LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Lạm phát và các giải pháp chống lạm
phát ở nước ta hiện nay
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay
gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh
tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn
đề của nền kinh tế mới. Một trong những vấn đề kinh tế nổi cộm hiện nay là
lạm phát. Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một
vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể
p
= ∑ip . d
d: chỉ số giá cả từng loại nhómhàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng.
1.2. Phân loại lạm phát
- Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát
dưới 10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối.
Trong thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người lao
động ổn định. Sự ổn định đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất
tiền gửi không cao, không xảy ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá
với số lượng lớn…
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý cho người lao động chỉ trông
chờ vào thu nhập. Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoảng thu
nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
2
- Lạm phát 2 con số : Lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh
với tỷ lệ 2 con số 1 năm. Ở mức 2 con số, lạm phát làm cho giá cả chung tăng
lên nhah chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá.
Lúc này người dâ tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao giờ
cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường. Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ
gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
- Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao
vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông
tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền lương thực
tế của người lao động bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin
không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động sản xuất
kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn. Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít khi xảy ra.
Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát triển
thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và trầm trọng
Trong cả hai trường hợp sẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi
phí. Về mặt trung hạn và dài hạn, điều đó dẫn tới cầu về hàng hoá và dịch vụ
tăng. Nếu cung không tăng tương ứng với cầu, thì việc dư cầu sẽ được bù đắp
bằng việc tăng giá. Tuy nhiên, giá cả sẽ không tăng ngay nhưng nó sẽ tăng
sau đó 2-3 năm. In tiền để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽ dẫn đến lạm phát
nghiêm trọng.
Ví dụ:
Năm 1966-1967, chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho
những chi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ
3% (năm 1967) đến 6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lượng thực tế (y) đạt mức
cân bằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định. Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P
cũng không đổi. Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ
tăng lên với tỷ lệ tương ứng. Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ. Đây là lý
do tại sao ngân hàng Trung ương rất chú trọng đến nguyên nhân này.
b) Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo)
4
Tăng cung tiền là nguyên nhân duy nhất dẫn đến việc tăng cầu về hàng
hoá và dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những
nhân tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu. Áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3
năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quá mức cung, song sản xuất vẫn không được
mở rộng hoặc do sử dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì
nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự gia tăng của cầu. Sự mất cân đối đó
sẽ được giá cả lấp đầy. Lạm phát do cầu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo
được ra đời từ đó. Chẳng hạn ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc là một chỉ số
có ích phản ánh lạm phát trong tương lai ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc
trên 83% dẫn tới lạm phát tăng.
c) Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy :
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lượng tăng thêm P
P
1
P
0
y*
y
0
y
AD
0
AD
1
E
0
E
1
ASSL
ASRL
P
P
1
P
- Cầu không đổi, giá cả tăng sản
lượng giảm xuống Y
0
- Y
1
AS
1
- AS
2
d) Lạm phát dự kiến
Trong nền kinh tế, trừ siêu lạm phát, lạm phát phi mã, lạm phát vừa
phải có xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong trường hợp
này tăng đều một cách ổn định. Mọi người có thể dự kiến được trước nên còn
gọi là lạm phát dự kiến.
6
P
2
P
1
PB
0
y*
để mua về mọi loại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu
trên thị trường hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao.
Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các chính phủ có
thể in thêm tiền để trang trải, lượng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên
nhân gây ra lạm phát. Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy
sinh, đòi hỏi phải in thêm một lượng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt.
Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát. Tuy
nhiên, chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay dân thông qua tín
phiếu. Lượng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có nguy cơ lạm
phát, nhưng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc lẫn
lãi) sẽ lớn đến mức cần phải in tiền để trang trải thì khả năng có lạm phát
mạnh là điều chắc chắn.
Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của Nhà nước, chính sách
thuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý. Các chủ thể kinh doanh làm
tăng chi phí đầu vào, nguyên nhân do nước ngoài.
1.4. Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hưởng khác
nhau đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ tương quan, trong một nền kinh tế
7
mà lạm phát được coi là nỗi lo của toàn xã hội và người ta có thể nhìn thấy tác
động của nó.
