TRƯỜNG
KHOA LUẬN VĂN Quy trình đấu thầu mua
sắm thiết bị của Tổng Công
ty Dầu khí Việt Nam
1
LỜI NÓI ĐẦU Từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới toàn diện, nền
kinh tế Việt Nam mở cửa hoà nhập với thế giới và khu vực. Chính sách này
giúp Việt Nam thu được nhiều lợi ích kinh tế - xã hội, kinh nghiệm quản lý,
trình độ khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trên thế giới.
quan, đúng đắn và hiệu quả. Để hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt
động đấu thầu, ngày 1/9/1999, Chính phủ đã ra Nghị định 88/CP (ban hành
kèm theo quy chế đấu thầu) thay thế cho quy chế đấu thầu trước đó. Nghị
định số 14/CP ngày 5/5/2000 ra đời nhằm sửa chữa, bổ sung một số điều của
quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/CP. Tuy văn bản pháp
quy có nhiều thay đổi, bổ sung cho phù hợp song việc áp dụng quy chế đấu
thầu ở Tổng công ty DKVN vẫn còn một số nhược điểm cần khắc phục.
Vì vậy, đề tài “Quy trình đấu thầu mua sắm thiết bị của Tổng Công ty
Dầu khí Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu để ít nhất cũng có thể rút ra
một vài ý kiế
n trả lời cho câu hỏi : Làm thế nào để hoạt động đấu thầu mua
sắm thiết bị đạt hiệu quả cao, phù hợp với đặc điểm riêng của ngành dầu khí,
đáp ứng đòi hỏi trước mắt và sự phát triển trong tương lai của ngành dầu khí
?.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: trên cơ sở phân tích thực trạng quy
trình đấu thầu quốc tế mua sắm thiết b
ị ở Tổng công ty DKVN, thấy được
tồn tại để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động
đấu thầu quốc tế phù hợp với đặc điểm riêng của ngành.
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận chủ yếu nêu một số lý luận chung
về đấu thầu quốc tế, quy trình đấu thầu quốc tế mua sắm thiết b
ị ở Tổng
công ty DKVN trong 3 năm gần đây (1999-2001), những thuận lợi và tồn tại
của quy trình này. Nêu ra phương hướng của Tổng công ty trong những năm
tới và các biện pháp nhằm hoàn thiện quy trình đấu thầu quốc tế của Tổng
công ty.
Khoá luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp diễn giải và phân
tích.
CHƯƠNG I
4
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẤU THẦU QUỐC TẾ
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẤU THẦU QUỐC TẾ
1. Khái niệm
Đấu thầu quốc tế là một phương thức giao dịch đặc biệt, trong đó
người mua (người gọi thầu) công bố trước các điều kiện mua hàng để người
bán (tức người dự thầu) báo giá cả và các điều kiện thanh toán. Sau đó,
người mua sẽ chọn mua của người bán nào đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của
mình.
Theo quy chế đấu thầu do Chính phủ n
ước CHXHCN Việt Nam ban
hành kèm theo Nghị định 88/CP ngày1/9/1999, mục tiêu của công tác đấu
thầu là nhằm thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá
trình đấu thầu để lựa chọn nhà thầu phù hợp, bảo đảm hiệu quả kinh tế của
dự án.
Đấu thầu quốc tế là một trong những hình thức giao dịch có hiệu quả
trong thương mại quốc tế. Hoạt động đấu thầu quốc tế
thường được diễn ra
trong một số lĩnh vực như xây dựng, xây lắp, mua sắm vật tư, nhập khẩu
thiết bị của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh
tế Trong kinh doanh quốc tế hiện đại, hoạt động đấu thầu quốc tế ngày
càng được áp dụng phổ biến bởi tính hiệu quả cao của nó. Đấu thầu quốc tế
được nhìn nhận là một công nghệ hiện đại, một điều kiện thiết yếu đảm bảo
phát thanh, truyền hình và trong thư mời thầu.
