BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỀ TÀI: WTO và những vấn đề Việt Nam
cần giải quyết để trở thành thành viên
của WTO
quốc gia, giữa các nền kinh tế thế giới có xu thế ngày càng phát triển trở
thành một thị trường chung đó là quy luật phát triển tất yếu. Điều hiển nhiên
2
đối với các nước để khỏi bị gạt bỏ ra khỏi lề của sự phát triển thì đều phải có
nỗ lực hội nhập và xu thế toàn cầu hóa tọa ra sức cạnh tranh của nền kinh tế
nói chung vì tồn tại của chính mình. Đây là một quá trình vừa hợp tác, vừa
đấu tranh phân chia thị trường, vì vậy hội nhập kinh tế quốc tế thực chất là
cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh
chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia thông qua việc
thiết lập các mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau, đan xen nhiều chiều, ở nhiều
tầng nấc, cấp độ với các nước khác nhau.
Đứng trước những đòi hỏi tất yếu và cấp bách của tình hình thế giới,
đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII (tháng 6-1991) đã đề ra chủ
trương "mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại trên
nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng cùng có lợi". Với đường
lối đổi mới toàn diện và hội nhập kinh tế quốc tế đúng đắn phù hợp với xu thế
của thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta trong những năm qua
đã đạt được những kết quả rất quan trọng, bước đầu ổn định về chính trị và
phát triển nền kinh tế. Quan hệ đối ngoại càng ngày càng được mở rộng vị thế
quốc tế của ta ngày càng được nâng cao. Chúng ta có thêm thế lực, có khả
năng và cơ hội để tiếp tục phát triển trong những năm tới. Ngày 22/11 theo
quyết định của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nước ta gửi đơn xin gia
nhập WTO. Nước ta đã hoàn tất giai đoạn minh bạch hóa chính sách, trả lời
các câu hỏi về chính sách kinh tế thương mại, đầu tư mà các nước thành viên
của WTO đặt ra. Hiện nay, chúng ta đang chuẩn bị cho các phiên họp và các
vòng đàm phán tiếp theo, phấn đấu đến năm 2005 chúng ta được công nhận là
thành viên chính thức của WTO. Do vậy yêu cầu tìm hiểu về WTO và những
nguyên tắc hoạt động cơ bản của nó, tìm hiểu và chỉ ra những biện pháp, kiến
riêng rẽ cũng đã được thông qua cho các lĩnh vực như nông nghiệp, hàng dệt,
trợ cấp, chống bán phá giá, biện pháp tự vệ và các vấn đề khác, cùng với
AGTT 1994, chúng tạo thành các văn kiện cấu thành các hiệp định đa biên về
thương mại hàng hóa. Vòng đàm phán Urugoay cũng đã dẫn đến việc thông
qua các quy tắc mới điều tiết thương mại dịch vụ và các khía cạnh liên quan
đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
4
Một trong những thành tựu khác nữa của vòng đàm phán Urugoay là
việc thành lập WTO, AGTT, khuôn khổ các cuộc đàm phán này, đã không
còn là một tổ chức riêng biệt nữa mà được nhập vào WTO.
1.3. Hệ thống WTO
Hệ thống WTO hình thành từ vòng đàm phán Urugoay giờ đây bao
gồm các hiệp định chính sau đây.
* Các hiệp định đa biên về thương mại hàng hóa bao gồm cả Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại (AGTT 1994) và các Hiệp định kèm theo.
* Hiệp định chung về mục tiêu dịch vụ (AGTT)
* Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ (TRIPS).
WTO chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện các Hiệp định này. Tổ
chức này cũng đóng vai trò là diễn đàn đàm phán giữa các nước nhằm tự do
hóa hơn nữa thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Nó cũng đưa ra
một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên. Bất cứ
nước thành viên nào cho rằng thương mại của mình bị ảnh hưởng bất lợi vì
một nước khác không tuân thủ các quy tắc, nếu không đi đến một giải pháp
thỏa đáng thông qua tham vấn song phương, có thể đưa ra WTO để giải
quyết.
