Tài liệu Đề án "Chính sách lãi suất ở Việt Nam" - Pdf 95


ĐỀ ÁN

"Chính sách lãi suất
ở Việt Nam"
1

MỞ ĐẦU.
Lãi suất là một phạm trù kinh tế quan trọng được đề cập trên nhiều lĩnh vực
của đời sống kinh tế từ tiết kiệm, đầu tư, kiểm soát lạm Nhà nước sử dụng lãi
suất làm công cụ của chính sách tiền tệ điều tiết các quan hệ kinh tế nhằm mục
tiêu tăng trưởng phát triển. Do tầm quan trọng và cách thức tác động vào lãi
suất của nhà nước hình thành nên nhiều quan
điểm, xu hướngkhác nhau về lãi
suất và điều hành lãi suất. Trong tập chuyên đề này sẽ tập trung vào phân tích
hai định hương cơ bản của chính sách điều hành lãi suất là kiểm soát lãi suất và
tự do hoá lãi suất. Kiểm soát lãi suất và cố gắng duy trì một cơ chế ấn định lã
suất áp đặt vào thị trường. Đây là cong cụ mang tính hành chính.Tự do hoá lãi
suất đề cao sự ưu việt của cơ chế th
ị trường trong việc hình thành lãi suất. Các
công cụ phục phụ cho quà trình tiến tư do hoá cũng được đề cập tới ở mức độ
nhất định.

công cụ nợ đều đạt được mục đích của mình; người thừa vốn vừa bảo đảm được
vốn vừa thu được lợi, người thiếu vốn vừa dược đáp ứng đủ cho đàu tư. Từ thị
trường đó, lãi suất được hình thành như giá cả của một loại hàng hoá(ở đây là
vốn), nó là chi phí mà người đi vay phải trả cho người cho vay để được quyền
sử dụng vốn, nó vận động tuân theo quy luật cung cầu, xác định trên cơ sở cân
bằng giữa nhu cầu về vốn vá cung về vốn trên thị trường.
Như vậy, lãi suất chính là tín hiệu thị trường tham gia vào việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn và phân bổ nguồn vốn một cách hợp lý.
Ở trên là khái niệm lãi suất theo nguyên t
ắc thị trường, song lãi suất còn
được hiểu là công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia, nó do
ngân hàng trung ương - cơ quan thay mặt nhà nước thực thi chính sách tài chính
tiền tệ - nắm giữ, và sử dụng nhằm điều chỉnh và can thiệp vào thị trường giúp
hạn chế và khắc phục những yếu kém của nền kinh tế.

3
Ngoài ra khái niệm lãi suất như là chi phí cơ hội của việc giữ tiền cũng
tương đối phổ biến.
Trong đời sống hàng ngày chúng ta cũng gặp rất nhiều loại lãi suất khác
nhau như lãi suất các chứng khoán, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn,
lãi suất danh nghĩa-lãi suất thực, lãi suất trần-sàn. Sự phân biệt các loại lãi suất
này dựa trên sự liên quan đến vai trò công cụ của chính sách tiề
n tệ, chỉ số lạm
phát hoặc kỳ hạn và rủi ro của mỗi loại chứng khoán. Tuy nhiên một điều quan
trọng là hầu hết các loại lãi suất này đều diễn biến theo nhau. Vì vậy, nếu không
ghi cụ thể gì khác thì thuật ngữ lãi suất đề cập trong tập chuyên đề này mang ý
nghĩa phổ quát chung.
2. Cơ chế xác định lãi suất
Từ những khái niệm trên về lãi suất, ta có thể mô hình hoá nh
ững yếu tố

Tài chính trực tiếp

Lãi suất

4

Dựa vào mô hình chúng ta thấy có hai nhóm lực lượng tham gia vào việc
xác định lãi suất.
a. Những yếu tố thuộc lực lượng thị trường.
Thành phần thuộc nhóm này gồm :
* Người cho vay : những người dư thừa vốn.
* Người đi vay: những người cần vốn để kinh doanh, tiêu dùng.
Cầu về vốn Vốn b. Nhóm yếu tố thuộc chính sách tiền tệ :
Thành phần: Duy nhất là NHTƯ. Cơ quan có nhiệm vụ phát hành tiền,
quản lý hành chính hệ thống ngân hàng, vai trò người cho vay cuối cùng, xây
dựng chính sách tiền tệ. Nó tác động đến lãi suất bằng các công c
ụ mang tính
quyền lực nhà nước hoặc các công cụ mang tính thị trường.
NHTƯ sử dụng công cụ lãi suất để tác động vào lượng tiền cung ứng và các
biến số kinh tế vĩ mô khác nhằm đạtđược các mục tiêu của chính sách tiền tệ:
* Ổn định tiền tệ.
* Tạo việc làm.
* Tăng trưởng kinh tế.