2.2- Đối tượng mua bán không nhất thiết là hàng hoá có sẵn mà mua
bán dựa vào tiêu chuẩn kỹ thuật, có thể là hàng hoá hữu hình hay dịch
vụ
Nhà thầu có thể biết tiêu chuẩn về kỹ thuật của hàng hoá mà bên mời
thầu yêu cầu khi nhận được hồ sơ mời thầu. Các yêu cầu về kỹ thuật của
hàng hoá trong thư mời thầu thường rất chi tiết thể hiện rõ mặt hàng trong
đấu thầu thường có quy cách phẩ
m chất phức tạp, giá trị cao.
Đấu thầu không chỉ áp dụng trong mua sắm hàng hoá hữu hình mà
còn trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ. Trong ngành dầu khí, do đặc điểm
riêng của ngành nên lĩnh vực này rất được quan tâm. Công ty dịch vụ kỹ
thuật dầu khí thuộc Tổng công ty DKVN chuyên cung cấp các dịch vụ khác
nhau từ đơn giản đến phức tạp như dịch vụ tàu thuyền, dịch vụ trực thă
ng,
bảo hiểm, dịch vụ chống dầu tràn, cung cấp lao động kỹ thuật cao, cho thuê
văn phòng
6
2.3- Trong đấu thầu chỉ có một người mua nhưng có nhiều người bán
và giá thành là giá thấp nhất (giá sàn)
Đây là đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động đấu thầu. Đấu thầu thực
sự đem lại lợi ích cho người mua vì nó tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt, khách
quan và công khai giữa các nhà thầu có năng lực. Các nhà thầu muốn trúng
thầu thì phải tính toán đưa ra giá thấp nhất. Tất nhiên giá cả
không phải là
yếu tố duy nhất quyết định thắng thầu vì còn nhiều yếu tố khác như tiêu
chuẩn kỹ thuật, chất lượng, quan hệ làm ăn giữa hai bên. Thực tế, người
thắng thầu không phải là người đưa ra giá thấp nhất mà là người có uy tín
trong các lần quan hệ làm ăn trước đây.
đẳng cho các nhà kinh doanh từ các quốc gia khác nhau trong việc tổ chức,
thực hiện hợp đồng. Đồng thời, đấu thầu quốc tế cũng giúp cho các nhà đầu
tư mua
được những thiết bị với giá rẻ, đạt yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật và
các điều kiện khác. Như vậy, đấu thầu quốc tế đem lại lợi ích cho các bên
tham gia.
Từ khi Việt Nam mở cửa hoạt động ra thị trường quốc tế, đầu tư vào
nước ta tăng lên, xuất hiện đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầ
ng, mua sắm
thiết bị Trong khi đó nước ta là một nước đang phát triển, nhu cầu đầu tư
nhiều mà nguồn vốn lại có hạn. Như vậy, nếu áp dụng hình thức đấu thầu thì
chúng ta có thể tiết kiệm trong sản xuất, đầu tư. Hơn nữa, nước ta đang thực
hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, việc tiết kiệm vốn và đầu tư
có hiệu quả là một đòi hỏi thiết yếu.
Kể từ khi nước ta chủ trương xây dựng một kinh tế thị trường có
khuynh hướng XHCN thì việc áp dụng phương thức đấu thầu ngày càng phổ
biến và tỏ ra rất phù hợp với những đòi hỏi thực tế. Không những thế, đấu
thầu còn khẳng định tính ưu việt của cơ chế thị trường. Tr
ước kia, trong cơ
chế quản lý tập trung chỉ có duy nhất hình thức chỉ định thầu tồn tại. Bản
chất của chỉ định thầu là doanh nghiệp phải thực hiện công việc Nhà nước
giao. Điều này dẫn tới doanh nghiệp gặp khó khăn khi thực hiện công việc
đó hoặc sự độc quyền của doanh nghiệp. Kể từ khi nền kinh tế nước ta vận
hành theo cơ
chế thị trường, cơ chế quản lý mới đã thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển của mọi thành phần kinh tế, cạnh tranh trở nên gay gắt hơn.
