Tài liệu Tiểu luận “Giá trị thặng dư - Các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư” - Pdf 95


TIỂU LUẬN

GIÁ TRỊ THẶNG DƯ - CÁC HÌNH THỨC BIỂU
HIỆN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ Giáo viên thực hiện :
Sinh viên thực hiện :
1
PHẦN I : MỞ ĐẦU

Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của
học thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C. Mác là “nội dung
căn bản của chủ nghĩa Mác”. Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư
bản đã mua sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản
xuất ra sản phẩ
m, thu về giá trị thặng dư . Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ
trả một phần giá trị sức lao động cho người công nhân thông qua hình thức
tiền lương và bóc lột giá trị thặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong
quá trình sản xuất.
Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ

ỉnh hơn.

3
PHẦN II
LÍ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

I- PHẠM TRÙ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ:
1- Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản:
Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định.
Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản, mà tiền chỉ biến thành tư bản khi
được sử dụng để bóc lột lao động của người khác.
Nếu tiền được dùng để mua bán hàng hoá thì chúng là phương tiện giản
đơn của lưu thông hàng hoá và v
ận động theo công thức: Hàng- Tiền-
Hàng(H-T-H), nghĩa là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền tệ, rồi tiền tệ

Các nhà kinh tế học tư sản thường quả quyết rằng sự tăng thêm đó là do lưu
thông hàng hoá sinh ra. Sự quả quyết như thế là không có căn cứ.
Thật vậy, trong lưu thông nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ có
sự thay đổi hình thái của giá trị, còn tổng số giá trị, cũng như phần giá trị
thuộc về mỗi bên trao đổi là không đổi. Về mặt giá tr
ị sử dụng, trong trao đổi
cả hai bên đều không có lợi gì. Như vậy, không ai có thể thu được từ lưu
thông một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra (tức là chưa tìm thấy
nguồn gốc sinh ra ∆T).
C.Mác cho rằng trong xã hội tư bản không có bất kì một nhà tư bản nào chỉ
đóng vai trò là người bán sản phẩm mà lại không phải là người mua các yếu
tố sản xuất. Vì v
ậy khi anh ta bán hàng hoá cao hơn giá trị vốn có của nó, thì
khi mua các yếu tố sản xuất ở đầu vào các nhà tư bản khác cũng bán cao hơn
giá trị và như vậy cái được lợi khi bán sẽ bù cho cái thiệt hại khi mua. Cuối
cùng vẫn không tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T.
Nếu hàng hoá được bán thấp hơn giá trị, thì số tiền mà người đó sẽ được lợi
khi là người mua cũng chính là số tiền mà người đó sẽ m
ất đi khi là người
bán. Như vậy việc sinh ra ∆T không thể là kết quả của việc mua hàng thấp
hơn giá trị của nó.
Mác lại giả định rằng trong xã hội tư bản có một loại nhà tư bản rất lưu
manh và xảo quyệt, khi mua các yếu tố sản xuất thì rẻ, còn khi bán thì đắt.
Điều này chỉ giải thích được sự làm giàu của những thương nhân cá biệt chứ
5
không thể giải thích được sự làm giàu của tất cả giai cấp tư sản, vì tổng số giá
trị trước lúc trao đổi cũng như trong và sau khi trao đổi đều không thay đổi


6
Số tiền chuyển hoá thành tư bản không thể tự làm tăng giá trị mà phải
thông qua hàng hoá được mua vào (T-H). Hàng hoá đó phải là một thứ hàng
hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị.
Thứ hàng hoá đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường.
Như vậy, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ th
ể con
người, thể lực và trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quá trình sản
xuất ra một giá trị sử dụng.
Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá, mà sức lao động chỉ
biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định.
C.Mác đã nhấn mạnh sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai
điều kiện tiền đề:
Một là, ng
ười lao động phải tự do về thân thể, phải làm chủ được sức lao
động của mình và có quyền đem bán cho người khác. Vậy người có sức lao
động phải có quyền sở hữu sức lao động của mình.
Hai là, người lao động phải tước hết tư liệu sản xuất để trở thành người vô
sản và bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác để sinh
sống.
Sự tồn t
ại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động
biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định của sự chuyển hoá tiền
thành tư bản.
Cũng như những hàng hoá khác, hàng hoá - sức lao động cũng có hai thuộc
tính là giá trị và giá trị sử dụng.
Giá trị của hàng hoá sức lao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạt c
ần
thiết để nuôi sống người công nhân, vợ con anh ta; những yếu tố tinh thần,

họ. Vì vậy, dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư
bản rất ưa thích loại hàng hoá
đặc biệt này.
Vậy quá trình người công nhân tiến hành lao động là quá trình sản xuất ra
hàng hoá và đồng thời là quá trình tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản
thân giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư
bản đã chiếm đoạt. Như vậy, hàng hoá - sức lao động có thuộc tính là nguồn
gốc sinh ra giá trị. Đó là đặ
c điểm cơ bản nhất của hàng hoá - sức lao động so
8
với các hàng hoá khác. Nó là chìa khoá để giải thích tính mâu thuẫn của công
thức chung của tư bản.
3- Bản chất giá trị thặng dư:
Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu
sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích. Giá trị sử dụng được sản
xuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi.
Nhà tư bản mu
ốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi,
nghĩa là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá
có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà
nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư.
Vậy quá trình sản xuấ
t tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản
xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. C.Mác viết: “
Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giá
trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự
thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình


Giá 10 kg bông

10 đôla
Lao động cụ thể của công
nhân bảo tồn và chuyển giá
trị 10 kg bông vào 10 kg
sợi.