6
Cách sử dụng công cụ lãi suất phụ thuộc vào chính sách điều hành lãi suất
của NHTƯ ở mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế. Xây dựng chính sách lãi
suất đúng đắn nhằm hướng dẫn phân bổ hợp lí nguồn vốn, huy động được tất
cả các nguồn lực tiềm năng trong nền kinh tế, kích thích đầu tư, phù hợp tỷ giá
và tạo thuận lợi cho hoạt
động ngoại thương, mang lại đà phát triển vững mạnh
cho nền kinh tế là một yêu cầu bức thiết luôn được đặt ra cho mỗi quốc gia
cũng như các nhà hoạch định chính sách của nó.
Các học thuyết , nhgiên cứu về cơ chế điều hành lãi suất chỉ ra rằng,

chức tín dụng vay trên cơ sở những chứng từ có giá của ngân hàng thương
mại. Đây là lãi suất phạt đối với ngân hàng thương mại khi thiếu hụt khả
năng thanh toán. NHTƯ thông qua lãi suất tía chiết khấu tác động vào lãi
suất thị trườ
ng.
Thí dụ, việc NHTƯ nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các ngân hàng
thương mại phải tăng dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán. Đồng thời ngân
hàng thương mại cũng phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp những chi phí cho
những khoản tăng thêm dự trữ, do vậy mà lãi suất thị trường tăng lên. Ngược
lại, việc giảm lãi suất tái chiết khấu của NHTƯ
cho phép các ngân hàng thương
mại giảm dự trữ và hạ lãi suất cho vay, do đó mà hạ lãi suất thị trường.
- Nghiệp vụ thị trường mở: nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán
chứng khoán (thường là chứng khoán nhà nước) trên thị trường tiền tệ
ngắn hạn. NHTƯ muốn đẩy mạnh tăng trưởng, mở rộng tín dụng, bằng
cách mua vào các chứng khoán có giá làm cho cung về tiền tệ
tăng lên, dẫn
tới làm giảm lãi suất. Ngược lại, khi NHTƯ muốn thu hẹp tín dụng bằng
cách bán ra các chứng khoán có giá làm cho cung tiền tệ giảm xuống dẫn
tới tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ.
- Hợp đồng mua lại: hợp đồng mua lại là hợp đồng bán những chứng
khoán, trong đó người bán cam kết sẽ mua lại chứng khoán này vào một
thời điểm trong tươ
ng lai với mức giá được xác định trước trong hợp đồng.
Như vậy, thực chất hợp đồng mua bán lại là hợp đồng cho vay có thế chấp,

8
trong đó chứng khoán đóng vai trò thế chấp. Khi mua thế chấp (tức cho
vay), NHTƯ bơm tiền vào thị trường tài chính và do vậy làm giảm lãi suất
ngắn hạn. Khi bán thế chấp từ tài khoản của mình NHTƯ rút tiền ra khỏi

I = I(r)

