Tài liệu Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gia vị của của Việt Nam” - Pdf 95


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI
PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY
MẠNH XUẤT KHẨU GIA VỊ CỦA
CỦA VIỆT NAM
Giáo viên thực hiện : Vũ Tiến Dương
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Mạnh Hưng
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp

LỜI MỞ ĐẦU Hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đang là xu thế tất yếu
khách quan của thời đại. Việc hội nhập mang lại những cơ hội cũng như
những thách thức cho sự phát triển của các quốc gia, đặc biệt là những quốc
gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, các mặt
hàng xuất khẩu của Việt Nam nói chung và mặt hàng gia vị nói riêng đang
đứng trước sức ép cạnh tranh gay gắt với hàng hoá nước ngoài.
Sản xuất và xuất khẩu gia vị trong đó có hạt tiêu có ý nghĩa đáng kể
đối với xuất khẩu nông sản Việt Nam. Với tổng kim ngạch xuất khẩu các
loại gia vị gồm: hạt tiêu đen, quế, hồi, gừng, nghệ những năm 1999 - 2000 ở
mức 147 - 158 triệu USD/năm, Việt Nam đã thành một trong những nước

doanh
1
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SẢN XUẤT
VÀ XUẤT KHẨU GIA VỊ

1. Khái niệm, vai trò và tác dụng của gia vị.
Gia vị là mặt hàng buôn bán truyền thống trên thị trường thế giới.
Trong thời gian 5 năm qua, lượng buôn bán gia vị trên thế giới hàng năm
vượt 1.100 ngàn tấn với trị giá khoảng 2,3 - 2,6 tỷ USD. Gia vị được dùng
hầu hết các công đoạn của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, nhất là
ngành công nghiệp chế biến đồ hộp thịt, cá, đồ uống có cồn, bánh, kẹo và
các thực phẩm thích hợp khác. Ngoài ra, các loại gia vị còn được dùng rộng
rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, hương liệu, dược phẩm, các ngành
dịch vụ ăn uống và rất phổ biến trong tiêu thụ gia đình.
Tập quán sử dụng gia vị trong bữa ăn hàng ngày, chế biến các loại
bánh những mùa lễ hội cũng rất phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Ở các nước kinh tế phát triển, đời sống nhân dân đạt mức cao, nhu cầu
về lương thực, thực phẩm đã đến mức bão hoà, nhưng nhu cầu về chất gia vị
trong bữa ăn mỗi gia đình ngày càng tăng. Một thí dụ gần đây nhất là: tháng
6 - 2003, vụ thu hoạch hạt tiêu của Inđônêxia dự kiến sẽ bị chậm 20 ngày đã
khiến thị trường Mỹ xuất hiện tình trạng khan hiếm hạt tiêu trong hai tuần.
Thị trường và giá cả loại sản phẩm này ngày càng mở rộng và còn
nhiều tiềm năng. Điều đó xuất phát từ đặc tính và giá trị kinh tế của gia vị,
không dừng lại ở tác dụng gia vị là kích thích khẩu vị ăn ngon miệng mà
còn có tác dụng về kích thích tiêu hoá, chống viêm nhiễm, tăng sức đề
kháng của cơ thể đối với một số bệnh lý thông thường.
Tiêu thụ gia vị nói chung chịu tác động ảnh hưởng của các nhân tố

hạt tiêu, gừng, bạch đậu khấu, đinh hương, ớt, vani, quế, nghệ hạt tiêu có
khối lượng và kim ngạch buôn bán lớn nhất (chiếm 37% trong tổng kim
ngạch buôn bán các mặt hàng gia vị trên thị trường thế giới năm 2000), tiếp
theo là mặt hàng ớt (34%), bạch đậu khấu và nhục đậu khấu (9%), hạt gia vị
(7%), gừng (6%), đinh hương (5%), quế (4%)
Sản lượng hạt tiêu của thế giới đã tăng liên tục từ năm 1998 đến năm
2002, năm 1998: 205.000tấn; năm 1999: 218.340tấn; năm 2000: 254210
tấn; năm 2001: 299.895 tấn; năm 2002 đạt 309.962 tấn; năm 2003 ước đạt
300.000 tấn. Trong khi đó, lượng nhập khẩu hạt tiêu của thế giới những năm
qua ở mức 210.000 - 230.000 tấn/năm dự báo nhu cầu tiêu thụ hạt tiêu của
thế giới tiếp tục tăng theo đà tăng trưởng của các thực phẩm chế biến sẵn,
các món ăn nhanh và một số món ăn truyền thống sử dụng hạt tiêu làm gia
vị chính.
3. Dự báo nhu cầu gia vị hiện nay và trong thời gian tới.
Căn cứ vào xu hướng nhu cầu gia vị trong thời gian tới và thực trạng
tiêu thụ gia vị thời gian 5 năm cuối thập kỷ 90 (nhịp độ tăng nhập khẩu gia
vị trung bình hàng năm là 3% về mặt lượng), giả sử thời gian tới, nhịp độ
tăng nhập khẩu gia vị của Thế giới hàng năm vẫn đạt mức cao là 3% và tỷ
trọng của các loại gia vị vẫn duy trì như mức của năm 2000 thì khối lượng
của gia vị nhập khẩu của Thế giới vào năm 2005 sẽ đạt 1.350.000 tấn, và
nếu mức giá dự báo duy của mức ở năm 2000, thì vào năm 2005, kim ngạch
nhập khẩu gia vị của thế giới sẽ đạt khoảng 3 tỷ USD. Trong đó dự báo cụ
thể lượng nhập khẩu các loại gia vị được thể hiện qua. (Bảng số 1)

Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
3
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp


Các loại gia vị khác 147.349 12.6 158.409 170.100
Nguồn: Viện nghiên cứu thương mại - Bộ thương mại
Các thị trường nhập khẩu gia vị chính của thời gian 5 năm tới, dự
đoán vẫn là liên minh Châu âu, Mỹ, Nhật, các nước Trung Đông và dự đoán
nhập khẩu của các nước này vẫn sẽ chiếm khoảng 70-80% lượng nhập khẩu
gia vị của thế giới.
4. Vị trí, vai trò sản xuất và xuất khẩu gia vị.
Sản xuất và xuất khẩu gia vị nói chung và hạt tiêu nói riêng có ý
nghĩa lớn đối với nền kinh tế và xuất khẩu của Việt Nam. Từ năm 1999,
Việt Nam đã trở thành nước sản xuất hạt tiêu lớn thứ 3 trên thế giới chỉ sau
Ấn Độ và Inđônêxia và là nước xuất khẩu hạt tiêu lớn thứ 2 thế giới sau
Inđônêxia. Đặc biệt, với kim ngạch xuất khẩu hàng năm vượt 100 triệu
USD, năm cao nhất năm 2000 đạt 153 triệu USD. Hạt tiêu nằm trong số 10
mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất Việt Nam hiện nay.
Ngoài xuất khẩu hạt tiêu, Việt Nam còn sản xuất và xuất khẩu một số gia vị
quan trọng khác như: quế, hồi, ớt, gừng, nghệ, hành, tỏi Hai mặt hàng quế
và hồi đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 5-7 triệu USD/năm/mặt hàng
Xuất khẩu gia vị trong đó có xuất khẩu hạt tiêu hàng năm đã thu nhập
ngoại tệ trên 145-160 triệu USD cho đất nước, đóng góp lớn vào việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển nông nghiệp, góp phần xoá đói,
giảm nghèo, cải thiện thu nhập cho người nông dân
5. Những lợi thế của Việt Nam trong sản xuất và xuất khẩu gia vị.
Chất lượng:
Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
4
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
Phần lớn các mặt hàng gia vị của Việt Nam như: hạt tiêu, quế, hồi, ớt,
gừng, tỏi đều có hàm lượng tinh dầu cao, thơm ngon hơn các mặt hàng cùng

cần có công ăn việc làm, đã có tập quán trồng và khai thác. Ngoài ra được
nhà nước khuyến khích, loại hình kinh tế gia đình và thôn xóm, làng bản,
canh tác tuỳ theo thời gian thuận tiện của nông dân nên người nông dân
chăm chỉ làm ăn, tăng thu nhập cho gia đình.
Sản xuất và xuất khẩu gia vị của Việt Nam có được những lợi thế
nhất định về chất lượng, năng suất, nước tưới tiêu, nguồn nhân lực dồi dào
và nhân công rẻ. Như vậy, cần có một chiến lược đúng đắn để khai thác một
cách có hiệu quả nhất những lợi thế mà ta có được. Từ những lợi thế nêu
trên, thấy rõ sự cần thiết phải có một chiến lược đúng đắn để phát triển sản
xuất và đẩy mạnh xuất khẩu gia vị.

Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
5
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG GIA VỊ THẾ GIỚI VÀ TÌNH HÌNH
SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU GIA VỊ CỦA VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN VỪA QUA

I. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG GIA VỊ THẾ GIỚI.
1. Nhập khẩu và tiêu thụ gia vị trên thế giới.
Buôn bán gia vị của thế giới trong thời gian 5 năm từ năm1996 đến
năm 2000 đã tăng từ mức 984.000 tấn năm 1996 lên trên 1.162.000tấn năm
2000 với trị giá tăng từ 2,01 tỷ USD lên 2,54 tỷ USD. Các loại gia vị được
buôn bán phổ biến nhất trên thị trường thế giới hiện nay là: hạt tiêu, ớt, bạch
đậu khấu và nhục đậu khấu, hạt gia vị gừng, đinh hương, quế, vani, rau

