WTO và những vấn đề Việt Nam cần giải quyết để trở thành thành viên của WTO - Pdf 10

Phần mở đầu
Toàn cầu hoá là một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan hệ
quốc tế hiện đại, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm cho lực l-
ợng sản xuất ngày càng đợc quốc tế hoá cao độ. Những tiến bộ của khoa học
công nghệ đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin đã đa các quốc gia gắn kết
lại gần nhau dẫn tới sự hình thành mạng lới toàn cầu, trớc tình hình đó tất cả
các nớc trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ cấu kinh tế, điều chỉnh chính
sách kinh tế vĩ mô theo hớng mở cửa, hội nhập. Các nền kinh tế của các quốc
gia đang từng bớc cam kết cắt giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan, phi
thuế quan, làm việc trao đổi hàng hoá sự luân chuyển vốn, lao động và kỹ thuật,
công nghệ trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, mở đờng cho kinh tế phát
triển. Điều này đợc chứng minh trong quá trình ra đời và phát triển của tổ chức
thơng mại thế giới WTO từ 1-1-1995 với vai trò điều tiết không chỉ của thơng
mại hàng hoá mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực thơng mại dịch vụ, đầu t, quyền
sở hữu trí tuệ với 136 n ớc thành viên chiếm trên 90% tổng kim ngạch thơng
mại thế giới WTO đã trở thành một tổ chức quy mô toàn cầu và là nền tảng
pháp lý cho quan hệ kinh tế quốc tế là diễn đàn thờng trực đàm phán thơng mại
và thể chế giải quyết các tranh chấp thơng mại quốc tế. Xu thế toàn cầu hoá và
khu vực hoá về bản chất là giải quyết vấn đề thị trờng vì vậy thực chất đây là
sản phẩm của quá trình cạnh tranh, giành giật thị trờng gay gắt, quyết liệt giữa
các nớc và giữa các thực thể kinh tế quốc tế. Đây cũng là một tất yếu của quá
trình phát triển kinh tế, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất, của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sức sản xuất ngày càng phát triển dẫn tới
sự đòi hỏi cấp bách phải có một thị trờng tiêu thụ hàng hóa. Vấn đề đầu t giữa
các quốc gia, giữa các nền kinh tế thế giới có xu thế ngày càng phát triển trở
thành một thị trờng chung đó là quy luật phát triển tất yếu. Điều hiển nhiên đối
với các nớc để khỏi bị gạt bỏ ra khỏi lề của sự phát triển thì đều phải có nỗ lực
1
hội nhập và xu thế toàn cầu hóa tọa ra sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung
vì tồn tại của chính mình. Đây là một quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh phân

I. Hệ thống WTO và quá trình phát triển kinh tế toàn cầu
1.1. Lịch sử thành lập AGTT:
Trong những năm ngay sau Đại chiến thế giới thứ hai các nớc đã có
những cố gắng quan trọng ban đầu để thông qua các quy tắc điều chỉnh các
quan hệ thơng mại quốc tế.
Những cố gắng này đã dẫn đến việc thông qua Hiệp định chung về thuế
quan và thơng mại (mà sau này thờng đợc gọi là AGTT) vào năm 1948. Các quy
tắc của AGTT áp dụng cho thơng mại quốc tế về hàng hóa. Qua các năm sau,
văn bản của AGTT đã đợc sửa đổi để bao gồm thêm nhiều điều khoản mới, đặc
biệt để xử lý các vấn đề vớng mắc trong thơng mại của các nớc đang phát triển.
Ngoài ra nhiều hiệp định kèm theo chi tiết hóa một số điều khoản chính của
AGTT cũng đã đợc thông qua.
1.2. Các cuộc đàm phán thơng mại của vòng đàm phán Urugoay
Các quy tắc của AGTT và các hiệp định kèm theo sau này đã đợc sửa đổi
thêm và cập nhật để đáp ứng các điều kiện đang thay đổi của thơng mại quốc tế
trong vòng đàm phán thơng mại Urugoay đợc tổ chức từ 1986 đến 1994. Văn
bản của AGTT, cùng các quyết định thông qua trong khuôn khổ AGTT trong
các năm sau đó và các văn kiện giải thích đợc thiết lập trong vùng đàm phán
Urugoay, về sau đợc gọi là AGTT 1994. Các Hiệp định riêng rẽ cũng đã đợc
thông qua cho các lĩnh vực nh nông nghiệp, hàng dệt, trợ cấp, chống bán phá
giá, biện pháp tự vệ và các vấn đề khác, cùng với AGTT 1994, chúng tạo thành
các văn kiện cấu thành các hiệp định đa biên về thơng mại hàng hóa. Vòng đàm
phán Urugoay cũng đã dẫn đến việc thông qua các quy tắc mới điều tiết thơng
mại dịch vụ và các khía cạnh liên quan đến thơng mại của quyền sở hữu trí tuệ.
Một trong những thành tựu khác nữa của vòng đàm phán Urugoay là việc
thành lập WTO, AGTT, khuôn khổ các cuộc đàm phán này, đã không còn là
một tổ chức riêng biệt nữa mà đợc nhập vào WTO.
1.3. Hệ thống WTO
3
Hệ thống WTO hình thành từ vòng đàm phán Urugoay giờ đây bao gồm