* Đối với lĩnh vực sản xuất
Đối với nhà sản xuất, tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra
biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự
mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hoá hoạt động hạch toán kinh doanh. Hiệu
quả kinh doanh - sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra
những xáo động về kinh tế. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận
thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.
* Đối với lĩnh vực lưu thông
2. Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
2.1. Thực trạng lạm phát của Việt Nam
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của công tác quản lý kinh
tế vĩ mô là việc tìm cách kiềm chế lạm phát. Thực ra không phải 10 gần đây
lạm phát mới xuất hiện ở Việt Nam mà từ năm 1980 về trước, lạm phát cũng
đã tồn tại, chỉ có điều biểu hiện của nó không rõ ràng, các nghị quyết của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đại hội V trở về trước không sử dụng khái niệm
lạm phát mà chỉ dùng cụm từ "Chênh lệch giữa thu và chi giữa hàng và
tiền…"; "Thị trường vật giá không ổn định…"
Lạm phát ở thời kỳ này là "lạm phát ngầm" nhưng chỉ số giá cả ở thị
trường tự do thì tăng cao, vượt xa mức tăng giá trị tổng sản lượng cũng như
thu nhập quốc dân.
Sau một thời kỳ "ủ bệnh" đã bột phát thành lạm phát công khai với mức
lạm phát phi mã cũng tăng giá ba chữ số. Đảng đã kịp thời nhận định tình
hình này.
"Chúng ta chưa có chính sách cơ bản về tài chính gắn liền với chính
sách đúng đắn về giá cả, tiền tệ, tín dụng. Các khoản chi ngân sách mang
nặng tính bao cấp và một thời gian dài vượt qua nguồn thu. Việc sử dụng vốn
vay và viện trợ kém hiệu quả. Tất cả những cái đó gây ra thâm hụt ngân sách
là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm phát trầm trọng".
9
Trong điều hành vĩ mô phát triển kinh tế, mọi quốc gia trên thế giới đều
phải quan tâm tới chính sách tài chính, tiền tệ, chống lạm phát. Đối với nước
ta hiện nay, kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả đang là một vấn đề lớn đặt ra
trong điều hành của chính phủ, của các cấp các ngành vì sự phát triển và ổn
định. Cho tới nay, Việt Nam đã thành công về phương diện này. Lạm phát đã
giảm từ hơn 700% một năm vào năm 1986 xuống còn chỉ 35% vào năm 1989.
Đây là một thành công lớn, phản ánh kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, như
tự do hoá nền kinh tế, áp dụng một tỷ giá hối đoái thực tế hơn, người dân
- Thời kỳ 1965-1975: ở miền Bắc Việt Nam chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà phải tiến hành một cuộc chiến tranh chống mỹ cứu nước, chống
chiến tranh phá hoại của Mỹ tại miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất
đất nước, đã phát hành số tiền lớn (gấp 3 lần tiền lưu thông của năm 1965 ở
miền Bắc) để huy động lực lượng toàn dân, đánh thắng đội quân xâm lược
Mỹ và tay sai ở cả hai miền. Nhưng nhờ có sự viện trợ to lớn và có hiệu quả
của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em đã hạn chế được lạm
phát trong thời gian này.
- Thời kỳ 1976 đến nay: Sau khi thống nhất đất nước, chúng ta thiếu
kinh nghiệm trong thời bình nên duy trì quá lâu cơ chế thời chiến tập trung
quan liêu bao cấp toàn diện, không mở rộng sản xuất hàng hoá. XHCN không
tiến hành hạch toán kinh doanh nên đã tự gây cho mình nhiều khó khăn, sản
xuất không đủ tiêu dùng, ngân sách không đủ chi tiêu, lạm phát tiền giấy liên
tục và bùng nổ dữ dội tới 3 con số. Nhưng kể từ năm 1999 đến nay với sự chỉ
đạo đúng đắn của Nhà nước thì lạm phát hiện nay chỉ còn dừng lại ở mức độ
tốt cho sự phát triển nền kinh tế tức là chỉ ở mức 15-17% có thể nói đây cũng
là một thành công không nhỏ của nhà nước ta.
