ĐỀ ÁN
WTO và những vấn đề
Việt Nam cần giải quyết
để trở thành thành viên
của WTO
PHẦN MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá là một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan hệ
quốc tế hiện đại, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm
cho lực lượng sản xuất ngày càng được quốc tế hoá cao độ. Những tiến bộ
của khoa học công nghệ đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin đã đưa các
quốc gia gắn k
ết lại gần nhau dẫn tới sự hình thành mạng lưới toàn cầu,
trước tình hình đó tất cả các nước trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ
cấu kinh tế, điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng mở cửa, hội
nhập. Các nền kinh tế của các quốc gia đang từng bước cam kết cắt giảm và
tiến tới dỡ bỏ
hàng rào thuế quan, phi thuế quan, làm việc trao đổi hàng hoá
sự luân chuyển vốn, lao động và kỹ thuật, công nghệ trên thế giới ngày càng
thông thoáng hơn, mở đường cho kinh tế phát triển. Điều này được chứng
minh trong quá trình ra đời và phát triển của tổ chức thương mại thế giới
WTO từ 1-1-1995 với vai trò điều tiết không chỉ của thương mại hàng hoá
mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực thương mại dị
ững độc lập, chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi". Với đường
lối đổi mới toàn diện và hội nhập kinh tế quốc tế đúng đắn phù hợp với xu
thế của thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta trong những năm
qua đã đạt được những kết quả rất quan trọng, bước đầu ổn định về chính trị
và phát triển nền kinh tế. Quan hệ đối ngoại càng ngày càng được mở rộng
vị thế quốc tế của ta ngày càng được nâng cao. Chúng ta có thêm thế lực, có
khả năng và cơ hội để tiếp tục phát triển trong những năm tới. Ngày 22/11
theo quyết định của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nước ta gửi đơn
xin gia nhập WTO. Nước ta đã hoàn tất giai đoạn minh bạch hóa chính sách,
trả
lời các câu hỏi về chính sách kinh tế thương mại, đầu tư mà các nước
thành viên của WTO đặt ra. Hiện nay, chúng ta đang chuẩn bị cho các phiên
họp và các vòng đàm phán tiếp theo, phấn đấu đến năm 2005 chúng ta được
công nhận là thành viên chính thức của WTO. Do vậy yêu cầu tìm hiểu về
WTO và những nguyên tắc hoạt động cơ bản của nó, tìm hiểu và chỉ ra
những biện pháp, kiến nghị đối với mỗi học viên là cực kỳ quan trọng, do
vậy em đã làm đề tài: " WTO và những vấn đề Việt Nam cần giải quyết
để trở thành thành viên của WTO". Vì thời gian có hạn nên bài viết của
em còn nhiều hạn chế, kính mong thầy giáo bổ sung để bài viết của em được
hoàn thiện h
ơn.
Em xin chân thành cảm ơn!.
PHẦN I
TỔNG QUAN VỀ WTO
I. HỆ THỐNG WTO VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TOÀN CẦU
1.1. Lịch sử thành lập AGTT:
Trong những năm ngay sau Đại chiến thế giới thứ hai các nước đã có
những cố gắng quan trọng ban đầu để thông qua các quy tắc điều chỉnh các
quan hệ thương mại quốc tế.
* Các hiệp định đa biên về thương mại hàng hóa bao gồm cả Hiệp
định chung về thuế quan và thương mại (AGTT 1994) và các Hiệp định kèm
theo.
* Hiệp định chung về mục tiêu dịch vụ (AGTT)
* Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ (TRIPS).
WTO chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các Hiệp định này. Tổ
chức này cũng
đóng vai trò là diễn đàn đàm phán giữa các nước nhằm tự do
hóa hơn nữa thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Nó cũng đưa ra
một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên. Bất
cứ nước thành viên nào cho rằng thương mại của mình bị ảnh hưởng bất lợi
vì một nước khác không tuân thủ các quy tắc, nếu không đi đến một giả
i
pháp thỏa đáng thông qua tham vấn song phương, có thể đưa ra WTO để
giải quyết.
