ĐỀ ÁN WTO VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VIỆT NAM CẦN
GIẢI QUYẾT ĐỂ TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN
CỦA WTO Giáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thanh Hà
Nguyễn Trung Hiếu
PHẦN MỞ ĐẦU
Toàn cầu hoá là một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan hệ
quốc tế hiện đại, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã và đang thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác giữa các quốc gia, làm
cho lực lượng sản xuất ngày càng được quốc tế hoá cao độ. Những tiến bộ
của khoa học công nghệ đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin đã đưa các
quốc gia gắn kết lại gần nhau dẫn tới sự hình thành mạng lưới toàn cầu,
trước tình hình đó tất cả các nước trên thế giới đều thực hiện điều chỉnh cơ
cấu kinh tế, điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng mở cửa, hội
nhập. Các nền kinh tế của các quốc gia đang từng bước cam kết cắt giảm và
tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan, làm việc trao đổi hàng hoá
lối đổi mới toàn diện và hội nhập kinh tế quốc tế đúng đắn phù hợp với xu
thế của thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta trong những năm
qua đã đạt được những kết quả rất quan trọng, bước đầu ổn định về chính trị
và phát triển nền kinh tế. Quan hệ đối ngoại càng ngày càng được mở rộng
vị thế quốc tế của ta ngày càng được nâng cao. Chúng ta có thêm thế lực, có
khả năng và cơ hội để tiếp tục phát triển trong những năm tới. Ngày 22/11
theo quyết định của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nước ta gửi đơn
xin gia nhập WTO. Nước ta đã hoàn tất giai đoạn minh bạch hóa chính sách,
trả lời các câu hỏi về chính sách kinh tế thương mại, đầu tư mà các nước
thành viên của WTO đặt ra. Hiện nay, chúng ta đang chuẩn bị cho các phiên
họp và các vòng đàm phán tiếp theo, phấn đấu đến năm 2005 chúng ta được
công nhận là thành viên chính thức của WTO. Do vậy yêu cầu tìm hiểu về
WTO và những nguyên tắc hoạt động cơ bản của nó, tìm hiểu và chỉ ra
những biện pháp, kiến nghị đối với mỗi học viên là cực kỳ quan trọng, do
vậy em đã làm đề tài: " WTO và những vấn đề Việt Nam cần giải quyết
để trở thành thành viên của WTO". Vì thời gian có hạn nên bài viết của
em còn nhiều hạn chế, kính mong thầy giáo bổ sung để bài viết của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!.
PHẦN I
TỔNG QUAN VỀ WTO
I. HỆ THỐNG WTO VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TOÀN CẦU
1.1. Lịch sử thành lập AGTT:
Trong những năm ngay sau Đại chiến thế giới thứ hai các nước đã có
những cố gắng quan trọng ban đầu để thông qua các quy tắc điều chỉnh các
quan hệ thương mại quốc tế.
Những cố gắng này đã dẫn đến việc thông qua Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại (mà sau này thường được gọi là AGTT) vào năm
1948. Các quy tắc của AGTT áp dụng cho thương mại quốc tế về hàng hóa.
chức này cũng đóng vai trò là diễn đàn đàm phán giữa các nước nhằm tự do
hóa hơn nữa thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Nó cũng đưa ra
một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên. Bất
cứ nước thành viên nào cho rằng thương mại của mình bị ảnh hưởng bất lợi
vì một nước khác không tuân thủ các quy tắc, nếu không đi đến một giải
pháp thỏa đáng thông qua tham vấn song phương, có thể đưa ra WTO để
giải quyết.
Mọi vấn đề quan trọng cuộc thẩm quyền của WTO được quyết định
tại Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên. Hội nghị hai năm họp ít nhất 1
lần.