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng của cơ chế thị trường. Không có
cạnh tranh sẽ không có nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường vận
hành phải tuân thủ theo những quy luật khách quan riêng, trong đó có quy
luậ
chính có hiệu quả và tăng cường các lợi ích kinh tế xã hội khác. Đấu thầu
quốc tế là cơ sở để đánh giá khả năng của các đơn vị cơ sở, các đối tác nước
ngoài, ngăn chặn được các biểu hiện tiêu cực, sự thiên vị, móc ngoặc riêng
làm mất đi tính cạnh tranh trong kinh doanh.
Đồng thời, thông qua đấu thầ
u quốc tế mà đất nước thu được những
công nghệ mới, hệ thống trang thiết bị, máy móc hiện đại, học hỏi kinh
nghiệm quản lý tiên tiến, những kiến thức về kỹ thuật, tư vấn của các chuyên
gia, đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
9
Đối với chủ đầu tư: áp dụng đấu thầu quốc tế là phương thức thích
hợp để lựa chọn các nhà thầu có năng lực nhất đáp ứng các yêu cầu về kỹ
thuật đặt ra đồng thời cũng có được giá thành và điều kiện tín dụng hợp lý
nhất. Đấu thầu chống tình trạng độc quyền của các nhà thầu. Chủ đầu tư
giảm được giá vốn đầu tư do có s
ự cạnh tranh giữa các nhà thầu. Thực tế,
giá chào thầu của các nhà thầu chênh nhau từ 30-40% trên cùng một mặt
bằng kỹ thuật. Do vậy, các đơn vị trúng thầu có giá trúng thầu giảm từ 20-
30% so với các đơn vị chào thầu cao nhất và giảm từ 10-15% so với giá
chào ban đầu của chính đơn vị trúng thầu. Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư
có thể chọn được thiết bị công nghệ tiên tiến, đảm b
ảo yêu cầu kỹ thuật.
Công nghệ và kỹ thuật là điều kiện tiên quyết đảm bảo khả năng trúng thầu
cho các nhà thầu. Ngoài ra, thông qua việc tham khảo ý kiến của các nhà
thầu, các chủ đầu tư còn thu được những thông tin hữu ích cho việc đầu tư,
xây dựng các tiêu chuẩn tối ưu trong hồ sơ mời thầu.
Đối với nhà thầu:
đấu thầu quốc tế là hình thức bảo đảm công bằng và
như quy chế đấu thầu của FIDIC, WB, ADB Mỗi bản quy chế đấu thầu
đều có những nguyên tắc riêng phù hợp với mục đích của mình. Nhưng nhìn
chung các nguyên tắc đấu th
ầu quốc tế chủ yếu như sau:
1.1- Nguyên tắc cạnh tranh công khai với điều kiện ngang nhau
Mỗi cuộc đấu thầu đều phải được thực hiện với sự tham gia của một
số nhà thầu có đủ năng lực để hình thành một cuộc cạnh tranh mạnh mẽ.
Điều kiện đặt ra với các đơn vị ứng thầu (dự thầu) và thông tin cung cấp cho
họ phải ngang nhau, nhất thiết không có sự phân biệt đố
i xử.
1.2- Nguyên tắc dữ liệu đầy đủ
Các nhà thầu phải nhận được đầy đủ tài liệu đấu thầu với các thông tin
chi tiết rõ ràng và có hệ thống về quy mô, khối lượng, quy cách, yêu cầu
chất lượng, tiến độ và điều kiện thực hiện công trình. Điều này có nghĩa là
chủ công trình phải nghiên cứu, tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng để tiên liệu
chính xác về mọi yếu tố có liên quan
đến công trình, tránh tình trạng chuẩn
bị sơ sài, tắc trách.