6
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
Bảng số 2: Tình hình nhập khẩu gia vị của một số nước/ khu vực nhập
khẩu chính thời gian 1996-2000
Đơnvị: triệuUSD
Nước nhập khẩu/ Năm 1996 1997 1998 1999 2000
Thế giới 2018,05 2293,63 2440,11 2596,03 2544,54
Trong đó: EU-15 559,92 756,47 794,79 814,74 788,88
Trong đó: CHLB Đức 144,72 182,39 191,27 202,73 180,27
Hà lan 91,17 129,59 131,22 157,55 145,72
Pháp 76,35 86,65 97,57 98,86 102,6
Anh 69,39 94,74 96,17 88,27 95,61
Tây Ban Nha 69,98 90,23 96,49 83,01 80,86
Đông Âu 36,66 46,20 40,65 38,65 40,74
Trung đông
(Ả rập Xê út)
63,49 59,37 64,15 72,21 98,77
Bắc Mỹ 424,83 491,82 536,26 588,29 609,29
Trong đó: Mỹ 378,07 439,67 478,45 522,74 548,12
Châu Á 525,58 560,75 466,17 554,58 544,51
Trong đó: Nhật Bản 238,51 236,59 185,69 198,31 200,06
Singapore 138,94 183,54 148,22 201,23 185,19Nguồn: ITC/UNCTAD/WTO “Global Spice Markets - Imports1996 - 2000”
Geneva, Switzerland, Sept, 2002
2. Xuất khẩu và cung cấp gia vị trên thị trường thế giới.
Về phía cung cấp cho xuất khẩu, hầu hết các loại gia vị buôn bán trên
thị trường thế giới đều được trồng ở các nước đang phát triển và kém phát

Chú thích: (*) gồm có: thơm, hạt mùi, hạt thì là
(**) gồm có: nghệ, hỗn hợp mọi gia vị, hoa hồi
Các nước sản xuất chính cũng đồng thời là những nước cung cấp gia
vị chủ yếu cho thị trường thế giới. Trừ Ấn độ, Trung quốc, Inđônêxia là
những nước sản xuất lớn đồng thời cũng là những nước tiêu thụ gia vị lớn,
hầu hết các nước khác sản xuất gia vị chủ yếu cho mục tiêu xuất khẩu thu
ngoại tệ.
Inđônêxia thay thế Ấn độ trở thành nước xuất khẩu gia vị lớn nhất thế
giới năm 2000. Trong thời gian 5 năm qua, xuất khẩu gia vị hàng năm của
Inđônêxia dao động trong khoảng 240 - 370 triệu USD, năm cao nhất là
năm 2000 nước này xuất khẩu 371,5 triệu USD hàng gia vị chiếm 14% tổng
kim ngạch nhập khẩu gia vị của thế giới. Các nước xuất khẩu lớn tiếp theo
là Ấn độ, Trung quốc đạt kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ trên 200 triệu
đến trên 300 triệu USD. Đặc biệt, Ấn độ đã từng đạt mức xuất khẩu 386
triệu USD gia vị năm 1999. Malaixia và Việt Nam nằm trong số 5 nước
xuất khẩu gia vị đứng đầu thế giới thời gian 5 năm qua với kim ngạch xuất
khẩu hàng năm đạt trên 100 triệu USD. Ngoài ra, Mađagaxca và Braxin
cũng là những thị trường truyền thống xuất khẩu gia vị. Tính chung lại, xuất
khẩu của 7 nước đứng đầu thế giới chiếm hơn 50% lượng xuất khẩu gia vị
thế giới và tỷ trọng này có xu hướng tăng thời gian 1996 - 2000.
3. Diễn biến giá cả quốc tế các loại gia vị trong thời gian qua.
Nhìn chung, giá cả quốc tế các loại gia vị biến động rất lớn trong thời
Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
8
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
gian qua và phụ thuộc chủ yếu vào tình hình cung cấp gia vị trên thị trường
thế giới. Trong khi nhu cầu tiêu thụ của thế giới ổn định theo xu hướng tăng
thời gian qua thì sự biến động lớn về giá quốc tế các loại gia vị phản ánh

3300USD/ tấn vào cuối năm. Vào đầu năm 2000 giá lại tiếp tục tăng. Xu
hướng chung là giá đinh hương tăng liên tục thời gian 1996 - 2000 và vào
năm 2000 đơn giá nhập khẩu đinh hương của thế giới đã tăng gấp 2,85 lần
so với mức giá của năm 1996.
Quế: Trong thời gian 5 năm 1996 - 2000, giá quế biến động theo xu
hướng giảm liên tục qua các năm, năm 1996 giá đạt mức cao nhất trong thời
kỳ xem xét là 2,11 USD/kg, năm 1997 giá vẫn ổn định ở mức này và bắt
đầu tụt dốc từ 1998, giá giảm mạnh qua các năm 1999 - 2000 và chỉ còn
1,39USD/kg.
Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
9
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
Ớt: Giá ớt quốc tế có xu hướng giảm liên tục từ năm 1996 đến 1999
và bắt đầu nhích lên vào năm 2000. Năm 1996 đơn giá nhập khẩu ớt của thế
giới đạt 1,91 USD/kg, giá có xu hướng giảm liên tục qua các năm 1997-
1999, đến năm 1999 giá chỉ còn 1,60 USD/kg, năm 2000 giá có nhích lên
chút ít và đạt 1,63 USD/kg
Vani: Giá vani quốc tế, sau khi đã giảm 60% năm 1996 lại tiếp tục
giảm 26,5% và 12,7% các năm 1997 và 1998, giá vẫn chịu sức ép lớn vào
năm 1999 và chỉ được cải thiện vào năm 2000. Đơn giá nhập khẩu vani của
thế giới đã giảm từ 24,73 USD/kg năm 1996 xuống còn 15,47 USD/kg
năm1999 trước khi tăng lên 25,46 USD/kg vào năm 2000. Sản xuất giảm
sút cả về mặt số lượng và chất lượng sau khi giá vani quốc tế lại biến động
mạnh đã dẫn tới xu hướng các nhà sử dụng cuối cùng chuyển sang sử dụng
vani tổng hợp thay thế sản phẩm va ni tự nhiên. Đây cũng là nguyên nhân
làm cho vani tự nhiên của thế giới giảm mạnh năm 1998 và vẫn rất yếu năm
1999. Xu hướng sử dụng vani tổng hợp làm hương liệu thay thế cho vani tự
nhiên trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm hiện nay vẫn tiếp tục do

Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
Nhìn chung trên thị trường thế giới hiện nay có những phương thức
giao dịch buôn bán chủ yếu sau : giao dịch thông thường, giao dịch qua
trung gian, buôn bán đối lưu, đấu giá quốc tế, đấu thầu quốc tế, giao dịch tại
sở giao dịch hàng hóa, giao dịch tại hội chợ triển lãm, giao dịch tái xuất
khẩu… Trong đó, các phương thức buôn bán thông thường, buôn bán qua
trung gian và buôn bán tại sở giao dịch, giao dịch tái xuất là những phương
thức giao dịch chủ yếu đối với hàng gia vị trên thị trường thế giới.
5.1.1.Buôn bán thông thường.
Buôn bán thông thường có thể là buôn bán trực tiếp giữa bên mua
với bên bán, cũng có thể là buôn bán thông qua thương nhân trung gian
được thực hiện ở mọi nơi mọi lúc trên cơ sở tự nguyện của các bên.
Phương thức giao dịch buôn bán thông thường ngày càng phát triển
do trình độ năng lực làm công tác ngoại thương của người sản xuất được
nâng cao, công nghệ thông tin phát triển mạnh. Đồng thời, cùng với sự phát
triển của sản xuất, sản phẩm càng phong phú và đa dạng, chi tiết phức tạp,
do đó trong phương thức buôn bán này cũng thường gắn với dịch vụ trong
và sau bán.
5.1.2. Giao dịch tái xuất.
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu
về một số ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn thu hút 3
nước : nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu, vì vậy người ta
còn gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác.
Tái xuất có thể thực hiện bằng một trong hai cách :cách xuất theo
đúng nghĩa của nó, trong đó hàng hoá đi từ nước xuất khẩu đến nước tái
xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu. Ngược
chiều với sự vận động của hàng hoá là sự vận động của đồng tiền. Nước tái
xuất trả tiền nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập khẩu. Nước tái xuất
trả tiền cho nước xuất khẩu và thu tiền của nước nhập khẩu. Phương thức

5kg hoặc 12,5kg đối với thảo dược. Các lớp bao bì có thể thay đổi tùy thuộc
vào sản phẩm, quãng đường nhưng bao tải ba lớp là tốt nhất.
Bao tải nhựa: thông thường được làm từ màng nhựa polyethylene.
Có nhiều loại nhựa khác nhau như LDP,HDP… Và các màu sắc khác nhau.
Tùy thuộc vào trọng lượng được bao gói, mà độ dầy của màng có thể thay
đổi từ 60 - 100 microns. Bao tải nhựa có rất nhiều hình dạng khác nhau
được thiết kế, chế tạo dựa trên các sản phẩm cụ thể và yêu cầu của nhà nhập
khẩu.
Thùng nhựa: các thùng nhựa lớn đã phát triển từ các thùng bằng gỗ
truyền thống, các thùng nhựa này thường để chứa những hàng gia vị có giá
trị cao và vật liệu chế tạo là LDP, các thùng này được ưa dùng vì rất tiện lợi
trong việc đóng hàng và dỡ hàng. Các thùng nhựa hiện nay có dung tích
chứa từ 30 - 200 lít, bất kể hình dạng và hệ thống đóng mở như thế nào,
hàng hoá chứa đựng bằng thùng nhựa đòi hỏi phải hoàn toàn khô ráo để
phòng ngừa khả năng sinh ra mốc. Việc xếp dỡ thùng nhựa thường bằng
phương tiện máy móc.
5.3. Các phương thức vận chuyển hàng gia vị.
Chính xuất phát từ tính chất và đặc điểm của hàng gia vị mà các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn lựa chọn phương thức vận chuyển bằng
đường biển. Trong trường hợp chuyên chở bằng containơ, hàng được giao
cho người vận tải theo một hay hai phương thức:
Nếu hàng đủ một containơ, chủ hàng phải đăng kí thuê containơ, chịu
chi phí chở containơ từ bãi containơ về cơ sở của mình đóng hàng vào
containơ, rồi giao hàng cho người vận tải.
Nếu hàng không đủ một containơ, thì chủ hàng phải giao cho người
vận tải tại ga containơ và người vận tải tổ chức thu xếp containơ của nhiều
chủ hàng rồi cấp vận đơn cho từng chủ hàng.
Việc thuê tàu, lưu cước đòi hỏi có kinh nghiệm nghiệp vụ, có thông
tin về tình hình thị trường thuê tàu và tinh thông các điều kiện thuê tàu. Vì
vậy trong nhiều trường hợp, chủ hàng xuất khẩu thường uỷ thác việc thuê