1.4. WTO và kinh tế toàn cầu
Hệ thống tồn tại trước WTO, cụ thể là AGTT, trước đây đôi khi được
coi là một câu lạc bộ của những người giàu vì người ta có cảm giác rằng
nhiệm vụ của nó trước hết là để phục vụ cho lợi ích của các nước phát triển
giàu có. Vào thời điểm khởi động vòng đàm phán thương mại Urugoay
(1986), chỉ có một nhóm nhỏ các nước đang phát triển tỏ ra quan tâm đến
công việc của AGTT thông qua việc đặt các phái đoàn đại diện thường trú ở
Giơnevơ. Tuy vậy, tình hình đã thay đổi cơ bản sau khi vòng đàm phán được
khởi động. Vào thời gian vòng đàm phán kết thúc và AGTT chuyển đổi
thành tổ chức thương mại thế giới, ngày càng nhiều quốc gia đang phát triển
và đang tham gia vào cuộc đàm phán và thảo luận, đa phần các nước này đã
thiết lập các phái đoàn đại diện thường trú tại Giơnevơ. Ngoài ra, tiếp theo
sự sụp đổ của khối cộng sản, nhiều nền kinh tế đang chuyển đổi đã bắt đầu
xin gia nhập WTO. Hiện tại 134 nước là thành viên của WTO. Ngoài ra, 30
nước đang phát triển và có kinh doanh chuyển đổi đang đàm phán xin gia
nhập.
Điều gì đã dẫn đến thay đổi về thái độ đối với tư cách thành viên
WTO và tại sao các nước lại tỏ ra quan tâm hơn đến hệ thống thương mại
dựa trên qui tắc xuất hiện sau vòng đàm phán Urugoay như vậy? có 3 lý do
chính sau:
được đưa ra trong một quảng cáo gần đây của một công ty đa quốc gia
chuyên sản xuất đồ điện gia dụng; doanh nghiệp này tự hào tuyên bố là sản
phẩm của họ được chế tạo từ các cấu kiện sản xuất ở năm đến sáu quốc gia
khác nhau.
Sự lệ thuộc ngày càng tăng này vào ngoại thương, dù là nhà xuất khẩu
hay nhập khẩu của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đã làm cho các Chính
phủ và các doanh nghiệp nhận thức được vai trò quan trọng của hệ thống
thương mại đa biên trong việc bảo vệ các lợi ích thương mại của họ. Hệ
thống dựa trên quy tắc này đảm bảo cho sản phẩm của họ tiếp cận thị trường
nước ngoài sẽ không đột nhiên bị gián đoạn bởi các biện pháp của các Chính
phủ như tang thuế nhập khẩu hay áp đặt các quy định cấm nhập hay hạn chế
nhập khẩu. Hệ thống này tạo điều kiện cho hàng hóa tiếp cận thị trường
nước ngoài ổn định và an toàn làm cho các doanh nghiệp có thể đặt kế hoạch
và phát triển sản xuất xuất khẩu mà không phải lo sợ sẽ mất thị trường nước
ngoài do các hàng đóng hạn chế của các chi phí. Ngoài ra, điều còn ít người
biết đến là hệ thống này còn tạo những quyền nhất định cho các doanh
nghiệp. Hầu hết những quyền này là đối với Chính phủ nước mình, một số
quyền của họ có thể sử dụng đối với các Chính phủ nước ngoài.
Vì vậy, khuôn khổ các quyền và nghĩa vụ mà hệ thống WTO đã tạo ra
đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển thương mại trong bối cảnh
kinh tế thế giới đang nhanh chóng toàn cầu hóa.
Khả năng của các Chính phủ và các doanh nghiệp tận dụng lợi ích của
hệ thống này tùy thuộc rất lớn và kiến thức và hiểu biết về các quy tắc của
hệ thống và về những thuận lợi và những thách thức mà hệ thống này tạo ra.