1.3- Nguyên tắc đánh giá công bằng
Các hồ sơ dự thầu phải được đánh giá một cách không thiên vị theo
cùng một chuẩn mực và được đánh giá bởi một Hội đồng xét thầu có đủ tư
cách và năng lực. Lý do để "được chọn" hay "bị loại" đều được giải thích
đầy đủ tránh sự ngờ vực.
1.4- Nguyên tắc trách nhiệm phân minh
11
Không chỉ các nghĩa vụ và quyền lợi của các bên liên quan được đề
cập và chi tiết hoá trong hợp đồng mà phạm vi trách nhiệm của mỗi bên ở
lực xã hội.
Trước hết đối với chủ đầu tư, căn cứ vào kết quả đấu thầu, chủ thầu
chọn lựa nhà thầu có đủ năng lực đáp
ứng các yêu cầu của mình về kỹ thuật,
trình độ thi công, bảo đảm kế hoạch tiến độ và giá cả hợp lý.
12
Đối với nhà thầu, đấu thầu đảm bảo tính công bằng giữa các nhà thầu
ở mọi thành phần kinh tế. Do phải cạnh tranh với nhau cho nên mỗi nhà thầu
đều phải cố gắng tìm tòi và đổi mới những kỹ thuật công nghệ tiên tiến, có
trách nhiệm cao với dự án, các loại vật tư thiết bị được đem chào với mức
giá có tính cạnh tranh cao hơn.
* Bảo lãnh dự thầu (đặt cọ
c dự thầu)
Nhà thầu phải nộp tiền bảo lãnh dự thầu cùng với hồ sơ dự thầu. Tiền
bảo lãnh dự thầu bằng từ 1-3% tổng trị giá ước tính giá bỏ thầu. Trong một
số trường hợp, bên mời thầu có thể quy định mức nộp tiền bảo lãnh thống
nhất để bảo đảm bí mật về mức giá dự thầu cho các nhà thầu. Bên mời thầu
quy định hình thức, điều kiện và ngân hàng bảo lãnh dự thầu. Tiền bảo lãnh
dự thầu được trả lại cho các nhà thầu không đạt kết quả sau khi công bố
trúng thầu không quá 30 ngày kể từ ngày công bố. Nhà thầu không được
nhận lại tiền bảo lãnh dự thầu trong các trường hợp:
+Trúng thầu nhưng từ chối thực hiện hợp đồng.
+Rút đơn thầu sau thời gian nộp thầu.
+Do vi ph
ạm nghiêm trọng các quy định trong quy chế đấu thầu.
Sau khi nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng, đơn vị trúng thầu được
hoàn trả tiền bảo lãnh dự thầu.
* Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (đặt cọc thực hiện hợp đồng)
2.1.2- Đấu thầu xây dựng công trình (Tender for Works)
Là hình thức đấu thầu thực hiện những công việc thuộc quá trình xây
dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình. Trong loại hình
đấu thầu này các tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu (giá cả, kỹ thuật, tiến
độ, uy tín) được coi trọng hơn cả, người có giá chào thấp nhất chưa chắc đã
là người giành được hợp đồng. Cũng trong loạ
i hình đấu thầu nói trên người
ta đề cao vai trò của người tư vấn, của vấn đề bảo lãnh thực hiện hợp đồng,
bảo hành công trình. Do các công trình xây dựng có thể có giá trị rất lớn, vì
thế việc quản lý cũng chặt chẽ hơn, tổ chức tốt hoạt động đấu thầu quốc tế sẽ
mang lại một khoản tiền tiết kiệm rất đáng kể
cho chủ đầu tư. 2.1.3- Đấu thầu tuyển chọn tư vấn (Tender for Consulting Services)
Là hình thức đấu thầu nhằm mục đích đáp ứng các yêu cầu về kiến
thức, kinh nghiệm chuyên môn cho Bên mời thầu trong việc xem xét, quyết
định, kiểm tra quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án. Trong một số công
trình, dự án, các dịch vụ tư vấn được tính chung vào giá công trình, còn đại
14
bộ phận chúng được tách thành các hợp đồng riêng biệt (hợp đồng thiết kế,
hợp đồng thuê chuyên gia ).