đàm phán xin gia nhập.
Điều gì đã dẫn đến thay đổi về thái độ đối với t cách thành viên WTO và
tại sao các nớc lại tỏ ra quan tâm hơn đến hệ thống thơng mại dựa trên qui tắc
xuất hiện sau vòng đàm phán Urugoay nh vậy? có 3 lý do chính sau:
Lý do trớc hết liên quan đến tốc độ toàn cầu hóa của nền kinh tế thế giới
thông qua thế giới quốc tế và luồng lu chuyển vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Những sự thay đổi mang tính cách mạng diễn ra trong giao thông vận tải và
thông tin liên lạc ngày nay thậm chí đã giúp cả các nhà sản xuất nhỏ ở các nớc
đang phát triển có thể tìm kiếm tt cho các sản phẩm của mình ở những nớc cách
xa hàng nghìn dặm. Nh một số nhà quan sát nhận xét, các phơng tiện vận tải
hàng hóa đã biến toàn bộ thế giới thành một "làng toàn cầu".
Lý do thứ hai là quá trình toàn cầu hóa này đã làm tăng sự lệ thuộc của
các nớc vào thơng mại quốc tế lại càng đợc đẩy nhanh hơn nữa do việc chuyển
đổi các chính sách kinh tế, thơng mại đợc ghi nhận ở hầu hết các nớc. Sự sụp đổ
của khối cộng sản đã dẫn tới việc áp dụng dần dần các chính sách mang định h-
ớng thị trờng ở hầu hết các nớc trớc đây nhằm kiểm soát nền sản xuất và thơng
mại quốc tế. Những nớc này, trớc đây chủ yếu buôn bán với nhau, nay đang
càng ngày tăng cờng buôn bán rộng rãi hơn với thế giới.
Nhiều nớc đang phát triển đã từ bỏ chính sách thay thế nhập khẩu và giờ
đây đang theo đuổi các chính sách hớng về xã hội, theo các chính sách đó các
nớc này tìm cách thúc đẩy tăng trởng kinh tế bằng các xã hội ngày càng nhiều
các sản phẩm của mình.
Thứ ba, là những chính sách thơng mại tự do và thông thoáng và các biện
pháp các nớc đang áp dụng để khuyến khích đầu t trực tiếp nớc ngoài đã khích
lệ các công ty đã quốc gia tìm mua linh kiện và các sản phẩm trung gian từ các
nớc có giá thành thấp hơn và thiết lập và cơ sở sản xuất ở nớc đó. Do vậy, các
sản phẩm có trên thị trờng hiện nay dù đó là các sản phẩm tiêu dùng nh quần áo
may sẵn, hay các sản phẩm tiêu dùng lâu bền nh tủ lạnh và điều hòa không khí,
hay cả hàng t liệu sản xuất, ngày càng đợc sản xuất , ngày càng đợc sản xuất
5