1.5. Mục tiêu và nguyên tắc WTO
* Mục tiêu cơ bản của GATT, tổ chức đề ra các nguyên tắc đa phương
về thương mại hàng hóa là nhằm để tạo ra một hệ thống thương mại tự do và
thông thoáng nhờ đó các doanh nghiệp từ các nước thành viên có thể buôn
bán với nhau trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh. Mặc dù các quy tắc chi
tiết của GATT và các hiệp định kèm theo xem có vẻ phức tạp và các thuật
- Quy tắc đãi ngộ quốc gia:
Trong khi quy tắc MFN cấm các nước phân biệt đối xử đối với hàng
hóa có xuất xứ từ các nước khác nhau, thì quy tắc đãi ngộ quốc gia lại cấm
các nước phân biệt đối xử giữa các sản phẩm nhập khẩu và các sản phẩm
được tự sản xuất trong nước cả trong việc đánh các loại thuế nội địa áp dụng
các quy định trong nước.
Như vậy quy tắc này không để cho một nước, khi một sản phẩm đã
vào thị trường nước đó sau khi đã trả thuế nhập khẩu, được phép đánh một
loại thuế nội địa. Ví dụ như thuế doanh thu hay thuế giá trị gia tăng (VAT)
với mức thuế cao hơn mức thuế đánh vào một sản phẩm có xuất xứ của
chính nước đó.
* Các quy tắc áp dụng chung
Bốn quy tắc cơ bản được miêu tả ở trên được bổ sung thêm bằng các
quy tắc áp dụng chung để điều tiết hàng hóa thâm nhập vào lãnh thổ hải
quan của một nước nhập khẩu. Những quy tắc này bao gồm những quy tắc
sau mà các nước phải tuân thủ:
- Trong việc xác định trị giá chịu thuế của hàng hóa nhập khẩu thì
thuế quan được thu trên cơ sở đánh theo giá trị hàng hóa.
Trong việc áp dụng các tiêu chuẩn sản phẩm bắt buộc và quy định về
vệ sinh dịch tễ với hàng hóa nhập khẩu.
- Trong việc cấp giấy phép nhập khẩu
* Các quy tắc khác:
Việc trợ cấp của Chính phủ
Các biện pháp mà Chính phủ thông thường được phép áp dụng nếu
được một số ngành sản xuất yêu cầu và các biện pháp đầu tư có thể ảnh
hưởng có hại cho thương mại.
II. WTO MỤC TIÊU, CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU
2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ
WTO là một nhân tố bao trùm, chịu trách nhiệm giám sát việc thực
hiện tất cả các. Hiệp định đa biên và nhiều bên đã được đàm phán ở vòng
các chức năng của hội nghị.
- Khi xem xét các khiếu kiện, đại hội đồng sẽ họp với tư cách là cơ
quan giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Đại hội đồng cũng
có trách nhiệm thực hiện việc rò soát chính sách thương mại của từng quốc
gia trên cơ sở các báo cáo do ban thư ký của WTO soạn thảo.
Hoạt động của đại hội đồng được hỗ trợ bởi các tổ chức sau:
- Hội đồng thương mại hàng hóa, giám sát việc thực thi và hoạt động
của GATT 1994. ủy ban về:
+ Tiếp cận thị trường.
+ Nông nghiệp
+ Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch
+ Các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
+ Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
+ Hành vi chống phá giá
+ Trị giá hải quan
+Quy tắc xuất xứ
+ Cấp phép nhập khẩu
+ Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
+ Các biện pháp tự vệ
- Hội đồng về các khía cạnh đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
- Hội đồng thương mại hàng hóa
ủy ban về:
+ Thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính
+ Những cam kết cụ thể
* Quá trình ra quyết định:
Hiệp định quy định là WTO sẽ tiếp nối tập quán ra quyết định của
GATT, tức là theo phương pháp đồng thuận. Điều này có nghĩa là khi một
quyết định được đưa ra, không có nước nào bỏ phiếu trống.
Khi không đạt được sự đồng thuận, hiệp định WTO cho phép quyết
định được thông qua bằng đa số phiếu. Mỗi quốc gia có quyền bỏ 1 phiếu.
* Phân loại các thành viên WTO:
Hệ thống WTO có phân biệt 4 nhóm các nước thành viên: phát triển,
đang phát triển, kém phát triển nhất là các nền kinh tế chuyển đổi tại hội
nghị Bộ trưởng Giơnevơ năm 1998, lần đầu tiên đề cập tới "một số nền kinh
tế nhỏ bé" trong khuôn khổ nhóm các nước đang phát triển".