Do tính chất đặc biệt của dịch vụ tư vấn nên người ta thường coi trọng
kinh nghiệm và năng lực nhà thầu hơn là giá cả. điều này được thể hiện rõ
trong điều 20 mục 8 và 9 của Quy chế đấu thầu 88/1999.
2.1.4- Đấu thầu dự án hoặc đấu thầu lự
a chọn đối tác thực hiện dự án
(Tender for project)
Loại đấu thầu này cũng rất hay gặp ở Việt Nam và các nước trên thế
thiểu là 5) có khả năng đáp ứng các yêu cầu của người gọi thầu. Hình thức
này áp dụng với các công trình có quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp,
danh sách nhà thầu tham dự phải được cấp có thẩm quyền quyết định. Hình
thức này chỉ được xem xét áp dụng khi có mộ
t trong các điều kiện sau:
+Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói
thầu.
+Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế.
+Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế.
Hình thức này có ưu điểm là các nhà thầu tham gia đấu thầu là những
người thực s
ự có đủ năng lực về mọi mặt, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của
chủ đầu tư. Công tác tổ chức đấu thầu cũng tốn ít thời gian và chi phí hơn so
với tổ chức đấu thầu rộng rãi. Tuy nhiên, do hạn chế số lượng nhà thầu nên
cũng hạn chế một phần sự đa dạng trong cạnh tranh giữa các nhà thầu. Đây
là hình thức đượ
c áp dụng ở nhiều ngành, địa phương do vậy hiệu quả đạt
được không cao, đây cũng là kẽ hở dễ tạo ra hiện tượng tiêu cực. Trong 6
tháng đầu năm 2000, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện tổng số 213 gói
thầu trong đó có 54 gói thầu hạn chế, 156 gói thầu chỉ định thầu, 3 gói tự
thực hiện.
2.2.3- Chỉ định thầu (single bidding)
Chỉ định thầu là hình thức chọn trự
c tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu
của gói thầu để thương thảo hợp đồng. Bên mời thầu chỉ thương thảo hợp
đồng với một số nhà thầu do người có thẩm quyền quyết định đầu tư chỉ
định. Hình thức này chỉ được áp dụng trong các trường hợp đặc biệt sau đây:
+Trường hợp bất khả kháng do thiên tai dịch hoạ, được phép chỉ
định
ngay đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời. Sau đó phải báo
trước đó.
2.2.6- Tự thự
c hiện
Hình thức này chỉ được áp dụng với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủ
năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy định tại khoản 3, điều 4 của quy
chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/CP (ngoài phạm vi quy định
tại điều 63 của quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng).
2.2.7- Mua sắm đặc biệt
Hình thức này được áp dụng đối v
ới các ngành hết sức đặc biệt mà
nếu không có những quy định riêng thì không thể đấu thầu được. Cơ quan
17
quản lý ngành phải xây dựng quy trình thực hiện đảm bảo các mục tiêu của
Quy chế đấu thầu và có ý kiến thoả thuận của Bộ Kế hoạch và đầu tư để
trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
2.3- Căn cứ vào phương thức áp dụng
Theo điều 5 quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/CP
(1/9/1999) bao gồm 3 phương thức đấu thầu.
2.3.1- Đấu thầu một túi hồ sơ (một phong bì )
Khi dự thầu theo phương thức này, nhà thầu cần nộp các đề xuất về kỹ
thuật, tài chính, giá bỏ thầu và những điều kiện khác trong một túi hồ sơ
chung. Phương thức này đượ
c áp dụng với đấu thầu mua sắm hàng hoá và
xây lắp.