0 lượng đầu tư I
Đồ thị biểu thị hàm đầu tư, nó dốc xuống vì khi lãi suất tăng lượng cầu về
đầu tư giảm.
Mặt khác kinh tế học Macxit trong phân tích về tư bản cho vay và chỉ rõ
rằng:
lãi suất < tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội
Nếu mối quan hệ này bị vi phạm lợi ích của người đi vay sả
n xuất không
được giải quyết thoả đáng sẽ làm giảm ý muốn đầu tư sản xuất, không mở rộng
được quy mô, tốc độ phát triển của nền kinh tế. Đồng thời người ta thích gửi
tiền hơn và hình thành một lớp người thực lợi, sống vào lãi suất tiết kiệm.
b. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm.
Thu nhập của cá nhân bao giờ cũng được chia làm hai phần là tiêu dùng và
ti
ết kiệm. Hành vi tiết kiệm với kỳ vọng phòng ngừa rủi ro, mở rộng sản xuất,
tích luỹ và tiêu dùng trong tương lai chính là cung về vốn vay trong nền kinh tế.
Tiêu dùng là một hàm phụ thuộc vào thu nhập khả dụng. Ở mỗi giai đoạn
của chu kỳ kinh doanh, sự thắt chặt hay nới lỏng của chính sách thuế mà ngân
sách dành cho chi tiêu bị tác động. Tiết kiệm bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố
nh
ư thu nhập, tập quán tiết kiệm và lãi suất. Khi lãi suất tăng làm tăng ý muốn
tiết kiệm và sự sẵn sàng chi tiêu giảm xuống.
Tiết kiệm là một hàm phụ thuộc thuận vào lãi suất : S =S (r) .
e. Lãi suất với cầu tiền

11
Tiền là một loại tài sản, cũng là một cách mà mỗi người sử dụng cho việc
tích sản của mình. Nhu cầu về tiền phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó có thu nhập
và lãi suất. Khi thu nhập tăng, theo lý thuyết lượng cầu tài sản, nhu cầu nắm giữ
tiền của dân chúng tăng lên. Người ta cần nhiều tiền hơn cho chi tiêu. Lãi suất
như đã đề cập từ
đầu là chi phí cơ hội cho việc giữ tiền. Vì vậy khi lãi suất tăng
người ta ít có ý muốn nắm giữ tiền hơn mà chuyển sang mua các loại chứng
khoán hoặc gửi tiết kiệm để thu lợi. Cầu tiền tỷ lệ nghịch với lãi suất.

II. Tự do hoá lãi suất
1. Khái niệm về tự do hoá lãi suất
Tự do hoá lãi suất xuất phát từ những cơ chế điều hành chính sách lãi suất
và sử dụng công cụ lãi suất trong chính sách tiền tệ.
Như phần đầu của chuyên đề đã nêu ra ,NHTW có thể tác động vào lãi suất theo
trong hai cách sau:
* Dùng qui định hành chính.
* Dùng tác động kinh tế .
Ở nhiều nước, NHTW đã không còn quản lý lãi suất bằng các công cụ hành
chính mà chủ yếu sử dụng công cụ kinh tế
là lãi suất cho vay của NHTW đối
với ngân hàng thương mại. Cùng với sự phát triển cao của hệ thống tài chính
ngân hàng quốc tế, quan điểm về điều hành chính sách lãi suất theo cơ chế tự do
hoá lãi suất tác động bằng công cụ thị trường tới lãi suất như của:Anh, Mỹ là
mục tiêu mà các quốc gia đều hướng tới. Tự do hoá lãi suất -hạt nhân của tự do
hoá tài chính -là để cho lãi suất tự hình thành thị
trườngtrên cơ sở: cung cầu về
vốn; mức tiết kiệm; thu nhập và chi tiêu của cá nhân và những nhân tố khác;

thống ngân hàng:
- Nguồn tiết kiệm và tích luỹ sẽ chảy ra thị trường tài chính phi tổ
chức
và không bị quản lý chúng biểu hiện dưới dạng :
* Ngân hàng kiểu chính sách tăng lên.
* Cho vay qua thị trường không chính thức.

13
* Nắm giữ ngoại tệ, tích luỹ kim loại quí hàng lâu bền.
- Kiểm soát lãi suất kém hiệu quả trong việc điều hành chính sách tiền
tệ:
Kiểm soát lãi suất sẽ khuyến kích kiểm soát chi tiết các chi điều kiện tiền tệ
bằng cách áp đặt cơ cấu lãi suất phức tạp như tồn tại nhiều loại trần lãi suất cho
vay gây kém hiệu quả và biến dạng hơ
n.Việc kiểm soát lãi suất sẽ giảm hiệu
quả của việc kiểm soát tiền tệ, bởi vì sự gia tăng và mở rộng của các thị trường
ngoài thị trường được kiểm soát. Các tổ chức kinh tế và ngân hàng thương mại
thừơng tìm cách để tránh sự kiểm soát, do đó ngày càng nhiều hoạt động kinh tế
diễn ra ngoài tài chính chính thức, các ngân hàng thương mại cố gắng tìm cách
tránh sự kiểm soát của ngân hàng trung ươ
ng bằng cách tạo ra các sản phẩm
mới hoặc các kỹ thuật tài trợ mà nằm ngoài tầm kiểm soát hoặc phạm vi quy
định trần lãi suất. Trong thực tế, khi các công cụ này bị các ngân hàng lẩn tránh
thì các mục tiêu của chính sách tiền tệ sẽ không thể thực hiện được.