10 đôla
Hao mòn máy móc 2 đôla Khấu hao tài sản cố định 2 đôla
Tiền thuê sức lao động
trong một ngày
4 đôla Giá trị mới do 8 giờ lao
động của người công nhân
tạo ra
8 đôla

Tổng chi phí sản xuất

16 đôla

Tổng doanh thu

20 đôla

Nhà tư bản đối chiếu giữa doanh thu sau khi bán hàng (20 đôla) với tổng
chi phí tư bản ứng trước quá trình sản xuất (16 đôla) nhà tư bản nhận thấy tiền
ứng ra đã tăng lên 4 đôla, 4 đôla này được gọi là giá trị thặng dư.
Từ sự nghiên cứu trên, chúng ta rút ra một số nhận xét sau:

lao động hay tiền lương nhà tư bản đã trả cho mình, đó là giá trị thặng dư (4
đôla) và bộ phận này thuộc về nhà tư bản (nhà tư bản chiếm đoạt).
Từ đó, Mác đi đến khái niệm về giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do
công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.
11
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt
khỏi điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một lượng giá
trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản
đã trả cho họ. Thực chất của sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất ra giá trị
vượt khỏi giới hạn tại điểm đó giá trị sức lao động được trả ngang giá.
3- Tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản:
Trong nền kinh tế tư bản người công nhân sau quá trình làm việc cho nhà
tư bản sẽ nhận được một khoản thu nhập dưới hình thức tiền công hay tiền
lương. Với cách trả lương như vậy các nhà lí luận tư sản khẳng
định rằng tiền
lương hay tiền công là giá cả của lao động. Và trong quá trình sản xuất nhà tư
bản trả đúng giá cả của lao động. Vì vậy dưới chủ nghĩa tư bản không có bóc
lột. Nhưng C.Mác đã khẳng định tiền lương không phải là giá cả của người
lao động. Bởi vì, lao động là một phạm trù trừu tượng nên người ta không thể
bán cái trừu tượng. Hơn nữa, lao động ch
ỉ thể hiện khi vận dụng sức lao động
để tiến hành quá trình sản xuất.
Vì vậy Mác khẳng định: Tiền lương chính là giá cả của sức lao động
nhưng nó được biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động. Bởi vì sức
lao động phản ánh năng lực lao động của mỗi con người, nó là cái có thật thể
hiện toàn bộ ở sức óc, sức thần kinh và sức cơ bắ

đạt 200% (m’ = 200%)
Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọ
i cách để kéo dài
ngày lao động và phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao cho các
nhà tư bản. Nhưng dưới chủ nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân
là hàng hoá, nhưng nó lại tồn tại trong cơ thể sống của con người. Vì vậy,
ngoài thời gian người công nhân làm việc cho nhà tư bản trong xí nghiệp,
người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian để ăn uống nghỉ ngơ
i nhằm tái
sản xuất ra sức lao động. Mặt khác, sức lao động là thứ hàng hoá đặc biệt vì
vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian cho
những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình. Từ đó tất
yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải
rút ngắn thời gian lao động trong ngày.
Vì v
ậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới
tinh vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
13
2- Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối:
Bóc lột giá trị thặng dư tương đối được tiến hành bằng cách rút ngắn thời
gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó mà kéo dài tương ứng thời gian lao
động thặng dư, trong điều kiện độ dài của ngày lao động là không đổi.
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động cầ
n thiết
và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, trình độ bóc lột là 100%. Bây giờ
chúng ta lại giả thiết rằng, công nhân chỉ cần 2 giờ lao động đã tạo ra được
một giá trị bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó, tỷ lệ phân chia ngày

PHẦN III: KẾT LUẬN
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là sản xuất ra giá trị sử
dụng, mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên. Theo đuổi giá trị
thặng dư bằng bất cứ thủ đoạn nào là mục đích, động cơ thúc đẩy sự hoạt
động của mỗi nhà tư bản, cũng như của toàn bộ xã hội t
ư sản. Sản xuất ra giá
trị thặng dư quả thực là động lực vận động của phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa. C.Mác viết: “ Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm giàu,
là nhân giá trị lên, làm tăng giá trị, do đó bảo tồn giá trị trước kia và tạo ra giá
trị thặng dư”.
Để sản xuất ra giá trị thặ
ng dư tối đa, các nhà tư bản tăng cường bóc lột
công nhân làm thuê không phải bằng cưỡng bức siêu kinh tế (roi vọt), mà
bằng cưỡng bức kinh tế (kỷ luật đói rét) dựa trên cơ sở mở rộng sản xuất,
phát triển kỹ thuật để tăng năng suất lao động, tăng cường độ lao động và kéo
dài ngày lao động.
Vậy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luậ
t kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư
bản. C.Mác viết: “ Việc tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của
phương thức sản xuất đó”. Nội dung chủ yếu của quy luật này là để thu được
giá trị thặng dư một cách tối đa, nhà tư bản đã tăng số lượng lao động làm
thuê và tìm mọi thủ đoạn
để bóc lột họ.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status