Tất cả chính sách nước do Liên hiệp quốc xếp hạng là "kém phát triển
nhất" được đối xử như các nước kém phát triển nhất là trong hệ thống WTO.
Hiện tại có 48 nước thuộc nhóm này. Tuy nhiên chưa có định nghĩa thống
nhất và chính xác xem các nước còn lại thuộc nhóm nào. Việc xác định một
quốc gia "đang phát triển" được thực hiện theo nguyên tắc "tự nhân". Những
nước trong quá khứ có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chủ yếu thuộc
Đông và Trung Âu và Liên Bang Xô viết cũ) và hiện nay đang từng bước
chuyển sang kinh tế thị trường và dân chủ hóa được đối xử như những nền
kinh tế chuyển đổi. Những thành viên còn lại được coi là những nước phát
triển.
- Các điều khoản về đối xử đặc biệt và các khác biệt đối với các nước
đang phát triển và các nước kém phát triển nhất.
Các hiệp định đa biên nhận thấy các nước đang phát triển kể cả các
nước kém phát triển nhất, có thể gặp khó khăn trong việc chấp nhận tất cả
hoặc một số nghĩa vụ và quy định đề ra các Hiệp định này đã quy định dành
đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước trên. Các điều khoản đó có thể sơ
bộ chia làm 3 loại:
- Các điều khoản yêu cầu các nước (phát triển và đang phát triển) thực
hiện các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại của các nước đang phát
triển và kém phát triển.
- Sự linh hoạt của các nước đang phát triển và kém phát triển nhất
trong việc chấp nhận các nghĩa vụ do các Hiệp định WTO.
- Cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và kém phát
triển nhất để xây dựng năng lực cho các nước này thực hiện các hiệp định.
* Các thủ tục giải quyết tranh chấp
sản xuất và doanh nghiệp đưa ra trong hoạt động thương mại quốc tế là gì?
Khi xem xét vấn đề này cần phải lưu ý một điều là cách Chính phủ đã phải
đàm phán cải thiện khả năng, tiếp cận thị trường sao cho các doanh nghiệp
có thể biến các nhượng bộ thương mại thành các cơ hội kinh doanh mục tiêu
của thương mại dựa trên nguyên tắc này là đảm bảo cho thị trường luôn
được mở cửa và việc tiếp cận thị trường không bị cản trở bởi những biện
pháp hạn chế nhập khẩu độc đoán và không được báo trước.
Tuy vậy, cộng đồng doanh nghiệp ở nhiều nước đang phát triển vẫn
chưa hoàn toàn ý thức được lợi thế của hệ thống thương mại WTO. Lý do
chính là do quá phức tạp của hệ thống, cho tới nay điều này đã cản trở các
cộng đồng doanh nghiệp quan tâm và làm quan với những luật lệ và quy tắc
của hệ thống thương mại thế giới. Ví dụ như họ không hiểu được rằng hệ
thống luật pháp đó không chỉ đem lại lợi ích cho các ngành sản xuất và các
doanh nghiệp mà còn tạo ra những quyền lợi cho họ.
3.1. Những lợi ích đối với cộng đồng doanh nghiệp
* Lợi ích đối với các nhà xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ
- Đảm bảo tiếp cận thị trường
Đối với thương mại hàng hóa trong khuôn khổ WTO, hầu hết các
dòng thuế của các nước phát triển và đa số các dòng thuế của các nước đang
phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bị ràng buộc không tăng thêm. Điều
đó đảm bảo rằng việc tiếp cận thị trường được thuận lợi hơn do việc giảm
thuế đã được cam kết và ràng buộc trong danh mục nhượng bộ của các nước
nhập khẩu áp dụng các biện pháp hạn chế khác. Đối với thương mại dịch vụ
các nước thành viên đã cam kết không hạn chế việc xâm nhập các sản phẩm
dịch vụ, và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài hơn nữa những điều kiện
và hạn chế đã ghi được trong danh mục cam kết của nước mình.