2.3.2- Đấu thầu hai túi hồ sơ (2 phong bì)
Khi dự thầu theo phương thức này, nhà thầu cần nộp những đề xuất về
kỹ thuật và đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời
điểm. Túi hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh giá, xếp
1. Thành lập tổ chuyên gia giúp việc đấu thầu
1.1- Nguyên tắc
Chỉ thành lập tổ chuyên gia hoặc tư vấn giúp việc cho bên mời thầu
đối với các dự án không có đấu thầu tuyển chọn tư vấn. Trường hợp có yêu
cầu thuê tư vấn (thay cho chỉ định chuyên gia giúp việc), nếu có chi phí từ
500 triệu trở lên, bên mời thầu phải tổ chức đấu thầu.
1.2- Chỉ định tổ chuyên gia hoặc thuê tư
vấn
Tổ chuyên gia hoặc tư vấn giúp việc cho bên mời thầu được thành lập
hoặc thuê có nhiệm vụ sau:
+Chuẩn bị các tài liệu pháp lý, soạn thảo hồ sơ mời thầu;
+Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu;
+Phân tích, đánh giá, so sánh, xếp hạng các hồ sơ dự thầu theo đúng
tiêu chuẩn chuyên môn và các yêu cầu đặt ra trong hồ sơ mời thầu;
+Tổng hợp, chuẩ
n bị hồ sơ kết quả đấu thầu, báo cáo chủ đầu tư xem
xét.
1.3- Cơ cấu chuyên gia hoặc tư vấn
+Thành viên hoặc nhóm thành viên chịu trách nhiệm về các vấn đề
công nghệ kỹ thuật.
+Thành viên hoặc nhóm thành viên chịu trách nhiệm về các vấn đề
kinh tế, tài chính.
19
+Thành viên hoặc nhóm thành viên chịu trách nhiệm về các vấn đề
pháp lý (nếu có) và các vấn đề khác.
1.4- Năng lực chuyên gia
+Có trình độ chuyên môn liên quan tới gói thầu
+Am hiểu nội dung cụ thể của gói thầu
+Có kinh nghiệm trong công tác quản lý thực tế và nghiên cứu
+Có quy mô và trình tự hợp lý và đảm bảo tính đồng bộ của dự án.
+Phù hợp với công nghệ, tính chất hoặc trình tự thực hiện dự án
+Chủ đầu tư không phân chia dự án thành các gói thầu quá nhỏ làm
tăng chi phí đấu thầu.
2.1.2- Giá gói thầu và nguồn tài chính
Khi xác định giá của từng gói thầu, chủ đầu tư đặt mình vào vị trí của
nhà thầu và dễ dàng tìm hiểu, đàm phán với các nhà thầu về các phương án
do nhà thầ
u kiến nghị. Giá dự kiến của bên mời thầu có thể được thông báo
trước hoặc giữ kín tuỳ theo thủ tục xét chọn của bên mời thầu. Giá dự kiến
của từng gói thầu không được vượt quá giá dự toán (nếu gói thầu là một
hạng mục) và tổng giá trị các gói thầu không được vượt tổng mức đầu tư
hoặc tổng mức dự toán đã được phê duyệt.
2.1.3- Hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức đấu thầu áp dụng
đối với từng gói thầu
Hình thức đấu thầu mở rộng đang được khuyến khích áp dụng. Hình
thức đấu thầu hạn chế chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt.
Bên mời thầu phải giải thích lý do và đề xuất danh sách các nhà thầu có khả
năng tham gia. Đối với các gói thầu nh
ỏ, đơn giản nên vận dụng theo các
phương thức thích hợp như đấu thầu một túi hồ sơ, chào hàng cạnh tranh,
mua sắm trực tiếp 2.1.4- Thời gian tổ chức đấu thầu cho từng gói thầu
Thời hạn nộp thầu cần được quy định hợp lý nhằm tạo điều kiện cho
các nhà thầu kịp chuẩn bị hồ sơ dự thầu.
2.1.5- Lo
ại hợp đồng cho từng gói thầu
Thông thường có ba phương thức thực hiện hợp đồng trong đấu thầu.
2.1.6- Thời gian thực hiện hợp đồng
Thời gian thực hiện gói thầu là thời gian hoàn thành công việc của gói
thầu. Thời gian thực hiện hợp đồng được xác định dựa trên cơ sở kế hoạch
tiến độ của dự án. Thờ
i gian thực hiện hợp đồng tính từ ngày hợp đồng được
hai bên ký kết cho đến khi ký kết hoàn thành bàn giao.