Mọi vấn đề quan trọng cuộc thẩm quyền của WTO được quyết định
tại Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên. Hội nghị hai năm họp ít nhất 1
lần.
1.4. WTO và kinh tế toàn cầu
Hệ thống tồn tại trước WTO, cụ thể là AGTT, trước đây đôi khi được
coi là một câu lạ
c bộ của những người giàu vì người ta có cảm giác rằng
nhiệm vụ của nó trước hết là để phục vụ cho lợi ích của các nước phát triển
giàu có. Vào thời điểm khởi động vòng đàm phán thương mại Urugoay
(1986), chỉ có một nhóm nhỏ các nước đang phát triển tỏ ra quan tâm đến
công việc của AGTT thông qua việc đặt các phái đoàn đại diện thường trú ở
Giơnevơ. Tuy vậy, tình hình đ
ã thay đổi cơ bản sau khi vòng đàm phán được
khởi động. Vào thời gian vòng đàm phán kết thúc và AGTT chuyển đổi
rãi hơn với thế giới.
Nhiều nước đang phát triển đã từ bỏ chính sách thay thế nhập khẩu và
giờ đây đang theo đuổi các chính sách hướng về xã hội, theo các chính sách
đó các nước này tìm cách thúc đẩy tăng trưở
ng kinh tế bằng các xã hội ngày
càng nhiều các sản phẩm của mình.
Thứ ba, là những chính sách thương mại tự do và thông thoáng và các
biện pháp các nước đang áp dụng để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã khích lệ các công ty đã quốc gia tìm mua linh kiện và các sản phẩm
trung gian từ các nước có giá thành thấp hơn và thiết lập và cơ sở sản xuất ở
nước đó. Do vậy, các sản phẩm có trên thị tr
ường hiện nay dù đó là các sản
phẩm tiêu dùng như quần áo may sẵn, hay các sản phẩm tiêu dùng lâu bền
như tủ lạnh và điều hòa không khí, hay cả hàng tư liệu sản xuất, ngày càng
được sản xuất , ngày càng được sản xuất thông qua các công đoạn thực hiện
không chỉ ở phạm vi một quốc gia, chứng cứ cụ thể của toàn cầu hóa kinh tế
thế giới và tính lệ thuộc ngày càng tăng của các nước vào ngoại thương đã
được đưa ra trong một quảng cáo gần đây của một công ty đa quốc gia
chuyên sản xuất đồ điện gia dụng; doanh nghiệp này tự hào tuyên bố là sản
phẩm của họ được chế tạo từ các cấu kiện sản xuất ở năm đến sáu quốc gia
khác nhau.
Sự lệ thuộc ngày càng t
ăng này vào ngoại thương, dù là nhà xuất khẩu
hay nhập khẩu của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đã làm cho các Chính
phủ và các doanh nghiệp nhận thức được vai trò quan trọng của hệ thống
thương mại đa biên trong việc bảo vệ các lợi ích thương mại của họ. Hệ
thống dựa trên quy tắc này đảm bảo cho sản phẩm của họ tiếp cận thị trường
nước ngoài s
ẽ không đột nhiên bị gián đoạn bởi các biện pháp của các Chính
phủ như tang thuế nhập khẩu hay áp đặt các quy định cấm nhập hay hạn chế
ống lại cạnh tranh nước ngoài. Tuy vậy GATT yêu cầu các
nước tiến hành việc bảo hộ đó thông qua hệ thống thuế quan. Việc sử dụng
các biện pháp hạn chế định lượng đều bị cấm trừ trong một số trường hợp
hạn chế.
- Ràng buộc thuế quan
Các nước đều được thúc giục cắt giảm, và ở đâu có thể, thì loại bỏ bảo
hộ
các rào cản thương mại khác trong đàm phán thương mại đa biên. Thuế
quan được cắt giảm như vậy bị buộc không được tăng lên nữa bằng cách bị
liệt kê vào trong danh mục cam kết quốc gia của mỗi nước. Các danh mục
này là một bộ phận không tách rời hệ thống pháp lý của GATT.