6
các hiệp định kèm theo xem có vẻ phức tạp và các thuật ngữ pháp lý của chúng
thờng khó hiểu, chúng thờng đợc dựa trên một số ít nguyên tắc và quy tắc đơn
giản. Trong thực tế khuôn khổ của GATT đợc dựa trên bốn quy tắc cơ bản.
- Bảo hộ ngành sản xuất trong nớc thông qua thuế quan
Mặc dù GATT đợc tạo ra là nhằm để dần dần tự do hóa thơng mại,
GATT thừa nhận rằng các nớc thành viên có thể sẽ phải bảo vệ sản xuất trong
nớc chống lại cạnh tranh nớc ngoài. Tuy vậy GATT yêu cầu các nớc tiến hành
việc bảo hộ đó thông qua hệ thống thuế quan. Việc sử dụng các biện pháp hạn
chế định lợng đều bị cấm trừ trong một số trờng hợp hạn chế.
- Ràng buộc thuế quan
Các nớc đều đợc thúc giục cắt giảm, và ở đâu có thể, thì loại bỏ bảo hộ
các rào cản thơng mại khác trong đàm phán thơng mại đa biên. Thuế quan đợc
cắt giảm nh vậy bị buộc không đợc tăng lên nữa bằng cách bị liệt kê vào trong
danh mục cam kết quốc gia của mỗi nớc. Các danh mục này là một bộ phận
không tách rời hệ thống pháp lý của GATT.
- Đãi ngộ tối huệ quốc
Quy tắc quan trọng này của GAT đặt ra nguyên tắc không phân biệt đối
xử. Quy tắc này đòi hỏi là thuế quan và cách quy định khác sẽ đợc áp dụng đối
với hàng hóa nhập khẩu hay xuất khẩu mà không đợc phân biệt đối xử giữa các
nớc. Nh vậy quy tắc này không để cho một nớc đánh thuế quan vào hàng hóa
nhập khẩu từ một nớc này với thuế suất cao hơn thuế suất đợc áp dụng cho hàng
hóa nhập khẩu từ các nớc khác. Tuy vậy, có những ngoại lệ đối với quy tắc này.
Thơng mại giữa các nớc thành viên của các thỏa thuận thơng mại khu vực, đợc
hởng thuế suất u đãi hay đợc miễn thuế, là một ngoại lệ. Một ngoại lệ khác tạo
ra qua hệ thống u đãi thuế quan phổ cập, theo hệ thống này, các nớc phát triển
áp dụng thuế suất u đãi hoặc miễn thuế cho hàng hóa nhập khẩu từ các nớc
đang phát triển, nhng lại áp dụng thuế suất MFN cho hàng hóa nhập khẩu từ các
nớc khác.
- Quy tắc đãi ngộ quốc gia:

8
WTO cũng tơng tự nh những mục tiêu của GATT, và GATT nay đã chuyển
thành WTO. Đó là:
Nâng cao mức sống, thu nhập, đảm bảo đầy đủ việc làm mở rộng sản
phẩm và thơng mại và tạo điều kiện để sử dụng tối u các nguồn lực của thế giới
(GATT) và:
- Thơng mại dịch vụ
- Nhu cầu thúc đẩy sự "phát triển bền vững" bảo vệ giữ gìn môi trờng phù
hợp với các nớc phát triển khác nhau và mỗi quốc gia.
- Nhu cầu phải có những nỗ lực tích cực để đảm bảo rằng các nớc đang
phát triển, đặc biệt là những nớc kém phát triển nhất, có đợc tỷ trọng tăng trởng
lớn hơn trong thơng mại quốc tế.
2.2. Chức năng
- WTO tạo điều kiện cho việc thực thi, điều hành và hoạt động của các
công cụ pháp lý của vòng đàm phán Urugoay và của bất kỳ Hiệp định mới nào
đợc đàm phán trong tơng lai.
- WTO là diễn đàn để các nớc thành viên tiếp tục đàm phán về các vấn đề
nêu trong các hiệp định, về các vấn đề mới phát sinh trong quyền hạn của mình
và về việc mở rộng tự do hóa thơng mại.
- WTO có trách nhiệm giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các quốc
gia thành viên.
- WTO có trách nhiệm thực hiện việc rà soát thờng kỳ chính sách thơng
mại của các quốc gia thành viên.
2.3. Cơ cấu của WTO:
* Cơ quan đầu não của WTO, có trách nhiệm đa ra các quyết định là hội
nghị bộ trởng họp 2 năm một lần . Kể từ khi thành lập WTO đến nay đã có 3
cuộc họp hội nghị Bộ trởng: cuộc họp đầu tiên đợc tổ chức tại Singapore tháng
12/1996, cuộc họp thứ hai tại Cnoneva tháng 5/1998 và cuộc họp thứ ba tại
Seatle 30/11 đến 3/12/1999.
- Trong thời gian 2 năm giữa hai hội nghị, đại hội đồng sẽ thực hiện các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status