nhập khẩu, các đại lý hay môi giới, những người có thông tin tốt về xu
hướng mới nhất của thị trường, biết cách trưng bày, giới thiệu sản phẩm
nhằm thâm nhập thị trường thành công.
- Giá cả, các điều kiện giao hàng và thanh toán.
- Hoạt động quảng cáo xúc tiến xuất khẩu của các nhà xuất khẩu,
phân phối…
II. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU GIA VỊ CỦA VIỆT NAM.
1. Tình hình sản xuất và chế biến gia vị của Việt Nam.
1.1. Hạt tiêu
* Sản xuất:
Hạt tiêu đã được biết đến và dùng làm gia vị cách đây trên 3.000 năm.
Các đặc tính của hạt tiêu đã khiến mặt hàng gia vị này không những trở
thành một trong yếu tố cần thiết trong nghệ thuật ẩm thực của thế giới hiện
đại ngày nay, mà còn được ứng dụng trong dược phẩm.ở nước ta, thời gian
gần đây, cây hồ tiêu đang dần chiếm ưu thế trong mô hình kinh tế vườn
trang trại vì lợi ích kinh tế mang lại cao hơn so với các loại cây trồng khác
như: cà phê, điều, cao su (cao hơn 1,5 lần). Hiện hồ tiêu tập trung nhiều ở
các tỉnh phía nam như: Bình Phước 8.246 ha; Đắc Lắc 8.000 ha; Bà Riạ-
Vũng Tàu 4.720 ha; Gia Lai 2.000 ha; Đồng Lai 4.370 ha; Bình Thuận
Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
13
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
1.730 ha; Quảng Trị 2.025 ha; Bình Dương 890 ha; Kiên Giang 898 ha; Tây
Ninh 894 ha; Lâm Đồng 383 ha và một số tỉnh khác như: Quảng Bình, Phú
Yên, Quảng ngãi, TP Hồ Chí Minh, Bình Định, Khánh Hoà, Kon Tum…
cũng phát triển mạnh cây hồ tiêu, đưa tổng diện tích cây tiêu trong cả nước
hiện lên 50.000 ha, một con số khá lớn. Tuy nhiên, ngành sản xuất hồ tiêu
còn đang gặp nhiều khó khăn do người sản xuất đa số là các hộ nông dân

nhiều tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là tỏi và ớt với sản lượng
hàng chục ngàn tấn sấy khô. Nhưng từ năm 1990 trở lại đây, do thị trường
tiêu thụ bị co hẹp, nên các loại cây gia vị trên đã bị thay thế bằng các loại
cây khác. Những địa phương trước đây có vùng tập trung lớn về tỏi, ớt,
Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
14
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
nghệ như: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, nay đã chuyển
sang canh tác rau, củ vụ đông như cà chua, bắp cải, dưa chuột …
* Chế biến :
Nhóm hàng gia vị trên được xuất khẩu dưới dạng phơi, sấy khô (bột,
thái lát hoặc nguyên quả như ớt). Công nghệ chế biến chủ yếu là thủ công
theo phương pháp truyền thống. Do vậy, chất lượng chưa cao và không ổn
định. Đây là điểm yếu khiến nhóm hàng này không có sức cạnh tranh trong
cơ chế thị trường, nhất là đối với các mặt hàng cùng loại của Trung Quốc.
Chẳng hạn tỏi Việt Nam tuy thơm và hàm lượng tinh dầu cao hơn tỏi Trung
Quốc 1,5 lần nhưng do củ bé, năng suất thấp, nhiều tép vụn nên khi chế
biến, các lát tỏi hay bị vỡ vụn, màu sắc tối, giá thành cao gấp gần 2 lần tỏi
Trung Quốc nên dần mất khách hàng( hiện tỏi lát sấy khô Trung Quốc giá
thành 550USD/ tấn, VN là 900 - 1.000USD/ tấn). Tương tự, mặt hàng ớt
cũng vậy. Ớt bột Trung Quốc màu sắc đỏ tươi, rất hấp dẫn và giá rẻ hơn ớt
bột Việt Nam khoảng 15 - 20 USD/ tấn, trong khi ớt bột khô của Việt Nam
thường có lẫn những sắc thẫm, xỉn màu và dễ mốc mặc dù giữ được độ cay
đặc trưng nhưng khó hấp dẫn khách hàng.
2. Tình hình xuất khẩu gia vị của Việt Nam.
2.1. Khái quát chung tình hình xuất khẩu gia vị của Việt Nam.
Việt Nam nằm trong số các nước sản xuất và xuất khẩu gia vị truyền
thống của thế giới. Trong thời gian qua, với sự bùng nổ sản xuất hạt tiêu,