- Đãi ngộ tối huệ quốc
Quy tắc quan trọng này của GAT đặt ra nguyên tắc không phân biệt
đối xử
. Quy tắc này đòi hỏi là thuế quan và cách quy định khác sẽ được áp
dụng đối với hàng hóa nhập khẩu hay xuất khẩu mà không được phân biệt
đối xử giữa các nước. Như vậy quy tắc này không để cho một nước đánh
thuế quan vào hàng hóa nhập khẩu từ một nước này với thuế suất cao hơn
thuế suất được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác. Tuy vậy,
có những ngoại lệ đối với quy tắc này. Thương mại giữa các nước thành
viên của các thỏa thuận thương mại khu vực, được hưởng thuế suất ưu đãi
hay được miễn thuế, là một ngoại lệ. Một ngoại lệ khác tạo ra qua hệ thống
ưu đãi thuế quan phổ cập, theo hệ
thống này, các nước phát triển áp dụng
thuế suất ưu đãi hoặc miễn thuế cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang
phát triển, nhưng lại áp dụng thuế suất MFN cho hàng hóa nhập khẩu từ các
nước khác.
- Quy tắc đãi ngộ quốc gia:
Trong khi quy tắc MFN cấm các nước phân biệt đối xử đối với hàng
hóa có xuất xứ từ các nước khác nhau, thì quy tắc đãi ngộ quốc gia lại c
Urugoay và những Hiệp định sẽ được đàm phán trong tương lai. Những mục
tiêu cơ bản của WTO cũng tương tự như những mục tiêu của GATT, và
GATT nay đã chuyển thành WTO. Đó là:
Nâng cao mức sống, thu nhập, đảm bảo
đầy đủ việc làm mở rộng sản
phẩm và thương mại và tạo điều kiện để sử dụng tối ưu các nguồn lực của
thế giới (GATT) và:
- Thương mại dịch vụ
- Nhu cầu thúc đẩy sự "phát triển bền vững" bảo vệ giữ gìn môi
trường phù hợp với các nước phát triển khác nhau và mỗi quốc gia.
- Nhu cầu phải có những nỗ lự
c tích cực để đảm bảo rằng các nước
đang phát triển, đặc biệt là những nước kém phát triển nhất, có được tỷ trọng
tăng trưởng lớn hơn trong thương mại quốc tế.
2.2. Chức năng
- WTO tạo điều kiện cho việc thực thi, điều hành và hoạt động của các
công cụ pháp lý của vòng đàm phán Urugoay và của bất kỳ Hiệp định mới
nào được đàm phán trong tương lai.
- WTO là diễn đàn để các nước thành viên tiếp tục đàm phán về các
vấn đề nêu trong các hiệp định, về các vấn đề mới phát sinh trong quyền hạn
của mình và về việc mở rộng tự do hóa thươ
ng mại.
- WTO có trách nhiệm giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các
quốc gia thành viên.
- WTO có trách nhiệm thực hiện việc rà soát thường kỳ chính sách
thương mại của các quốc gia thành viên.
2.3. Cơ cấu của WTO:
* Cơ quan đầu não của WTO, có trách nhiệm đưa ra các quyết định là
hội nghị bộ trưởng họp 2 năm một lần . Kể từ khi thành lập WTO đến nay đã
có 3 cuộc họp hội nghị B
* Quá trình ra quyết định:
Hiệp định quy định là WTO sẽ tiếp nối tập quán ra quyết định của
GATT, tức là theo phương pháp đồng thuận. Điều này có nghĩa là khi một
quyết định được đưa ra, không có nước nào bỏ phiếu trống.
Khi không đạt được sự đồng thu
ận, hiệp định WTO cho phép quyết
định được thông qua bằng đa số phiếu. Mỗi quốc gia có quyền bỏ 1 phiếu.