- Kiểm soát lãi suất không có lợi cho cạnh tranh:
Các tổ chức tín dụng kém hiệu quả có thể được bảo vệ từ sức ép củ
a tự do
cạnh trnh khiến cho quá trình giải quyết khó khăn của họ tồn tại kéo dài. Những
khó khăn lớn gắn với sự kiểm soát lãi suất là vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi

ý nghĩa phân bổ nguồn vốn khan hiếm cho những người vay cạnh tranh nhau,
đáp ứ
ng nhu cầu của họ và có hiệu quả nhất; đồng thời có tác dụng thu hút tiền
gửi từ các nguồn lực trong nền kinh tế với chi phí hợp lý nhất được cả ngân
hàng và người gửi chấp nhận. Có thể nói rằng lập luận phân bổ nguồn vốn hiệu
quả là trung tâm của vấn đề. Điều này không thể thực hiện trong điều kiện lãi
suất bị kiểm soát hành chính, làm cho các ho
ạt đọng đầu tư bị biến dạng. Lãi
suất được tự do hoá sẽ linh hoạt hơn so với khi bị kiểm soát, có khả năng điều
tiết, thích nghi với điều kiện thay đổi, tạo sự kích thích cho tăng trưởng tài
chính, cải tiến và thay đổi cơ cấu mà chính phủ hoặc là không thể quản lý hoặc
là chậm thu được kết quả.

15
+ Tự do hoá lãi suất cũng suất phát từ một thực tế là không một chính phủ
hay một NHTƯ nào có đủ khả năng để phân bổ và kiểm soát sự phân bổ nguồn
vốn một cách có hiệu quả cho hàng ngàn nhu cầu sử dụng vốn khác nhau.
Những tranh cãi về lời giải cho bài toán lãi suất bởi cơ chế kiểm soát lãi suất đặt
ra nhu một váan đề không thống nhất được giữa ý kiến c
ủa các tầng lớp khác
nhau. Để giảm thiểu những tranh luận này, cách tốt nhất là để lãi suất do thị
trường quyết định, tức là tự do hoá, tự do hoá lãi suất cũng buộc NHTƯ phải
thay đổi cách làm việc, tư duy và đặc biệt là thay đổi các công cụ điều hành
chính sách tiền tệ, chủ yếu dựa vào các công cụ gián tiếp để khống chế lãi suất.
+ Trên thế giới đang diễn ra quá trình toà c
ầu hoá nhanh chóng mà toàn cầu
hoá tài chính là điển hình nhất của quá trình này. Trong lĩnh vực kinh tế, theo
nhiều nhà kinh tế, thì kẻ thù lớn nhất của chúng ta chính là toàn cầu hoá. Trong
quá trình này, nhờ những phát triển vượt bậc của công nghệ và những nỗ lực
của các nước đang phát triển cạnh tranh thu hút các nguồn vốn quốc tế, các