Trong vài năm qua nền kinh tế Việt Nam có những nét có vẻ ngày càng
khởi sắc, chẳng hạn như tốc độ phát triển kinh tế đó từ 4.8% năm 1999 lên
đến trên 7% năm 2003, nhưng phân tích kỹ hơn ta thấy những đám mây mù
dường như đang kéo lại gần từ phía chân trời xa.
11
Sau cuộc khủng hoảng tài chính xảy ở châu Á năm 1997, Việt Nam chủ
trương chính sách kích cầu nhằm giảm bớt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
và bù lại mức giảm đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Ta thấy mức tăng đầu tư
nhanh chóng đưa lên từ tỷ lệ 27,6% GDP năm 1999 lên tới 35% GDP vào
năm 2003. Đây cũng là tỷ lệ đầu tư kỷ lục trên thế giới, thế nhưng do hiệu quả
sản xuất thấp vỡ chớnh sỏch đầu tư vẫn tập trung vào khu vực nhà nước, tốc
độ phát triển cũng chỉ đạt được 7,3% . Đầu tư cao nhưng khoảng 60%, tức là
Các nhà làm chính sách ở trong nước thỡ thay vỡ nhận chõn vấn đề lại
mở ra những cuộc tranh luận một cách vô nghĩa gần 6 tháng khi vào cuối năm
2003, mức tăng tín dụng, tiền và gần-như-tiền (quasi-money) lên tới mức báo
động từ 30 đến 40% (coi số liệu mới cung cấp cho IMF trong bảng đính kèm -
số liệu này rất khác số liệu đó cung cấp trước đây, cho phép ta tự hỏi về tính
chân thật của số liệu tiền tệ được coi là bí mật quốc gia này). Cuộc tranh luận
bắt đầu bằng việc đặt vấn đề là quyền số chi tiêu lương thực của hộ gia đỡnh
do Tổng cục Thống kờ dựng là khụng đúng do đó đưa tới chỉ số giá tăng cao
(tôi đó so sỏnh với nhiều nước và thấy quyền số này không có vấn đề). Cuộc
tranh luận chuyển sang việc tại sao lại gọi tăng giá là lạm phát? Tăng giá
không phải là lạm phát, có người đó cố lý luận như vậy.
Rồi có người lại đặt vấn đề là tăng giá hiện nay khác tăng giá năm
1980-1990 về bản chất vỡ tăng giá ở Việt Nam là do tăng giá xăng dầu từ
nước ngoài. Lý luận này cú vẻ cú lý, nhưng người lý luận không thấy rằng
mức dùng dầu xăng cho một đơn vị sản lượng và mức tiêu thụ xăng dầu ở
Việt Nam rất thấp so với Mỹ, thế tại sao Mỹ không có lạm phát ở mức 10% ?
Từ “lạm phỏt” là dịch của chữ inflation. Về chữ nghĩa thỡ “lạm phỏt” là
lạm phỏt in tiền. Do đó có thể lý luận một cách vô nghĩa rằng tăng giá không
nhất thiết là do lạm phát tiền. Nhưng lý thuyết tiền tệ đó chỉ ra rằng, tăng giá
nói cho cùng là vấn đề tăng tiền tệ. Nếu giá thành (như xăng dầu, sắt thép
nhập từ nước ngoài chẳng hạn) có tăng thỡ cỏc giá khác phải giảm nếu như
lượng tiền tệ và tín dụng không tăng. Việc giá đẩy giá (cost push) chỉ xảy ra
13
nếu ngân hàng trung ương cho phép nó xảy ra. Nhỡn vào tốc độ tăng tín dụng
ở Việt Nam, ta thấy rừ là tốc độ tăng đó ở mức rất cao và đang có chiều
hướng đi lên. Không thể in tiền, tung tín dụng kích cầu mói để đạt chỉ tiêu
phát triển cao. Cần nhanh chóng nhận định chính xác vấn đề để có chính sách
tiền tệ và tín dụng phù hợp. Hỡnh như chính phủ đó thấy vấn đề khi quyết
định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nhằm giảm mức tăng tín dụng. Nhưng đồng
đề ra biện pháp giảm mạnh tốc độ tăng cung tiền, cắt giảm mạnh mẽ chi tiêu
và kiểm soát có hiệu quả việc tăng lương danh nghĩa, chắc chắn sẽ chặn đứng
và đẩy lùi lạm phát.