Mọi vấn đề quan trọng cuộc thẩm quyền của WTO được quyết định tại
Hội nghị Bộ trưởng các nước thành viên. Hội nghị hai năm họp ít nhất 1 lần.
các nước vào thương mại quốc tế lại càng được đẩy nhanh hơn nữa do việc
chuyển đổi các chính sách kinh tế, thương mại được ghi nhận ở hầu hết các
nước. Sự sụp đổ của khối cộng sản đã dẫn tới việc áp dụng dần dần các chính
sách mang định hướng thị trường ở hầu hết các nước trước đây nhằm kiểm
soát nền sản xuất và thương mại quốc tế. Những nước này, trước đây chủ yếu
buôn bán với nhau, nay đang càng ngày tăng cường buôn bán rộng rãi hơn với
thế giới.
Nhiều nước đang phát triển đã từ bỏ chính sách thay thế nhập khẩu và
giờ đây đang theo đuổi các chính sách hướng về xã hội, theo các chính sách
6
đó các nước này tìm cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng các xã hội ngày
càng nhiều các sản phẩm của mình.
Thứ ba, là những chính sách thương mại tự do và thông thoáng và các
biện pháp các nước đang áp dụng để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
đã khích lệ các công ty đã quốc gia tìm mua linh kiện và các sản phẩm trung
gian từ các nước có giá thành thấp hơn và thiết lập và cơ sở sản xuất ở nước
đó. Do vậy, các sản phẩm có trên thị trường hiện nay dù đó là các sản phẩm
tiêu dùng như quần áo may sẵn, hay các sản phẩm tiêu dùng lâu bền như tủ
lạnh và điều hòa không khí, hay cả hàng tư liệu sản xuất, ngày càng được sản
xuất , ngày càng được sản xuất thông qua các công đoạn thực hiện không chỉ
ở phạm vi một quốc gia, chứng cứ cụ thể của toàn cầu hóa kinh tế thế giới và
tính lệ thuộc ngày càng tăng của các nước vào ngoại thương đã được đưa ra
trong một quảng cáo gần đây của một công ty đa quốc gia chuyên sản xuất đồ
điện gia dụng; doanh nghiệp này tự hào tuyên bố là sản phẩm của họ được chế
tạo từ các cấu kiện sản xuất ở năm đến sáu quốc gia khác nhau.
Sự lệ thuộc ngày càng tăng này vào ngoại thương, dù là nhà xuất khẩu
hay nhập khẩu của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, đã làm cho các Chính
phủ và các doanh nghiệp nhận thức được vai trò quan trọng của hệ thống
Mặc dù GATT được tạo ra là nhằm để dần dần tự do hóa thương mại,
GATT thừa nhận rằng các nước thành viên có thể sẽ phải bảo vệ sản xuất
trong nước chống lại cạnh tranh nước ngoài. Tuy vậy GATT yêu cầu các
nước tiến hành việc bảo hộ đó thông qua hệ thống thuế quan. Việc sử dụng
các biện pháp hạn chế định lượng đều bị cấm trừ trong một số trường hợp hạn
chế.
- Ràng buộc thuế quan
Các nước đều được thúc giục cắt giảm, và ở đâu có thể, thì loại bỏ bảo
hộ các rào cản thương mại khác trong đàm phán thương mại đa biên. Thuế
quan được cắt giảm như vậy bị buộc không được tăng lên nữa bằng cách bị
liệt kê vào trong danh mục cam kết quốc gia của mỗi nước. Các danh mục này
là một bộ phận không tách rời hệ thống pháp lý của GATT.
- Đãi ngộ tối huệ quốc
8
Quy tắc quan trọng này của GAT đặt ra nguyên tắc không phân biệt đối
xử. Quy tắc này đòi hỏi là thuế quan và cách quy định khác sẽ được áp dụng
đối với hàng hóa nhập khẩu hay xuất khẩu mà không được phân biệt đối xử
giữa các nước. Như vậy quy tắc này không để cho một nước đánh thuế quan
vào hàng hóa nhập khẩu từ một nước này với thuế suất cao hơn thuế suất
được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác. Tuy vậy, có những
ngoại lệ đối với quy tắc này. Thương mại giữa các nước thành viên của các
thỏa thuận thương mại khu vực, được hưởng thuế suất ưu đãi hay được miễn
thuế, là một ngoại lệ. Một ngoại lệ khác tạo ra qua hệ thống ưu đãi thuế quan
phổ cập, theo hệ thống này, các nước phát triển áp dụng thuế suất ưu đãi hoặc
miễn thuế cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển, nhưng lại áp
dụng thuế suất MFN cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước khác.