0909.10.00 Hồi 1.829,7 1.741,8 306,3 1.981,9 6.761.8
0910.10.00 Gừng 415,0 558,1 540,3 1.597,6 206,1
0910.30.00 Nghệ 5,6 6,8 63,2 6,4 18,9
Tổng 5 loại gia vị 52.384,4 72.380,2 69.629,1 147.150,2 158.250,8
Nhịp độ tăng qua năm % - +38,2 -3,8 +111,3 +7,5
Tổng xk của Việt nam 7.225.950 9.185.000 9.360.300 11.540.000 14.488.677
Tỷ trọng (%) XK gia vị
trong xuất khẩu chung
0,7 0,8 0,7 1,3 1,1
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam 1996 - 2000.
Cũng qua Bảng Số 5, chúng ta thấy xuất khẩu gia vị của Việt Nam
chủ yếu là xuất khẩu hạt tiêu, tỷ trọng áp đảo (88 - 92%) và kim ngạch xuất
khẩu tăng liên tục hàng năm thời gian 1996 -2000 của hạt tiêu đã góp phần
quyết định làm tăng xuất khẩu gia vị của Việt Nam thời gian qua.
2.2. Tình hình xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam.
Việt Nam sản xuất tiêu đen là chủ yếu. Tiêu thụ nội địa chỉ 5-10%
tổng sản lượng sản xuất hàng năm, trên 90% tham gia vào mậu dịch thế
giới. Khối lượng xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam không ngừng tăng trong
những năm qua: Năm 1998 cả nước xuất khẩu 15 ngàn tấn, chiếm khoảng
8% tổng khối lượng mậu dịch thế giới. Nhưng chỉ sau 3 năm (2001) khối
lượng tiêu xuất khẩu đạt 57 ngàn tấn, chiếm 25% mậu dịch tiêu của thế giới,
trở thành quốc gia đứng đầu về xuất khẩu hạt tiêu đen. Năm 2002 cả nước
xuất khẩu 78 ngàn tấn, chiếm gần 30% tổng khối lượng mậu dịch thế giới;
dự kiến đạt từ 80-100 ngàn tấn trong các năm 2003 - 2005.
Bảng số 6: Kết quả xuất khẩu mặt hàng hồ tiêu thời kỳ 1996 - 2002
Đ/v: KL: 1.000 tấn; GT: triệu USD
Các năm

Chỉ tiêu
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002

1998 giá 42-46 ngàn đồng/kg, lúc cao nhất năm 1999 lên trên 60-62 ngàn
đồng/kg, nhưng cuối năm 2000 giảm xuống 37-38 ngàn đồng/kg. Năm 2001
giá nội địa chỉ xung quanh 23-25 ngàn đồng/kg và tiếp tục trượt xuống mức
20 ngàn đồng/kg trong năm 2002. Sáu tháng đầu năm 2003 giá mua hồ tiêu
trong nước vào khoảng 1.800 đồng/kg và giá xuất khẩu chỉ trên dưới 1.350
USD/tấn (FOB).
Bảng số 7: Thị trường xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam
Đơn vị: KL: tấn; TG: triệu USD
Năm 2001 Năm 2002

Các thị trường
Khối lượng Trị giá Khối lượng Trị giá
Bắc Mỹ 3.291 5,67 11.811 17,82
Châu Âu 11.094 17,82 25.645 36,54
Châu Á 29.020 45,34 27.066 36,38
Châu Phi và Nam Mỹ 3.399 6,40 2.906 4,07
Trung Đông 3.228 5,47 4.199 5,55
Các vùng khác 6.990 10,537 6.588 8,95
Tổng cộng 57.022 91,237 78.155 109,31
Nguồn: Tổng cục Hải quan và Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam

Gần đây, một số địa phương vùng Đông Nam Bộ chế biến hạt tiêu
trắng từ hạt tiêu đen đạt chất lượng khá, giá bán trong nước đạt trên 30 ngàn
đồng/kg, giá xuất khẩu 2.300 - 2400 USD/tấn (FOB).
Trong hoạt động xuất khẩu hạt tiêu, bước đầu các doanh nghiệp đã
thiết lập được kênh xuất khẩu hạt tiêu vào một số thị trường có nhu cầu lớn,
mở ra triển vọng phát triển sâu rộng hơn đối với thị trường hạt tiêu thế giới.
Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
17