+ Đối với lạm phát vừa phải, muốn kiềm chế và đẩy lùi từ từ xuống
mức thấp hơn cũng đòi hỏi áp dụng các chính sách nói trên. Tuy nhiên, biện
pháp này kéo theo suy thoái và thất nghiệp - một giá đắt- nên việc kiểm soát
chính sách tiền tệ và tài khoá trở nên phức tạp và đòi hỏi phải thận trọng.
Có thể xoá bỏ lạm phát hay không? Cái giá phải trả của việc xoá bỏ
hoàn toàn lạm phát không tương xứng với lợi ích đem lại của nó, vì vậy các
quốc gia thường chấp nhận lạm phát ở mức thấp và xử lý ảnh hưởng của nó
chỉ số hoá các yếu tố chi phí như tiền lương, giá vật tư, lãi suất… Đó là cách
làm cho sự thiệt hại của lạm phát là ít nhất.
Có nhiều áp lực buộc chính phủ phải tăng chi ngân sách, nhưng ngược
lại không mấy sức ép để tăng thêm thu nhập. Bội chi ở mức trên 6% so với
GDP năm 1995 và khoảng 6% năm 1996 đã được trang trải bằng vay nợ nước
ngoài và trong nước. Tuy nhiên, chính phủ sẽ có thể sẽ khó cưỡng lại cám dỗ
in thêm tiền một lần nữa khi việc phát hành trái phiếu gặp khó khăn. Khi tiền
viện trợ được rót vào, chính phủ sẽ thấy rằng nhiều dự án đòi hỏi phía Việt
Nam phải đồng tài trợ bằng tiền trong nước. Những đòi hỏi này rõ ràng sẽ làm
tăng thêm gánh nặng cho ngân sách vốn đã eo hẹp (trừ phi tìm được cách thúc
đẩy tích luỹ trong nước và kiểm soát được chi tiêu ngân sách) do đó có thể
tăng nhanh đầu tư mà không gây nên lạm phát.
15
Lĩnh vực tài chính - tiền tệ đạt tiến bộ đáng kể, nổi bật nhất là đã chặn
được nạn lạm phát cao, từng bước đẩy lùi lạm phát. Chỉ số hàng tiêu dùng và
dịch vụ giảm từ 67,4% năm 1993 xuống còn 17,5% năm 1994.
Năm 1995: 5,2%
Năm 1996: 14,4%; Năm 1997: 12,7%
Năm 1998: 4,5%; Năm 1999: 3,6%
hiện các giải pháp này khong nằm ngoài nội dung hoàn thiện chính sách lãi
suất.
Giảm hoặc rút bớt về một khối lượng tuyệt đối giấy bạc để thực hiện
biện pháp này, thông thường chính phủ và ngân hàng sử dụng các hình thức
thu hút vốn vào quỹ ngân hàng như sau:
+ Khuyến khích vào mở rộng tiền vốn ngân hàng (bao gồm cả gửi tiết
kiệm của nhân dân bằng cách nâng cao mức lãi suất gửi tiết kiệm vào ngân
hàng trên mức lạm phát, với sự sụt giá đồng bảng và chính sách bảo hiểm giá
trị đồng vốn gửi vào ngân hàng.
+ Phát hành công trái, trái phiếu và xổ số kiến thiết với quy mô mở
rộng và bằng những biện pháp hành chính cưỡng bức với người sản xuất, kinh
doanh trong việc mua công phiếu trái phiếu hoặc bằng những chế độ thưởng
hiện vật và giải cao, phòng giúp kích thích.
+ Thu hẹp khả năng thanh toán cuối cùng các hối phiếu hoặc kỳ phiếu
thương mại đói với ngân hàng thương mại thông qua việc hạn chế chiết khấu
và các chiết khấu và nâng cao tỷ lệ quỹ vốn lao động.
+ Ấn định giá hối đoái, hợp lý đồng bạc quốc gia theo chế độ một giá
hối đoái thực hiện nghiêm ngặt điều kiện quản lý ngoại hối, biện pháp này
cho phép ngân hàng nhà nước thu về một khối lượng tiền tệ đáng kể trên thị
trường tăng thu nhập ngân sách, đó là một cách để thấy và bù đắp một phần
thiếu hụt cán cân thu chi ngân sách.