- Quy tắc đãi ngộ quốc gia:
Trong khi quy tắc MFN cấm các nước phân biệt đối xử đối với hàng
hiện tất cả các. Hiệp định đa biên và nhiều bên đã được đàm phán ở vòng
Urugoay và những Hiệp định sẽ được đàm phán trong tương lai. Những mục
tiêu cơ bản của WTO cũng tương tự như những mục tiêu của GATT, và
GATT nay đã chuyển thành WTO. Đó là:
Nâng cao mức sống, thu nhập, đảm bảo đầy đủ việc làm mở rộng sản
phẩm và thương mại và tạo điều kiện để sử dụng tối ưu các nguồn lực của thế
giới (GATT) và:
- Thương mại dịch vụ
- Nhu cầu thúc đẩy sự "phát triển bền vững" bảo vệ giữ gìn môi trường
phù hợp với các nước phát triển khác nhau và mỗi quốc gia.
- Nhu cầu phải có những nỗ lực tích cực để đảm bảo rằng các nước
đang phát triển, đặc biệt là những nước kém phát triển nhất, có được tỷ trọng
tăng trưởng lớn hơn trong thương mại quốc tế.
2.2. Chức năng
10
- WTO tạo điều kiện cho việc thực thi, điều hành và hoạt động của các
công cụ pháp lý của vòng đàm phán Urugoay và của bất kỳ Hiệp định mới
nào được đàm phán trong tương lai.
- WTO là diễn đàn để các nước thành viên tiếp tục đàm phán về các
vấn đề nêu trong các hiệp định, về các vấn đề mới phát sinh trong quyền hạn
của mình và về việc mở rộng tự do hóa thương mại.
- WTO có trách nhiệm giải quyết tranh chấp và bất đồng giữa các quốc
gia thành viên.
- WTO có trách nhiệm thực hiện việc rà soát thường kỳ chính sách
thương mại của các quốc gia thành viên.
2.3. Cơ cấu của WTO:
* Cơ quan đầu não của WTO, có trách nhiệm đưa ra các quyết định là
hội nghị bộ trưởng họp 2 năm một lần . Kể từ khi thành lập WTO đến nay đã
có 3 cuộc họp hội nghị Bộ trưởng: cuộc họp đầu tiên được tổ chức tại
Hiệp định quy định là WTO sẽ tiếp nối tập quán ra quyết định của
GATT, tức là theo phương pháp đồng thuận. Điều này có nghĩa là khi một
quyết định được đưa ra, không có nước nào bỏ phiếu trống.
Khi không đạt được sự đồng thuận, hiệp định WTO cho phép quyết
định được thông qua bằng đa số phiếu. Mỗi quốc gia có quyền bỏ 1 phiếu.
Mặc dù có điều kiện này song những quyết định về tất cả các vấn đề
chính sách quan trọng (như vậy bắt đầu đàm phán về một lĩnh vực chưa được
các công cụ pháp lý của WTO điều chỉnh) nói chung đều phải được thông qua
bằng đồng thuận. Quy tắc đồng thuận này nhằm ngăn chặn "sự chuyển biến
của đa số", đặc biệt khi có một nhóm đồng ý kiến phản đối mạnh mẽ quyết
định được đưa ra.
Tuy nhiên cũng có một vài trường hợp quy định yêu cầu bỏ phiếu đặc
biệt.
* Ban thư ký của WTO
WTO đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ. Đứng đầu WTO là Tổng giám
đốc. Giúp việc cho Tổng giám đốc là ba phó Tổng giám đốc, các phó tổng
12
giám đốc do Tổng giám đốc bổ nhiệm sau khi tham khảo ý kiến của các quốc
gia thành viên.
Ban thư ký của WTO gồm 500 người thuộc các quốc tịch khác nhau.