Mặc dù có điều kiện này song những quyết định về tất cả các vấn đề
chính sách quan trọng (như vậy bắt đầu đàm phán về một lĩnh vực chưa
được các công cụ pháp lý của WTO điều chỉnh) nói chung đều phải được
thông qua bằng đồng thu
ận. Quy tắc đồng thuận này nhằm ngăn chặn "sự
chuyển biến của đa số", đặc biệt khi có một nhóm đồng ý kiến phản đối
mạnh mẽ quyết định được đưa ra.
Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp quy định yêu cầu bỏ phiếu đặc
biệt.
* Ban thư ký của WTO
WTO đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ. Đứng đầu WTO là Tổng giám
đốc. Giúp việc cho Tổng giám đốc là ba phó Tổng giám đốc, các phó tổng
giám đốc do Tổng giám đốc bổ nhiệm sau khi tham khảo ý kiến của các
quốc gia thành viên.
Ban thư ký của WTO gồm 500 người thuộc các quốc tịch khác nhau.
Để thực hiện nhi
ệm vụ của mình, Tổng giám đốc và nhân viên của WTO
không được "xin hay chấp thuận sự chỉ đạo của bất kỳ Chính phủ hay tổ
chức nào ngoài WTO" và do đó, duy trì được đặc trưng quốc tế của ban thư
ký.
* Tư cách thành viên:
Cho đến 31/5/1999, WTO có 134 thành viên:
Các nước chưa phải là thành viên của WTO có thể trở thành thành
Các hiệp định đa biên nhận thấy các nước đang phát triển kể cả các
nước kém phát triển nhất, có thể gặp khó khăn trong việc chấp nhận tất cả
hoặc một số nghĩa vụ và quy định đề ra các Hi
ệp định này đã quy định dành
đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước trên. Các điều khoản đó có thể sơ
bộ chia làm 3 loại:
- Các điều khoản yêu cầu các nước (phát triển và đang phát triển) thực
hiện các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại của các nước đang phát
triển và kém phát triển.
- Sự linh hoạt của các nước đang phát triển và kém phát triển nhất
trong việ
c chấp nhận các nghĩa vụ do các Hiệp định WTO.
- Cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và kém phát
triển nhất để xây dựng năng lực cho các nước này thực hiện các hiệp định.
* Các thủ tục giải quyết tranh chấp
Hệ thống WTO đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp khi một nước phát
triển một nước khác vi phạm các quy tắc và sau khi mọi nỗ lực tìm kiếm các
giải pháp thoải đáng thông qua tham vấn song phương thất bại tranh chấp
trong khuôn khổ WTO thông thường là kết quả các thông tin về những khó
khăn gặp phải khi tiếp thị sản phẩm tại các thị trường nước ngoài do các
ngành sản xuất hay hiệp hộ
i ngành cung cấp cho Chính phủ.
Mặc dù trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp - tham vấn song
phương, kiểm tra của Ban hội thẩm và sau đó là cơ quan phúc thẩm. Các đại
diện Chính phủ là người tham gia vào các quá trình này, nhưng các cơ quan
này chủ yếu dựa vào tư vấn và sự ủng hộ từ ngành sản xuất và các hiệp hội
có quyền lợi trong vấn đề đưa ra tranh chấp. Khả năng của các Chính phủ
theo đuổi m
ột vụ khiếu kiện hay bảo vệ các quyền lợi trong trường hợp bị
kiện, phụ thuộc lớn vào sự trợ giúp và ủng hộ của các nhóm ngành sản xuất
chính là do quá phức tạp của hệ thống, cho tới nay điều này đã cản trở các
cộng đồng doanh nghiệp quan tâm và làm quan với những luật lệ và quy tắc
của hệ thống thương mại thế giới. Ví dụ như họ không hiểu được rằng hệ
thống luật pháp đó không chỉ đem lại lợi ích cho các ngành sản xuất và các
doanh nghiệp mà còn tạo ra những quyền l
ợi cho họ.