+ Hạn chế và thu hẹp tín dụng ngân hàng nói chung, nhất là tín dụng do
hoạt động thương mại thuần tuý, hối đoái trong điều kiện sản xuất nhất là sản
xuất hàng tiêu dùng bị đình đốn. Song có thể gia tăng khối lượng tiêu dùng
17
ngắn hạn hướng vào sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu bằng số ngoại tệ thu
được qua xuất khẩu, cung ứng dịch vụ đối ngoại hoặc vay nợ, viện trợ.
- Với biện pháp này có thể giảm đi một khối lượng tiền tệ đáng kể do
việc buôn bán vòng vèo ăn chênh lệch giá và bấy lâu nay không sao kiểm soát
tốt hơn theo hướng đa dạng, tiết kiệm… Mọi người tiêu dùng đã tính toán
được các khoản chi tiêu không cần thiết. Nhà nước Việt Nam cho phép ngân
hàng quốc gia được xác định tỷ giá ngoại tệ xấp xỉ với thị trường tự do, biện
pháp này có tác dụng xoá bỏ hiện tượng đầu cơ vàng và ngoại tệ gây rối loạn
thị trường. Hiện nay Nhà nước cùng với ngân hàng TW đang tiến dần đến
điều chỉnh giá vàng và giá đô la theo mức giá cả của thị trường thế giới, đây
là một trong những kế hoạch hoà nhập kinh tế Việt Nam với thế giới.
d) Việc điều chỉnh giá cả và sự quản lý của Nhà nước
Tạo điều kiện phát triển nền kinh tế ngoài quốc doanh. Nhà nước cho
phép các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được kinh doanh trên nhiều
lĩnh vực. Hiện nay nền kinh tế nước ta có 5 thành phần kinh tế tham gia cùng
hoạt động. Pháp luật của Nhà nước đảm bảo các quyền lợi, quyền bình đẳng,
không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế. Nhiều thành phần kinh tế
cũng hoạt động tạo được sự cạnh tranh, gây sức ép với nhau buộc để đổi mới.
Việc mở rộng các thành phần kinh tế để giải quyết việc làm cho người lao
động. Mục tiêu cụ thể giảm tỷ lệ lạm phát xuống khoảng 30-40% năm 1994
và dưới 12% năm 1997 và năm 1996 lạm phát giảm xuống còn 3,6% năm
1999, nhưng có nghĩa lạm phát đã giảm xuống mà đến đầu năm 1998 lạm
phát đang dần dần tăng lên. Những thông tin gần đây về kiểm soát lạm phát
thời kỳ 1993-1997 đã được nói đến: "Nếu như năm 1992-1993 còn lạm phát ở
mức 70% mỗi năm thì năm 1994 đã kéo xuống 15%. Tính từ tháng 3 năm
1994 chỉ số giữa bình quân chỉ còn 0,5% (Việt Nam).
e. Hoạt động đối ngoại của Nhà nước
Nhà nước mở rộng quyền xuất nhập khẩu mở cửa biên giới khuyến
khích các nguồn nhập khẩu vào Việt Nam, đã làm cho thị trường ngày càng
phong phú, làm cho cung và cầu trở lên cân bằng hơn, việc nhập khẩu vào
19
Việt Nam còn có tác dụng gây sức ép với hàng hoá trong nước buộc họ phải
nâng cao chất lượng để đáp ứng thị hiếu của khách hàng, hoạt động nhập khẩu
để phát triển khoa học, giáo dục.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kinh tế học Samuelson
2. Trang Wep tham khảo
www. world bank.org.vn
www.IMF.org
www.ADB.org22
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
1. Lý luận chung về lạm phát 2
1.1. Khái niệm lạm phát: 2
1.2. Phân loại lạm phát: 2
1.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát 3
a) Lạm phát theo thuyết tiền tệ 3
b) Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo) 4
c) Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy 5
d) Lạm phát dự kiến 6
e) Các nguyên nhân khác 7
1.4. Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế 7
- Đối với lĩnh vực sản xuất 7
- Đối với lĩnh vực lưu thông 8
- Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng 8
- Đối với chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước 8