trường tài chính phi chính thức. Khi kết luận Shaw nhấn mạnh:” khu vực tài
chính của một nền kinh tế có vai trò trong phát triển kinh tế. Nếu nó bị kiềm chế
và bó méo, nó có thể ngăn cản và phá hoại những động lực cho sự phát triển.
Như vậy những hạn chế của cơ chế tài chính bị kiềm chế tạo ra những cơ
sở
cho sự phát triển của cơ chế tài chính mang tính tự do hơn. Tự do hoá cho phép
hệ thống ngân hàng tự chủ hơn và điều đó dẫn đến lãi suất tiền gửi và tiền vay
cao hơn. Những thay đổi như vậy trong lĩnh vực tài chính sẽ tác động đến các
doanh nghiệp và các hộ gia đình, khiến họ thay đổi hành vi tiết kiệm và đàu tư
của mình theo hướng có lợi cho tăng trưở
ng kinh tế. Tăng lãi suất tiền gửi sẽ
làm tăng tỷ lệ tiết kiệm nội địa, thay thế được nguồn vốn đi vay nước ngoài để
tài trợ cho đầu tư. Nguồn vốn tiết kiệm được truyền tải qua hệ thống tải qua hệ
thống tài chính ngân hàng chính thức , mà không phải qua thị trường tiền tệ
không chính thức. Tiết kiệm trong nước tăng lên và mức lãi suất th
ực cao làm
mở rộng đầu tư và tăng hiệu quả đầu tư.Kết quả tạo ra một tỷ lệ tăng trưởng
rộng hơn.

17
Quan điểm tự do hoá lãi suất đối với việc kích thích tiết kiệm nội địa ở
trên còn rất nhiều tranh cãi và ý kiến khác nhau.Trong khi đó vai trò của tự do
hoá lãi suất mang lại sự cải thiện việc phan bổ tín dụng và cải thiện hiệu quả
đầu tư lại được thống nhất cao. Điều này là rất cơ bản để đảm bảo cho nền kinh
tế tăng trưỏ
ng bền vững.
2. Những hạn chế của việc tự do hoá lãi suất đối với các nước đang phát
triển
Tự do hoá lãi suất là mục tiêu của chính sách tiền tệ, song với các quốc gia
đang phát triển việc ngay lập tức từ thái cực này - kiềm chế sang thái cực khác

giảm tăng trưởng kinh tế.

III. KINH NGHIỆM THẾ GIỚI TRONG VIỆC THỰC HIỆN TỰ DO HOÁ LÃI
SUẤT.

Sự ra đời của lý thuyết tự do hoá tài chính mà một trong những nội dung
cơ bản là tự do hoá lãi suất đã tạo ra trào lưu tự do hoá lãi suất trên thế giới.
Bên cạnh một số nước đã thực hiện thành công như Đài Loan, Singapore, lại có
hàng loạt nước đã rơi vào khủng hoảng như Phillipine, Chille, Achentina Tuy
nhiên, tự do hoá lãi suất vẫn là mục tiêu cần đạt tới, không chỉ vì những ưu
điể
m lý thuyết của nó, mà là tính hiệu quả của các nền kinh tế thị trường phát
triển ở đó lãi suất dược tự do hoá .
Kiểm soát lãi suất rất phổ biến ở hầu hết các nước châu á trước những
năm 80. Những hạn chế thường áp đặt dưới dạng quy định trần lãi suất đối với
tiền gửi và cho vay của các ngân hàng thương mại ;các tổ chức tài chính phi
ngân hàng ít chịu các hạ
n chế này hơn. Việc áp đặt này là nhằm mục đích cung
cấp vốn với chi phí thấp để khuyến khích đầu tư, đặc biệt là những lĩnh vực ưu
tiên và để tránh tình trạng lãi suất tăng quá mức, điều được coi là rất khó chấp
nhận về mặt chính trị và xã hội.
Tuy nhiên, việc kiểm soát như vậy đã làm giảm vai trò trung gian tài
chính của các ngân hàng khi những người tiết kiệm và nhữ
ng nhà đầu tư tìm

19
cách khác ngoài thị trường tài chính chính thức. Do vậy, thị trường ngoài kiểm
soát và trung gian phi ngân hàng phát triển mạnh dẫn đến sự kém hiệu quả
trong kiểm soát tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. Cơ chế kiềm chế này hạn
chế việc chuyển tải vốn tới các hoạt động có hiệu quả nhất, làm méo mó và