Để thực hiện nhiệm vụ của mình, Tổng giám đốc và nhân viên của WTO
không được "xin hay chấp thuận sự chỉ đạo của bất kỳ Chính phủ hay tổ chức
nào ngoài WTO" và do đó, duy trì được đặc trưng quốc tế của ban thư ký.
* Tư cách thành viên:
Cho đến 31/5/1999, WTO có 134 thành viên:
Các nước chưa phải là thành viên của WTO có thể trở thành thành viên
thông qua đàm phán để gia nhập. Trong các cuộc đàm phán này, các nước
phải đồng ý thực hiện các bước để đưa hệ thống luật pháp của mình phù hợp
với các quy tắc của các hiệp định đa biên. Hơn nữa, họ phải cam kết giảm
- Các điều khoản yêu cầu các nước (phát triển và đang phát triển) thực
hiện các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại của các nước đang phát triển
và kém phát triển.
- Sự linh hoạt của các nước đang phát triển và kém phát triển nhất trong
việc chấp nhận các nghĩa vụ do các Hiệp định WTO.
- Cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển và kém phát
triển nhất để xây dựng năng lực cho các nước này thực hiện các hiệp định.
* Các thủ tục giải quyết tranh chấp
Hệ thống WTO đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp khi một nước phát
triển một nước khác vi phạm các quy tắc và sau khi mọi nỗ lực tìm kiếm các
giải pháp thoải đáng thông qua tham vấn song phương thất bại tranh chấp
trong khuôn khổ WTO thông thường là kết quả các thông tin về những khó
khăn gặp phải khi tiếp thị sản phẩm tại các thị trường nước ngoài do các
ngành sản xuất hay hiệp hội ngành cung cấp cho Chính phủ.
Mặc dù trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp - tham vấn song
phương, kiểm tra của Ban hội thẩm và sau đó là cơ quan phúc thẩm. Các đại
diện Chính phủ là người tham gia vào các quá trình này, nhưng các cơ quan
này chủ yếu dựa vào tư vấn và sự ủng hộ từ ngành sản xuất và các hiệp hội có
14
quyền lợi trong vấn đề đưa ra tranh chấp. Khả năng của các Chính phủ theo
đuổi một vụ khiếu kiện hay bảo vệ các quyền lợi trong trường hợp bị kiện,
phụ thuộc lớn vào sự trợ giúp và ủng hộ của các nhóm ngành sản xuất có liên
quan.
* Cơ chế và chính sách thương mại
Ngoài việc đưa ra một cơ chế giải quyết tranh chấp, WTO hoạt động
như một diễn đàn để rà soát theo định kỳ chính sách thương mại của các nước
thành viên. Hoạt động rà soát là nhằm đạt được hai mục tiêu. Thứ nhất, để
đánh giá mức độ tuân thủ các yêu cầu và cam kết theo các Hiệp định đa biên
của từng quốc gia thành viên, và nếu tham gia các Hiệp định nhiều bên thì kể
thuế của các nước phát triển và đa số các dòng thuế của các nước đang phát
triển và các nền kinh tế chuyển đổi bị ràng buộc không tăng thêm. Điều đó
đảm bảo rằng việc tiếp cận thị trường được thuận lợi hơn do việc giảm thuế
đã được cam kết và ràng buộc trong danh mục nhượng bộ của các nước nhập
khẩu áp dụng các biện pháp hạn chế khác. Đối với thương mại dịch vụ các
nước thành viên đã cam kết không hạn chế việc xâm nhập các sản phẩm dịch
vụ, và các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài hơn nữa những điều kiện và hạn
chế đã ghi được trong danh mục cam kết của nước mình.
Việc tiếp cận thị trường được đảm bảo bằng các cam kết giúp các nhà
xuất khẩu đưa ra chính sách đầu tư và sản xuất với sự chắc chắn hơn.
- Sự ổn định cho việc tiếp cận thị trường.
Hệ thống cũng đảm bảo sự ổn định cho việc tiếp cận thị trường xuất
khẩu thông qua việc yêu cầu tất cả các nước thành viên áp dụng một hệ thống
các quy định thống nhất được cụ thể hoá thông qua hàng loạt các Hiệp định.
