hàng trao đổi mua bán ngoại tệ với nhau theo giá thoả thuận.
+ Bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại
th
ương giữa ngân sách với các tổ chức kinh tế tham gia xuất nhập khẩu.
Thay vào đó, trên cơ sở tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịch ngoại tệ,
ngân hàng nhà nước công bố tỷ giá chính thức.