3.1. Những lợi ích đối với cộng đồng doanh nghiệp
* Lợi ích đối với các nhà xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
- Đảm bảo tiếp cận thị trường
Đối với thương mại hàng hóa trong khuôn khổ WTO, hầu hết các
dòng thuế của các nước phát triển và đa số các dòng thuế của các nước đang
phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bị ràng buộc không tăng thêm. Đi
ều
đó đảm bảo rằng việc tiếp cận thị trường được thuận lợi hơn do việc giảm
thuế đã được cam kết và ràng buộc trong danh mục nhượng bộ của các nước
nhập khẩu áp dụng các biện pháp hạn chế khác. Đối với thương mại dịch vụ
các nước thành viên đã cam kết không hạn chế việc xâm nhập các sản phẩm
dịch vụ, và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài hơn nữa những điều kiện
và hạn chế đã ghi được trong danh mục cam kết của nước mình.
Việc tiếp cận thị trường được đảm bảo bằng các cam kết giúp các nhà
xuất khẩu đưa ra chính sách đầu tư và sản xuất với sự ch
ắc chắn hơn.
- Sự ổn định cho việc tiếp cận thị trường.
Hệ thống cũng đảm bảo sự ổn định cho việc tiếp cận thị trường xuất
khẩu thông qua việc yêu cầu tất cả các nước thành viên áp dụng một hệ
thống các quy định thống nhất được cụ thể hoá thông qua hàng loạt các Hiệp
định. Do đó các nước có nghĩa vụ đả
m bảo rằng các quy định về xác định trị
giá tính thuế hải quan, về việc kiểm định hàng hóa phù hợp với tiêu chuẩn
bắt buộc, hoặc về việc cấp giấy phép nhập khẩu, đều phải phù hợp với các
quốc gia thành viên phải đảm bảo về
mặt luật pháp cho các nhà nhập khẩu
về những quyền sau:
Biện minh trị giá đã khai báo khi hải quan tỏ ra nghi ngờ về tính trung
thực hoặc sự chính xác của trị giá khai báo đó.
- Yêu cầu cán bộ hải quan đưa ra dưới hình thức văn bản lý do không
chấp nhận giá trị khai báo, để họ có thể khiếu nại với cơ quan chức trách về
quyết định đó.
Những yêu cầu Chính phủ các nướ
c thành viên nỗ lực cao nhất bao
gồm cả những quyền trong Hiệp định về cấp phép nhập khẩu trong đó yêu
cầu giấy phép nhập khẩu phải được cấp trong một khoảng thời gian nhất
định từ khi nhận được đơn yêu cầu. Trong ví dụ này, trừ khi luật pháp quốc
gia quy định khác thì nhà nhập khẩu có quyền được bảo đảm nhận giấy phép
trong phạm vi thời gian đã được công b
ố.
Khiếu nại về quyền nói trên thường tùy thuộc vào những điều kiện mà
các ngành sản xuất hoặc doanh nghiệp trong nước phải đáp ứng. Ví dụ như
đã nêu ở phần trên, một ngành sản xuất có thể yêu cầu chính phủ phải áp
dụng các biện pháp tự vệ, hoặc đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế đối
kháng nếu ngành sản xuất đó đáp ứng được các yêu cầu của cơ quan điều tra
rằng kiến nghị của họ được ủng hộ của các nhà sản xuất chiếm tỷ trọng lớn
về
sản lượng trong ngành công nghệ đó. Các cơ quan điều tra phải xác định
chính xác xem đề nghị đưa ra có đáp ứng yêu cầu nói trên không trước khi
tiến hành điều tra.
* Quyền của các doanh nghiệp xuất khẩu:
Một ví dụ về quyền của các doanh nghiệp xuất khẩu được quy định
trong các Hiệp định là quyền được đưa ra các bằng chứng trong quá trình
i các sản phẩm từ nước ngoài vào Việt Nam.
1.1. Việt Nam phải mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ
Tức là hàng hóa của các nước cùng thành viên WTO được vào Việt
Nam mà với mức thuế nhập khẩu rất thấp.