Do đó các nước có nghĩa vụ đảm bảo rằng các quy định về xác định trị giá
tính thuế hải quan, về việc kiểm định hàng hóa phù hợp với tiêu chuẩn bắt
buộc, hoặc về việc cấp giấy phép nhập khẩu, đều phải phù hợp với các điều
kiện của các Hiệp định liên quan.
- Lợi ích đối với các nhà nhập khẩu nguyên liệu thô và các sản phẩm
đầu vào khác.
16
Các doanh nghiệp thường phải nhập khẩu nguyên liệu thô các sản phẩm
và dịch vụ trung gian cho mục đích sản xuất hàng xuất khẩu. Nguyên tắc cơ
bản yêu cầu cho phép được nhập khẩu mà không được áp dụng thêm các hạn
chế nào ngoài thuế, đồng thời yêu cầu các quy định quốc gia áp dụng tại biên
giới phù hợp với các nguyên tắc thống nhất của các hiệp định giúp cho nhập
khẩu được thuận lợi hơn. Điều này giúp các ngành công nghiệp sản xuất hàng
xuất khẩu sự đảm bảo rằng họ có thể có được loại hàng mình yêu cầu mà
không bị chậm trễ và với mức giá cạnh tranh. Hơn nữa, các cam kết ràng buộc
các ngành sản xuất hoặc doanh nghiệp trong nước phải đáp ứng. Ví dụ như đã
nêu ở phần trên, một ngành sản xuất có thể yêu cầu chính phủ phải áp dụng
các biện pháp tự vệ, hoặc đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế đối kháng
nếu ngành sản xuất đó đáp ứng được các yêu cầu của cơ quan điều tra rằng
kiến nghị của họ được ủng hộ của các nhà sản xuất chiếm tỷ trọng lớn về sản
lượng trong ngành công nghệ đó. Các cơ quan điều tra phải xác định chính
xác xem đề nghị đưa ra có đáp ứng yêu cầu nói trên không trước khi tiến hành
điều tra.
* Quyền của các doanh nghiệp xuất khẩu:
Một ví dụ về quyền của các doanh nghiệp xuất khẩu được quy định
trong các Hiệp định là quyền được đưa ra các bằng chứng trong quá trình điều
tra ở nước nhập khẩu về việc đánh giá thuế chống bán phá giá hoặc thuế đối
kháng. Trường hợp cơ quan chức năng của nước nhập khẩu không tôn trọng
quyền của họ, các doanh nghiệp xuất khẩu không thể tiếp xúc trực tiếp để đòi
khắc phục vấn đề đó. Các doanh nghiệp đó cần phải nêu vấn đề với Chính phủ
nước nhập khẩu và nếu cần thiết đưa vấn đề ra giải quyết theo thủ tục WTO
về giải quyết tranh chấp.
18
PHẦN II
NHỮNG ẤN ĐỀ VIỆT NAM CẦN GIẢI QUYẾT ĐỂ
TRỞ THÀNH THÀNH VIÊN CỦA WTO
Qua phần tổng quan về WTO chúng ta biết được rằng hệ thống WTO là
một hệ thống phức tạp, với những quy tắc quy chế và các hiệp định rất đa
dạng và phong phú.
Trong hệ thống WTO này chứa đựng nhiều những quy tắc bắt buộc mà
những quốc gia muốn gia nhập hay có thể tồn tại được trong hệ thống này
phải tuân thủ. Những quy tắc này không thể một sớm một chiều có thể thực
hữu trí tuệ, thiết lập chính sách cho đầu tư nước ngoài và tiếp tục cải
cách kinh tế tuân thủ các yêu cầu của WTO
Các cuộc đàm phán của Việt Nam xin gia nhập WTO đã đạt được
những tiến triển đáng kể, đặc biệt là trong phiên đàm phán thứ năm (tháng 4
năm 2002) và phiên thứ sáu (tháng 4 năm 2003). Trong các phiên đàm phán
đó Việt Nam và các đối tác thương mại đã trao đổi ý kiến về các vấn đề liên
quan. Việt Nam cũng đã hoàn thành và nộp cho WTO báo cáo về trợ cấp nông
nghiệp và trợ cấp sản xuất, và thông báo cho WTO về các biện pháp phi thuế
quan đang được áp dụng và chương trình cải cách pháp luật của mình.