khá lớn (20-30%), và đương nhiên là giá bị giảm mạnh, gây thiệt hại cho
người sản xuất và cả nhà xuất khẩu.
3.3. Chính sách bảo hiểm nông sản còn hạn chế.
Nhóm hàng gia vị thuộc loại hàng nông sản ở Việt Nam, phụ thuộc
nhiều vào diễn biến thời tiết và nhiều yếu tố khác nên những năm được mùa
thì giá giảm, mất mùa thì giá tăng. Đặc biệt đối với hạt tiêu, rủi ro rất cao vì
sự biến động giá rất lớn so với nhiều loại nông phẩm khác như gạo, hạt
điều, cao su…trong khi thời gian qua, chính sách bảo hiểm cho ngành hàng
hạt tiêu gần như bị lãng quên. Đây cũng chính là yếu tố khiến nhiều nhà
xuất khẩu Việt Nam e ngại, không dám gắn bó chặt chẽ với mặt hàng này.
Qua khảo sát 4 doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu trên 10 triệu
USD/năm ở Hà nội, họ đều có chung một quan điểm: không đầu tư lớn vào
nhóm hàng gia vị, nhất là hạt tiêu. Lý do là độ mạo hiểm cao, có thể thu lãi
lớn nhưng cũng có thể mất nghiệp vì mặt hàng này. Chẳng hạn, khi mua vào
gặp thời điểm giá thấp (khoảng 40.000 đồng/kg), lúc xuất khẩu được giá
Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
18
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
(khoảng 120.000 đồng/kg), lợi nhuận thu về lớn. Nếu ngược lại, thiệt hại lên
đến hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng (tuỳ thuộc vào khối lượng hàng
xuất đi), rất dễ bị trắng tay.
Các doanh nghiệp đó cũng cho biết rằng, hạt tiêu là mặt hàng có thể
dự trữ được do quy trình bảo quản không tốn kém và phức tạp như một số
hàng nông sản khác như gạo, cà phê, nhưng ít ai dám làm. Nguyên nhân lại
vẫn là giá cả tăng giảm thất thường với độ chênh lệch quá lớn (lên xuống từ
15-20 USD/tấn, thậm chí có thời điểm 100 - 200 USD/tấn, trong khi mặt
hàng gạo xuất khẩu mức chênh lên xuống chỉ 2-3 USD/tấn).
Trên thực tế, hiện các công ty bảo hiểm không mặn mà lắm với lĩnh

Phân tích rõ hơn biện pháp này thực sự chưa phát huy tác dụng trong
sản xuất hàng xuất khẩu bởi 3 lý do.
Khoa Thương mại Trường ĐH Quản lý & Kinh
doanh
19
Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
Thứ nhất là sản xuất hàng gia vị của Việt Nam còn khá manh mún.
Để có đủ hàng hoá, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp phải ký hợp đồng
và theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng của rất nhiều hộ nông dân, đòi hỏi
nhiều thời gian và chi phí.
Thứ hai, doanh nghiệp chỉ có thể ký hợp đồng dài hạn với người sản
xuất khi họ có đầu ra ổn định. Trong khi bối cảnh kinh doanh nhiều biến
động như hiện nay, việc có đầu ra ổn định rất ít. Đã thế trên thực tế thường
xảy ra chuyện người sản xuất (hộ nông dân) không thực hiện đúng theo hợp
đồng đã cam kết, sản xuất hàng không đúng chất lượng, hoặc từ chối giao
hàng cho doanh nghiệp để bán thẳng ra thị trường khi thấy giá cao hơn, bỏ
qua những đầu tư đã nhận trước của doanh nghiệp như giống, cách thức
chăm sóc, phân bón, khiến nhiều doanh nghiệp bị thua thiệt hàng trăm triệu
đồng, và không có hàng để giao cho đối tác dẫn đến mất bạn hàng.
3.5. Ở thế bị động trong hoạt động kinh doanh.
Mặc dù là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hạt tiêu nhưng hoạt
động của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này còn bị phụ thuộc
nhiều vào biến động giá trên thị trường thế giới. Các doanh nghiệp xuất
khẩu hạt tiêu Việt Nam về tổng thể chưa đủ sức chi phối thị trường quốc tế,
không tạo được thế chủ động. Theo các doanh nghiệp kinh doanh hàng gia
vị, nguyên nhân là do Việt Nam chủ yếu là xuất nguyên liệu thô, chưa xây
dựng một thương hiệu riêng cho hàng gia vị Việt Nam, chưa có công nghiệp
chế biến hạt tiêu tương xứng với tầm vóc của mình.
3.6. Thiếu các cơ sở chế biến.

nhưng khối lượng buôn bán tiểu ngạch vẫn lớn và những rủi ro trong thanh
toán tiền hàng còn lớn.
Về phương thức kinh doanh: Đã mở rộng mạng lưới xuất khẩu trực
tiếp sang các thị trường châu Âu và Mỹ.
Về các biện pháp và chính sách khuếch trương xuất khẩu: Đã có
nhiều nỗ lực trong những năm qua của nhà nước và doanh nghiệp nhằm tìm
kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu
4.2. Điểm yếu:
Về chất lượng: không đồng đều, sản xuất phân tán, sản phẩm đạt tiêu
chuẩn chất lượng cao chưa nhiều, còn nhiễm bẩn gia vị, dạng sản phẩm xuất
khẩu còn đơn giản, chưa có nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao xuất
khẩu
Về giá cả: Giá cả xuất khẩu còn thấp so với giá quốc tế do chưa có
nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh và do cạnh tranh thiếu lành mạnh (tổ
chức nguồn hàng, phương thức thu gom, bán hàng chưa tốt )
Về phương thức thanh toán: Do thiếu linh hoạt trong phương thức
thanh toán và kinh doanh nên chưa xây dựng được quan hệ đối tác bền vững
để mở rộng và thâm nhập mạnh mẽ hơn vào thị trường quốc tế.
Về phương thức kinh doanh: Xuất khẩu chủ yếu vẫn qua trung gian
nên hạn chế trong việc nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của thị trường để có
biện pháp thích ứng sản phẩm và đảm bảo phát triển bền vững.
Về các biện pháp và chính sách khuếch trương xuất khẩu: Kinh phí
cho xúc tiến xuất khẩu của Nhà nước và doanh nghiệp còn hạn hẹp, năng
lực và kỹ năng xúc tiến xuất khẩu và marketing xuất khẩu còn hạn chế.
4.3. Cơ hội:
Thị trường gia vị thế giới còn có điều kiện mở rộng do ngành công
nghiệp chế biến thực phẩm còn tiếp tục phát triển, đặc biệt thị trường các
nước đang phát triển. Bên cạnh đó ngành dịch vụ nhà hàng và tiêu thụ gia
đình vẫn tiếp tục tăng nhu cầu về gia vị.
Việt Nam có lợi thế so sánh rất lớn trong sản xuất và xuất khẩu gia vị