Được biết tháng 12/2000, Việt Nam đã trình WTO bản chào đầu tiên
về việc mở cửa thị trường, hàng hóa và dịch vụ bao gồm 96% các dòng thuế
quan và 9 ngành dịch vụ với 78 phân ngành. Bình quân đơn thuế xuất nhậ
p
khẩu của toàn bộ các sản phẩm được chào giảm xuống còn 27,8% và 32%
đối với sản phẩm nông nghiệp và 27,1% đối với sản phẩm phi nông nghiệp.
Tạo thuận lợi cho các thành viên khác thâm nhập thị trường dưới hình
thức giảm thuế nhập khẩu cho hàng nông nghiệp và công nghiệp. Hai
chương trình giảm thuế sẽ phải được thương lượng giữa Việt Nam và nhóm
làm việc về Việt Nam gia nhập WTO và sẽ được g
ắn với nghị định thư gia
nhập như là các cam kết ràng buộc phải mở cửa thị trường dịch vụ cho cá
nhà kinh doanh nước ngoài như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, thông tin, kỹ
thuật và tư vấn… Một chương trình riêng biệt về dịch vụ sẽ phải được đàm
phán, trong đó có việc thâm nhập thị trường dịch vụ và được đưa vào nghị
định thư gia nhậ
p của Việt Nam
1.2. Việt Nam phải cung cấp sự bảo vệ phù hợp và hiệu quả cho sở
hữu trí tuệ, thiết lập chính sách cho đầu tư nước ngoài và tiếp tục cải
cách kinh tế tuân thủ các yêu cầu của WTO
Các cuộc đàm phán của Việt Nam xin gia nhập WTO đã đạt được
những tiến triển đáng kể, đặc biệt là trong phiên đàm phán thứ năm (tháng 4
năm 2002) và phiên thứ sáu (tháng 4 năm 2003). Trong các phiên
đàm phán
đó Việt Nam và các đối tác thương mại đã trao đổi ý kiến về các vấn đề liên
quan. Việt Nam cũng đã hoàn thành và nộp cho WTO báo cáo về trợ cấp
thiện cảm của người tiêu dùng đối với tên mác hoặc tên hiệu của mình.
Việt Nam phải đảm bảo không được phân biệt đối xử giữa các cá
nhân, công ty nướ
c ngoài với nhau và giữa các cá nhân và tổ chức nước
ngoài với các nhân và tổ chức trong nước trong việc thụ hưởng, phạm vi và
sự duy trì các quyền sở hữu trí tuệ. Xây dựng các quyền này và được bảo vệ
bằng thủ tục pháp lý trong nước đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Hệ thống pháp luật Việt Nam phải chặt chẽ công bằng bảo vệ quyền
lợi hợp pháp cho các doanh nghiệp trong nước cũ
ng như nước ngoài.Tạo
tâm lý thoải mái và an toàn cho các nhà kinh doanh nước ngoài khi tham gia
vào hệ thống kinh doanh trong nước theo tiêu chuẩn của WTO họ phải có
cảm giác được pháp luật của nước sở tại bảo vệ quyền lợi chính đáng và sự
hợp pháp của chính bản thân họ.
1.3. Chính phủ Việt Nam phải sửa đổi các quy định về đầu tư cam
kết thực hiện các nghĩa vụ quốc gia và giảm hay loại bỏ các hạn chế về
đầ
u tư nước ngoài.
Quá trình tự do hóa chính sách đầu tư nước ngoài nay là một phần
trong các chính sách kinh tế theo hướng thị trường, gồm cả tự do hóa thương
mại nới lỏng quy chế và tư nhân hóa. Các biện pháp đó gồm:
- Đơn giản hóa yêu cầu thẩm định trong phê duyệt FDI.
- Mở cửa các ngành công nghiệp cho đầu tư nước ngoài.
- Bỏ các hạn chế về cổ phần nước ngoài
- Khuyến khích các nhà đầu tư nướ
c ngoài tham gia vào quá trình tư
nhân hóa và xây dựng hạ tầng cơ sở (là hai lĩnh vực cần nhiều vốn và đầu tư
công nghiệp).
Bên cạnh đó Nhà nước còn đưa ra các biện pháp khuyến khích nhằm
thu hút FDI.