Việc tiếp cận thị trường được đảm bảo bằng các cam kết giúp các nhà
xuất khẩu đưa ra chính sách đầu tư và sản xuất với sự chắc chắn hơn.
- Sự ổn định cho việc tiếp cận thị trường.
Hệ thống cũng đảm bảo sự ổn định cho việc tiếp cận thị trường xuất
Các quyền có thể thực thi bao gồm các quyền theo quy định của Hiệp
định xác định trị giá tính thuế hải quan, trong đó yêu cầu Chính phủ các
quốc gia thành viên phải đảm bảo về mặt luật pháp cho các nhà nhập khẩu
về những quyền sau:
Biện minh trị giá đã khai báo khi hải quan tỏ ra nghi ngờ về tính trung
thực hoặc sự chính xác của trị giá khai báo đó.
- Yêu cầu cán bộ hải quan đưa ra dưới hình thức văn bản lý do không
chấp nhận giá trị khai báo, để họ có thể khiếu nại với cơ quan chức trách về
quyết định đó.
Những yêu cầu Chính phủ các nước thành viên nỗ lực cao nhất bao
gồm cả những quyền trong Hiệp định về cấp phép nhập khẩu trong đó yêu
cầu giấy phép nhập khẩu phải được cấp trong một khoảng thời gian nhất
định từ khi nhận được đơn yêu cầu. Trong ví dụ này, trừ khi luật pháp quốc
gia quy định khác thì nhà nhập khẩu có quyền được bảo đảm nhận giấy phép
trong phạm vi thời gian đã được công bố.
Khiếu nại về quyền nói trên thường tùy thuộc vào những điều kiện mà
các ngành sản xuất hoặc doanh nghiệp trong nước phải đáp ứng. Ví dụ như
đã nêu ở phần trên, một ngành sản xuất có thể yêu cầu chính phủ phải áp
dụng các biện pháp tự vệ, hoặc đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế đối
kháng nếu ngành sản xuất đó đáp ứng được các yêu cầu của cơ quan điều tra
rằng kiến nghị của họ được ủng hộ của các nhà sản xuất chiếm tỷ trọng lớn
về sản lượng trong ngành công nghệ đó. Các cơ quan điều tra phải xác định
chính xác xem đề nghị đưa ra có đáp ứng yêu cầu nói trên không trước khi
tiến hành điều tra.
* Quyền của các doanh nghiệp xuất khẩu:
Một ví dụ về quyền của các doanh nghiệp xuất khẩu được quy định
trong các Hiệp định là quyền được đưa ra các bằng chứng trong quá trình
điều tra ở nước nhập khẩu về việc đánh giá thuế chống bán phá giá hoặc
thuế đối kháng. Trường hợp cơ quan chức năng của nước nhập khẩu không
khẩu của toàn bộ các sản phẩm được chào giảm xuống còn 27,8% và 32%
đối với sản phẩm nông nghiệp và 27,1% đối với sản phẩm phi nông nghiệp.
Tạo thuận lợi cho các thành viên khác thâm nhập thị trường dưới hình
thức giảm thuế nhập khẩu cho hàng nông nghiệp và công nghiệp. Hai
chương trình giảm thuế sẽ phải được thương lượng giữa Việt Nam và nhóm
làm việc về Việt Nam gia nhập WTO và sẽ được gắn với nghị định thư gia
nhập như là các cam kết ràng buộc phải mở cửa thị trường dịch vụ cho cá
nhà kinh doanh nước ngoài như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, thông tin, kỹ
thuật và tư vấn… Một chương trình riêng biệt về dịch vụ sẽ phải được đàm
phán, trong đó có việc thâm nhập thị trường dịch vụ và được đưa vào nghị
định thư gia nhập của Việt Nam
1.2. Việt Nam phải cung cấp sự bảo vệ phù hợp và hiệu quả cho sở
hữu trí tuệ, thiết lập chính sách cho đầu tư nước ngoài và tiếp tục cải
cách kinh tế tuân thủ các yêu cầu của WTO
Các cuộc đàm phán của Việt Nam xin gia nhập WTO đã đạt được
những tiến triển đáng kể, đặc biệt là trong phiên đàm phán thứ năm (tháng 4
năm 2002) và phiên thứ sáu (tháng 4 năm 2003). Trong các phiên đàm phán
đó Việt Nam và các đối tác thương mại đã trao đổi ý kiến về các vấn đề liên
quan. Việt Nam cũng đã hoàn thành và nộp cho WTO báo cáo về trợ cấp
nông nghiệp và trợ cấp sản xuất, và thông báo cho WTO về các biện pháp
phi thuế quan đang được áp dụng và chương trình cải cách pháp luật của
mình.