Nguyễn Mạnh Hưng MSV 99D 454 Luận văn tốt
nghiệp
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT
KHẨU GIA VỊ CỦA VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN TỚI

Những tháng đầu năm 2003 hoạt động xuất khẩu hàng gia vị của Việt
Nam đã có phần chững lại do các nước Trung đông và các tiểu Vương quốc
Ả rập có nhiều biến động do cuộc chiến I-rắc. Tuy nhiên, với sự phục hồi
kinh tế trong khu vực sau chiến tranh, mặt hàng gia vị vẫn có nhiều cơ hội
để thâm nhập và mở rộng thị phần tới các thị trường này. Mặt khác xu
hướng dùng nhóm hàng gia vị này trong chế biến dược phẩm đang lan
nhanh sang các nước châu Mỹ. Ngay tại thị trường trong nước, gừng, nghệ,
quế, hồi hiện không đủ cung cho cầu. Theo hội Dược Việt Nam, hiện các
nhà sản xuất thuốc đông dược Việt Nam mỗi năm phải nhập khẩu từ Trung
Quốc hàng nghìn tấn gừng và hoa hồi. Đây là cơ sở để có thể phát triển sản
xuất và xuất khẩu gia vị trong thời gian tới.
Tuy nhiên, với thực tế sản xuất và xuất khẩu nhóm hàng này trong
những năm qua, Chính phủ cùng ngành gia vị cần có những định hướng,
biện pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả trong xuất khẩu hàng gia vị.
I. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIA VỊ CỦA VIỆT NAM TRONG
THỜI GIAN TỚI.
1. Trong sản xuất.
Diện tích cây trồng phải có định hướng rõ ràng và ổn định. Việc phát
triển diện tích các loại cây gia vị, đặc biệt là hồ tiêu cần xoay quanh hạt
nhân quan trọng nhất đó là nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế
(mặt bằng, chủng loại, số lượng, chất lượng). Không để tình trạng hiện nay
là chạy theo số lượng dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừa, gây áp lực hạ
giá hoặc gieo trồng một cách tự phát, để khi giá xuống thì chặt tiêu trồng

quản hàng gắn liền với diện tích trồng. Tạo điều kiện cao hơn trong việc vay
vốn tín dụng, ưu đãi về giá thuê đất là nhà xưởng chế biến các mặt hàng gia
vị khác nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu, đồng thời khuyến khích các doanh
nghiệp tư nhân tham gia lưu thông nhóm hành này trong nước và xuất khẩu.
3. Trong xuất khẩu.
Đa dạng hoá sản phẩm gia vị xuất khẩu theo nhu cầu thị trường. Sẵn
sàng đáp ứng mọi nhu cầu gia vị của khách hàng về chủng loại, phẩm cấp,
quy mô… Ngoài ra, cần chú ý sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng gia vị
có giá trị cao.
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường để có những định hướng
cụ thể cho người sản xuất gia vị. Tăng cường các hoạt động xúc tiến xuất
khẩu trên quy mô quốc gia nhằm tìm kiếm cơ hội xuất khẩu. Tăng cường
hội nhập thị trường thế giới, tiếp thu các thông lệ buôn bán quốc tế của
ngành hàng, duy trì sự có mặt thường trực trên thị trường, tăng thị phần gia
vị của Việt Nam trên thị trường quốc tế, xúc tiến mở rộng thị trường hạt
tiêu.
Trên cơ sở các hiệp định song phương và đa phương được ký giữa
Chính phủ Việt Nam với các nước Mỹ, Trung Quốc. Chính phủ tạo cho các
doanh nghiệp Việt Nam cần có những đối sách khai thác triệt để các thị
trường này. Đồng thời phát triển xuất khẩu sang những thị trường tiêu thụ
gia vị lớn như EU, Nhật Bản…
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GIA VỊ
CỦA VIỆT NAM RA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI.
1. Tổ chức lại sản xuất theo hướng kinh tế trang trại, quy hoạch
vùng sản xuất tập trung đối với một số gia vị chính cho chế biến xuất
khẩu:
Để có thể xuất khẩu gia vị với khối lượng lớn, chất lượng ổn định và
thuận tiện trong ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ thì nên tiến
hành tổ chức lại các vùng sản xuất gia vị tập trung trên cơ sở 7 vùng sinh
thái đã được xác định ở nước ta và trên cơ sở các vùng chuyên canh các cây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status