Phân đàm phán thứ bảy mới đây nhất diễn ra tại Geneva vào các ngày
11/11 tháng 12 năm 2003 trong phiên đàm phán này, Việt Nam đã cung cấp
cho WTO bản dự thảo báo cáo trong đó trả lời rất nhiều câu hỏi do các nước
thành viên đặt ra các phiên trước đây, nhất là về mở cửa thị trường hàng hóa,
dịch vụ, chương trình hành động cải cách pháp luật. Trọng tâm của đàm phán
vẫn là cắt giảm thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp cho nông dân và xuất khẩu nông
sản. Một kết quả quan trọng đạt được của phiên đàm lần này là ban thư ký đã
soạn thảo dự báo cáo về việc Việt Nam gia nhập WTO. Ngoài ra Việt Nam
còn tiến hành đàm phán song phương với 13 nước thành viên của WTO.
20
Đến thời điểm này, Việt Nam và các đối tác thương mại chưa đạt được
thỏa thuận về các vấn đề chủ yếu được đặt ra trong đàm phán. Để đạt được
mục tiêu trở thành thành viên của WTO vào năm 2005, Việt Nam cần phải có
những nỗ lực vượt bậc.
Việt Nam sẽ cam kết bảo vệ mức độ phù hợp về sở hữu trí tuệ tức là
Việt Nam phải đảm bảo về các lĩnh vực sau: đối tượng của sở hữu trí tuệ là
những phát sinh của trí óc con người. Quyền của những nhà phát minh hay
nhà sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật được coi là quyền sở hữu trí tuệ.
Những quyền này bao gồm bản quyền (bảo hộ quyền của tác giả đối với ấn
phẩm và những sáng tạo nghệ thuật khác), bằng sáng chế (bảo hộ quyền của
Bên cạnh đó Nhà nước còn đưa ra các biện pháp khuyến khích nhằm
thu hút FDI.
* Khuyến khích tài chính, liên quan đến việc chính phủ nước nhận đầu
tư cung cấp vốn cho nhà đầu tư nước ngoài ví dụ dưới dạng hỗ trợ đầu tư và
tín dụng trợ cấp.
* Khuyến khích về thuế, nhằm giảm gánh nặng về thuế cho nhà đầu tư
nước ngoài, trong nhóm này có các biện pháp như miễn thuế giảm thuế đối
với nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc hàng tư bản nhập khẩu.
* Khuyến khích gián tiếp, nhằm tăng lợi nhuận của nhà đầu tư theo
nhiều cách gián tiếp khác nhau. Ví dụ, Chính phủ có thể cấp đất và các cơ sở
hạ tầng với giá thấp hơn giá thị trường. Hoặc chính phủ có thể dành cho một
doanh nghiệp nước ngoài vị thế ưu đãi trên thị trường dưới dành ưu đãi cho
việc tiếp cận các hợp đồng của Chính phủ, vị thế độc quyền, đóng cửa thị
trường không cho các công ty khác tham gia, bảo hộ tránh cạnh tranh với
hàng nhập khẩu, hoặc dành đối xử ưu đãi đặc biệt về quy định.
Chính phủ Việt Nam phải tiếp tục cải cách kinh tế phù hợp với yêu cầu
của WTO. Các lĩnh vực của cải cách tương lai sẽ có thể bao gồm hệ thống
giá, cơ chế xuất nhập khẩu, hệ thống tài chính và thuế, cải cách các xí nghiệp
quốc doanh và hệ thống an toàn xã hội.
22
Các nghĩa vụ khác sẽ cam kết thực hiện áp dụng thống nhất cho các
chính sách thương mại trên phạm vi toàn cầu, các quyền về ngoại thương cho
các xí nghiệp các cá nhân, định ra thời gian biểu cho các cải cách kinh tế và
các quy chế về hoạt động của các công ty thương mại Nhà nước.
23
PHẦN III
ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ
chính trị, xã hội của quốc gia.