Phân đàm phán thứ bảy mới đây nhất diễn ra tại Geneva vào các ngày
11/11 tháng 12 năm 2003 trong phiên đàm phán này, Việt Nam đã cung cấp
cho WTO bản dự thảo báo cáo trong đó trả lời rất nhiều câu hỏi do các nước
thành viên đặt ra các phiên trước đây, nhất là về mở cửa thị trường hàng hóa,
dịch vụ, chương trình hành động cải cách pháp luật. Trọng tâm của đàm
phán vẫn là cắt giảm thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp cho nông dân và xuất
khẩu nông sản. Một kết quả quan trọng đạt được của phiên đàm lần này là
ban thư ký đã soạn thảo dự báo cáo về việc Việt Nam gia nhập WTO. Ngoài
đầu tư nước ngoài.
Quá trình tự do hóa chính sách đầu tư nước ngoài nay là một phần
trong các chính sách kinh tế theo hướng thị trường, gồm cả tự do hóa thương
mại nới lỏng quy chế và tư nhân hóa. Các biện pháp đó gồm:
- Đơn giản hóa yêu cầu thẩm định trong phê duyệt FDI.
- Mở cửa các ngành công nghiệp cho đầu tư nước ngoài.
- Bỏ các hạn chế về cổ phần nước ngoài
- Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình tư
nhân hóa và xây dựng hạ tầng cơ sở (là hai lĩnh vực cần nhiều vốn và đầu tư
công nghiệp).
Bên cạnh đó Nhà nước còn đưa ra các biện pháp khuyến khích nhằm
thu hút FDI.
* Khuyến khích tài chính, liên quan đến việc chính phủ nước nhận đầu
tư cung cấp vốn cho nhà đầu tư nước ngoài ví dụ dưới dạng hỗ trợ đầu tư và
tín dụng trợ cấp.
* Khuyến khích về thuế, nhằm giảm gánh nặng về thuế cho nhà đầu tư
nước ngoài, trong nhóm này có các biện pháp như miễn thuế giảm thuế đối
với nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc hàng tư bản nhập khẩu.
* Khuyến khích gián tiếp, nhằm tăng lợi nhuận của nhà đầu tư theo
nhiều cách gián tiếp khác nhau. Ví dụ, Chính phủ có thể cấp đất và các cơ sở
hạ tầng với giá thấp hơn giá thị trường. Hoặc chính phủ có thể dành cho một
doanh nghiệp nước ngoài vị thế ưu đãi trên thị trường dưới dành ưu đãi cho
việc tiếp cận các hợp đồng của Chính phủ, vị thế độc quyền, đóng cửa thị
trường không cho các công ty khác tham gia, bảo hộ tránh cạnh tranh với
hàng nhập khẩu, hoặc dành đối xử ưu đãi đặc biệt về quy định.
Chính phủ Việt Nam phải tiếp tục cải cách kinh tế phù hợp với yêu
cầu của WTO. Các lĩnh vực của cải cách tương lai sẽ có thể bao gồm hệ
thống giá, cơ chế xuất nhập khẩu, hệ thống tài chính và thuế, cải cách các xí
nghiệp quốc doanh và hệ thống an toàn xã hội.
Các nghĩa vụ khác sẽ cam kết thực hiện áp dụng thống nhất cho các