dẫn tới khủng hoảng và tình trạng vô chính phủ. Tự do hoá phải tiến hành từng
bước, gắn liền với đổi mới kinh tế , với tự do hoá các lĩnh vực khác, với củng
cố hành lang pháp lý, nhận thức của nhân dân , trình độ quản lý nền kinh tế và
cả với thói quen và truyền thống của dân tộc. CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA VIỆT NAM
I. BỐI CẢNH CHUNG
Năm 1988 là năm mở đầu thời kì chuyển hướng từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Với cơ
chế kinh tế mới, tất cả các tổ chức kinh tế được tự chủ về tài chính, sản xuất,
kinh doanh và tung ra hoạt động theo cơ chế thị trường.
Phối hợp với xu h
ướng của hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu chuyển
đổi. Đặc trưng của quá trình này là: Tách hệ thống ngân hàng từ một cấp sang
hai cấp.
- Ngân hàng nhà nước ( NHNN ): Thực hiện nhiệm vụ phát hành tiền, quản
lý vĩ mô hoạt động ngân hàng.

21

tiền cung ứng đủ, vừa đảm bảo phương tiện lưu thông sản xuất không bị ách tắc
vừa kiềm chế lạm phát.

22
Kết quả được minh hoạ qua bảng sau :

Năm 1989 1990 1991 1992 1993 1994
Chỉ số lạm phát 34.7% 67.5% 68% 17.5% 5.2% 14.4%
Chỉ số phát triển
kinh tế
6.8% 5.1% 6% 8.3% 8% 8.5-9%

Hệ thống các tổ chức tín dụng phát triển đa thành phần theo pháp lệnh
ngân hàng và hoạt động ngày càng có hiệu quả. Hệ thống ngân hàng thương
mại QD đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống các tổ chức tín dụng. Hoạt động
kinh doanh tiền tệ, vàng bạc đá quý ngày càng được mở rộng.
Sau khi tổng kết và đánh giá đến tháng 10/1998, hai pháp lệnh ngân hàng
cũ đã được thay thế bằng hai luật ngân hàng mới. Luật ngân hàng nhà n
ước và
luật các tổ chức tín dụng và ngân hàng đã được xây dựng trên cơ sở kế thừa hai
pháp lệnh và phản ánh kịp thời những thay đổi lớn lao trong lĩnh vực ngân
hàng. i. CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM :
1. Trước tháng 3/1989:
Là thời kì điều hành theo cơ chế lãi suất âm
Tuy từng thời gian ngân hàng nhà nước có điều chỉnh lãi suất, nhưng do
lạm phát phi mã, lãi suất luôn trong tình trạng âm. Điều này có nghĩa là:
- Lãi suất tiền gửi thấp hơn mức lạm phát.

- Chuyển lãi suất âm qua lãi suất dương, tức là lãi suất tiền gửi cao hơn lạm
phát, lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, xử lý hài hoà lợi ích người
gửi tiền người vay vốn và tổ chức tín dụng.

24
- Hệ thống lãi suất còn phức tạp, còn nhiều mức lãi suất tiền gửi và tiền vay:
Đối với ngành kinh tế (công, nông, thương nghiệp) có mức lãi suất riêng ;
Đối với các thành phần kinh tế (quốc doanh, ngoài quốc doanh) còn phân
biệt lãi suất.
- Mức thực dương phi thực tế (năm 1991 – lãi suất thực 25,6% ; năm 1992 –
17,9%) đã kích thích nạn đầu cơ tiền tệ, khan hiếm tiền mặt trong lưu thông
và làm tê li
ệt hoạt động tín dụng đầu tư phát triển.
3. Từ 1/10/1993:
Ngân hàng nhà nước vừa áp dụng lãi suất trần (cho vay) vừa áp dụng lãi
suất thoả thuận.
a) Trần : Cho vay doanh nghiệp nhà nước 1,8%/tháng ; Kinh tế ngoài quốc
doanh 2,1%/tháng.
b) Thoả thuận : Trường hợp ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay
theo lãi suất quy định phải phát hành kì phiếu với lãi suất cao hơn thì được
áp dụng lãi suất tho
ả thuận.
Trên thực tế khoảng 30-60% tổng dư nợ lúc bấy giờ là từ các khoản cho
vay bằng lãi suất thoả thuận mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ nông
dân với lãi suất 2,3-3,5%/tháng. Với cơ chế lãi suất thoả thuận, có thể hiểu là đủ
tự do hoá một phần lãi suất, hoặc đó là cơ chế cho vay với lãi suất cứng đi đôi
với một biên độ dao động nhất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status