2.2- Một số yêu cầu về quy mô và chia gói hợp đồng
+Trong đấu thầu quốc tế, quy mô của hợp đồng phải thu hút cạnh
tranh quốc tế.
+ Chỉ áp dụng với hợp đồng chìa khoá trao tay nếu cần thiết.
22
+Các gói thầu phải phù hợp với các yêu cầu về thời gian biểu của dự
án.
3. Mời thầu
Việc mời thầu giúp các nhà thầu tham gia quyết định xem có nên
tham gia hay không và phải được phân phối với nội dung của các hồ sơ đấu
thầu. Mục đích của việc mời thầu là nhằm bảo đảm cạnh tranh tối đa và cơ
hội bình đẳng cho tất cả các nhà thầu. Mời thầu bao gồm những nội dung
sau:
+ Xác định chính thức cơ quan đấu thầu.
+ Nguồ
n tài trợ.
+ Mô tả các loại hàng hoá, gói thầu sẽ được đấu thầu.
+ Địa chỉ cơ quan đấu thầu.
+ Thông tin về cách nhận hồ sơ dự thầu và chi phí của tập hồ sơ.
+ Loại về lượng tiền bảo lãnh cần có.
+ Nơi và hạn cuối cùng nộp hồ sơ dự thầu.
u
+ Thủ tục đánh giá hồ sơ dự thầu
+ Điều kiện trao đổi hợp đồng
+ Những thông tin khác có liên quan: Phạm vi đấu thầu, chi phí tham
gia đấu thầu, yêu cầu chất lượng thiết bị, điều kiện về giá thầu, thời hạn hiệu
lực của hồ sơ dự thầu, thủ tục trao hợp đồng
* Biểu giá:
là một văn bản trong hồ sơ mời thầu mà bên mời thầu gửi cho
các nhà thầu. Trong biểu giá cần làm rõ: cơ cấu giá trị, giá đơn vị, giá đấu
thầu toàn bộ, xuất xứ hàng hoá mà các nhà thầu xin cung ứng theo hợp đồng.
Cơ cấu giá bao gồm: giá xuất xưởng, giá cung ứng tại nơi tiêu thụ,
thuế doanh thu và các loại thuế khác nếu trúng thầu. Giá do người thầu báo
là giá cố định trong suốt thời kỳ
đấu thầu thực hiện hợp đồng và sẽ không
thay đổi.
* Các điều kiện chung và điều kiện cụ thể của hợp đồng: nếu được áp dụng
tuỳ theo tính chất của từng dự án.
* Bảo lãnh dự thầu:
là một khoản tiền mà người đấu thầu phải nộp cho các
bên mời thầu nhằm bảo vệ người mua chống rủi ro về ứng xử của người đấu
thầu, đồng thời tăng cường trách nhiệm của người đấu thầu. Theo quy định
hiện nay, tiền bảo lãnh dự thầu bằng 1- 3% tổng giá trị ước tính giá thầu.
Còn theo thông lệ quốc tế là 2- 5% giá thầu. Trong một s
ố trường hợp, bên
mời thầu có thể quy định mức nộp tiền bảo lãnh thống nhất để đảm bảo về
mức giá dự thầu cho các nhà thầu. Bảo lãnh dự thầu được xác định bằng
đồng tiền trong hồ sơ đấu thầu hoặc theo hình thức khác. Bảo lãnh dự thầu
24
của người không trúng thầu sẽ được trả lại trong thời gian không quá 30
Thông báo mời thầu chỉ được áp dụng trong trườ
ng hợp đấu thầu rộng
rãi. Nội dung thông báo mời thầu được phát hành rộng rãi nhằm cung cấp
thông tin ban đầu cho các nhà chuẩn bị tham gia đấu thầu. Bên mời thầu
phải tiến hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu