Thực trạng công tác kế toán tiêu thụ hàng hoá tại Công ty dịch vụ và thương mại Tràng Thi - Pdf 95

Khoá luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG hoá
trong doanh nghiệp thương mại...........................................................................................3
1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại trong nền kinh tế
thị trường................................................................................................................................3
1.1.1 Đặc điểm nền kinh tế thị trường ....................................................................................3
1.1.2. Đặc điểm kinh doanh thương mại trong nền kinh tế thị trường............................5
1.1.2.1. Bản chất của thương mại và kinh doanh thương mại................................................5
1.1.2.2. Chức năng của hoạt động kinh doanh thương mại....................................................7
1.1.2.3. Vai trò của hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường...............................8
1.1.2.4. Đặc điểm kinh doanh thương mại trong nền kinh tế thị trường................................9
1.1.3 Hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại.....................................12
1.1.3.1. Hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại yêu cầu
quản lý......................................................................................................................................12
1.1.3.2. Nhiệm vụ kế toán tiêu thụ hàng hoá...........................................................................14
1.2. Nội dung kế toán tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại.............................15
1.2.1. Đặc điểm kế toán tiêu thụ hàng hoá có ảnh hưởng đến công tác kế toán...................15
1.2.1.1. Các phương thức bán hàng:.......................................................................................15
1.2.1.2. Phương thức thanh toán.............................................................................................18
1.2.1.3. Phạm vi hàng bán.......................................................................................................18
1.2.1.4. Thời điểm xác định doanh thu ...................................................................................19
1.2.2 Phương pháp kế toán tiêu thụ hàng hoá ....................................................................20
1.2.2.1. Chứng từ kế toán sử dụng...........................................................................................20
1.2.2.2. Tài khoản sử dụng.......................................................................................................20
1.2.2.3. Phương pháp kế toán..................................................................................................26
1.2.2.4. Sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chứng từ ............................................................39
1.2.3. Các phương pháp xác định trị giá vốn hàng xuất bán..................................................40
1.2.4. Báo cáo kết quả hoạt động tiêu thụ ..............................................................................43
1.2.3.1. Phương pháp xác định giá thực tế của hàng xuất bán..............................................41

3.2. Hoàn thiện công tác bán hàng và xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá tại công ty.........79
Kết luận.............................................................................................84
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
2
Khoá luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU

Quản lý kinh tế nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng trong nền kinh
tế thị trường đòi hỏi phải được cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác và
toàn diện về tình hình sản xuất kinh doanh, làm cơ sở cho các quyết định nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế.
Để đạt được mục đích trên, chủ doanh nghiệp và các cán bộ quản lý doanh
nghệp phải nhận thức và áp dụng các phương pháp quản lý hữu hiệu trong đó kế
toán đuợc xem là công cụ quan trọng.
Hiện nay, thương mại đang đựơc quan tâm như là một trong các lĩnh vực
hoạt động quan trọng của nền kinh tế hiện đại. Sự phát triểnvới nhịp độ ngày càng
gia tăng của hoạt động thương mại đã và đang mở ra những cơ hội hấp dẫn lôi cuốn
các nàh kinh doanh tham gia vào lĩnh vực này để thử thời vận, kiếm lời và tìm cơ
hội thăng tiến trong xã hội.
Tuy nhiên, kinh doanh thương mại không phải là một cuộc chơi đơn giản, dễ
dàng bởi đây là hoạt động kinh tế phức tạp, mang tính đặc thù và chịu tác động của
nhiều ngành kinh tế - kỹ thuật khác. Sự cạnh tranh gay gắt của thị trưòng trong
nước và quốc tế cũng góp thêm một chướng ngại mà người tham gia - các doanh
nghiệp thương mại phải nhận thức đầy đủ để có thể chủ động lựa chọn cách thức
vựơt qua các khó khăn trong quá trình chinh phục các mục tiêu đặt ra.
Về mặt bản chất, doanh nghiệp thương mại ra đời do sự phân công lao động
xã hội. Cụ thể, doanh nghiệp thương mại tổ chức quá trình vân động hàng hoá từ
sản xuất đến tiêu dùng. Trong quá trình đó, tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa quyết định
đối với việc thực hiện các mục tiêu và chiến lược mà doanh nghiệp theo đuổi. Tiêu
thụ hàng hoá chính là hoạt động bán hàng và mức doanh thu thực hiện cho phép

phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa , vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của Nhà nước. Do vậy, việc xem xét đặc điểm của kinh tế thị trường cho phép
hình thành nền tảng về lý luận và tư duy kinh tế cho các hoạt động kinh doanh
trong nền kinh tế thị trường .
Trước hết, kinh tế thị truờng là nền kinh tế được điều chỉnh chủ yếu bởi thị trường.
ở đó giá cả được xác định bởi quan hệ cung cầu do các doanh nghiệp có quyền tự
do quyết định sản xuất cái gì ,sản xuất như thế nào và bán cho ai nhằm thu lợi
nhuận tối đa. Có nghĩa là sự vận hành của nền kinh tế sẽ tuân theo các quy luật vốn
có của nó mà tập trung là quy luật cung cầu ,quy luật cạnh tranh ,quy luật giá cả tạo
thành cơ chế thị trường .
Như vậy, nói đến kinh tế thị trường là phải nói đến cơ chế thị trường. Cơ chế thị
trường là cơ chế nảy sinh một cách tất yếu từ sự phát triển của sản xuất và lưu
thông hàng hoá ,qua thị trường để tự điều chỉnh các cân đối lớn của nền kinh tế
theo đúng quy luật. Trong đó,toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất đều
thông qua thị trường. Điều này đã quy định nên các đặc trưng, đặc điểm riêng có
của thể chế kinh tế này.
Nền kinh tế thị trường có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Về mặt tích cực, đó là cơ
chế tự điều tiết nền kinh tế một cách linh hoạt, mềm dẻo. Nó có tác dụng kích thích
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
5
Khoá luận tốt nghiệp
sự quan tâm thường xuyên đến đổi mới kỹ thuật , công nghệ quản lý ,đến như cầu
thị hiếu và người tiêu dùng ,nó có tác dụng lớn trong tuyển chọn các doanh nghiệp
và cá nhân quản lý kinh doanh giỏi. Trên cơ sở đó ,kinh tế thị trường kích thích sản
xuất và lưu thông hàng hoá phát triển. Về mặt tiêu cực,trên thị trường chứa đựng
tính tự phát và nhiều yếu tố bất ổn, mất cân đối. Vì chạy theo lợi nhuận, các nhà
sản xuất kinh doanh có thể gây nhiều hậu quả xấu: huỷ hoại môi trường , cạnh
tranh không lành mạnh ,phá sản ,thất nghiệp, phân hoá xã hội cao ,thậm chí làm ăn
bất hợp pháp ,trốn lậu thuế và làm hàng giả . Để hạn chế những khuyết tật đó đòi
hỏi nhà nước phải quản lý nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường bằng pháp

ngang giá sẽ chi phối tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Nó đòi hỏi doanh
nghiệp phải theo dõi, ghi chép và phân tích thường xuyên sự biến động của giá cả
hàng hoá ,vật tư, tài sản của doanh nghiệp cũng như tỷ giá ngoại tệ để phản ánh
chính xác giá trị tài sản của doanh nghiệp , các chỉ tiêu chi phí và kết quả kinh
doanh ở các thời điểm khác nhau.
Năm là: nền kinh tế thị trường là nền kinh tế “mở” với cả bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với mọi chủ thể kinh
tế bởi tính cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường.
Tóm lại, khi lá một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, các doanh nghiệp
phải hoạt động “thuận” theo các thể chế là thuộc tính của nền kinh tế đó.Nhận thức
đúng đắn về đặc trưng của cơ cấu kinh tế sẽ cho phép doanh nghiệp hoạt động đúng
định hướng, đồng thời thu được lợi nhuận mong muốn.
1.1.2. Đặc điểm kinh doanh thương mại trong nền kinh tế thị trường
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
7
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.2.1. Bản chất của thương mại và kinh doanh thương mại
Xuất phát từ việc thoả mãn các nhu cầu đa dạng, phức tạp của các thành
phần trong xã hội, hoạt động trao đổi kết quả lao động diễn ra ở tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Kết quả lao động hay các sản phẩm được đưa ra trao đổi trogn
cộng đồng bằng nhiều cách thức khác nhau. Thương mại đã xuất hiện và phát triển
khi đa số các sản phẩm được đưa ra trao đổi trong cộng đồng bằng đồng tiên trên
thị trường.
Hoạt động thương mại hay cụ thể hơn là hoạt động trao đổi mua bán sản
phẩm hàng hoá vật chất trong nên kinh tế tạo ra tiền đề và cơ sở cho việc hình
thành và phát triển một lĩnh vực kinh doanh: kinh doanh thương mại:
Nhà sản xuất chế tạo ra sản phẩm để bán, khi bán sản phẩm của mình nhà
sản xuất có thể lựa chọn:
- Bán trực tiếp (tự bán ) cho người tiêu thụ
- Bán qua người trung gian và người trung gian trực tiếp bán cho người tiêu thụ

và cung ứng dịch vụ thương mại.
1.1.2.2. Chức năng của hoạt động kinh doanh thương mại
Xuất phát từ bản chất nêu trên hoạt động kinh doanh thương mại có các
chức năng riêng biệt. Các chức năng luôn là một phạm trù khách quan, nó lý giải sự
tồn tại các thực thể và hiện tượng. Vì thế, các chức năng của hoạt động kinh doanh
thương mại củng lý giải sự tồn tại của doanh nghiệp thương mại. chức năng chung
đó được cụ thể hoá thành các chức năng sau:
- Chức năng chuyên môn kỹ thuật : Doanh nghiệp thương mại thực hiện việc lưu
thông hàng hoá và tiếp tục quá trình sản xuất và lưu thông: hoạt động kinh doanh
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
9
Khoá luận tốt nghiệp
thương mại tổ chức quá trình vận động hàng hoá từ sản xuất đến tiêu dùng. Đây la
hoạt động mang tính chuyên môn hoá. Đông thời trong quá trình đó doanh nghiệp
thương mại còn tiếp tục một số hoạt động mang tính sản xuất như phân loại, bao
gói, chọn lọc, chỉnh sửa hàng hoá, biến mặt hàng của sản xuất thành mặt hàng của
tiêu dùng.
- Chức năng thương mại: Doanh nghiệp thương mại thực hiện giá trị hàng hoá bằng
cách mua bán: Hoạt động kinh doanh thương mại chính là mua hàng hoá từ nhà sản
xuất, nhà nhập khẩu sau đó bán lại cho người tiêu dùng. Thông qua chức năng này
hàng hoá được thực hiện giá trị cũng như giá trị sử dụng.
- Chức năng tài chính: Trong hoạt động của mình doanh nghiệp thương mại cần có
các nguồn tài chính. Vì vậy hoạt động kinh doanh thương mại phải thực hiện chức
năng tài chính để đản bảo cho doanh nghiệp có các nguồn tài chính cũng như phân
bổ các nguồn tài chính đó một cách có hiệu quả.
- Chức năng quản trị: Chức năng này đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp
thương mại được phối hợp, ăn khớp và không đi chênh lệch các mục tiêu dự định.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý điều hành các hoạt động của kinh doanh thương
mại không những cần nhận thức rõ các chức năng nêu trên mà còn phải cụ thể hoá
các chức năng đó thành các nhiệm vụ cụ thể hoá các chức năng đó thành các nhiệm

khẩu ), đem lại lợi ích cho nhiều phía .
- Tạo tích luỹ cũng là một vai trò mà hoạt động kinh doanh thương mại đang thực
hiện. Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp thương mại cũng
đầu tư vốn, lao động để thực hiện kinh doanh nên nó cũng tạo ra lợi nhuận, tăng
tích lũy và đóng góp cho ngân sách quốc gia.
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
11
Khoá luận tốt nghiệp
1.1.2.4. Đặc điểm kinh doanh thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Từ bản chất cũng như chức năng, vai trò hoạt động kinh doanh thương mại,
có thể thấy rằng thông qua hoạt động mua - bán trên thị trường, doanh nghiệp
thương mại vừa làm dịch vụ cho người bán vừa làm dịch vụ cho người bán (nhà
sản xuất ) vừa làm dịch vụ cho người mua ( người tiêu thụ ) và đồng thời đáp ứng
lợi ích của chính mình là có lợi nhuận. Nhìn từ khía cạnh này doanh nghiệp thương
mại là doanh nghiệp dịch vụ, dù rằng dịch vụ của doanh nghiệp thương mại luôn
gắn liền với hàng hoá hiện vật.
Song kinh tế thị trường với sự tồn tại khách quan của nhiều quy luật kinh tế
làm cho mỗi doanh nghiệp dù là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương
mại đều kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi.
Nên kinh tế nước ta vận hành theo “ cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, do vậy doanh nghiệp nói chung
và hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng chịu sự chi phối trước hết bởi các
quy luật của kinh tế thị trường mà tập trung là quy luật cung cầu, quy luật giá trị,
quy luật cạnh tranh. Vì vậy, khi xúc tiến các hoạt động kinh doanh thương mại, nhà
quản trị vừa phải đảm bảo cho hoạt động này diễn ra đung như các chức năng vỗn
có của nó, vừa phải tạo ra một cơ chế hoạt động hợp quy luật.
Có thể thấy rằng doanh nghiệp thương mại chụi sự tác động rất nhiều của các
quy luật kinh tế. Tuy nhiên, ba quy luật đặc trưng của kinh tế thị trường đóng vai
trò quyết định đối với cơ chế hoạt động của nó.
Một là quy luật giá trị: quy luật này yêu cầu sản xuất và trao đổi phải dựa

của doanh nghiệp.
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
13
Khoá luận tốt nghiệp
Ba là quy luật cạnh tranh: tự do kinh doanh là nguồn gốc của cạnh tranh, là
quy luật kinh tế thị trường.Nó là động lực thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá
phát triển.
Cạnh tranh trên thị trường rất đa dạng và phức tạp :cạnh tranh giữa các nhà
sản xuất ,giữa những người bán, giữa những người mua, giữa người bán và người
mua, giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp nước ngoài. Do sự đa dạng đó mà
trong hoạt động kinh doanh thương mại,các doanh nghiệp cần nhận thức về cạnh
tranh theo khía cạnh tích cực để từ đó luôn phát huy nội lực, nâng cao chất lượng
phục vụ khách hàng , tránh cạnh tranh bất hợp pháp dẫn đến làm tổn hại lợi ích
cộng đồng cũgn như làm suy yếu chính bản thân doanh nghiệp. Tiến hành hoạt
động kinh doanh thương mại cũng phải thấy rằng hoạt động này có những đặc
trưng nhất định như đã trình bày, do vậy nó chịu sự cạnh tranh quyết liệt hơn các
doanh nghiệp khác.
1.1.3 Hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại.
1.1.3.1. Hoạt động tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại yêu cầu quản
lý.
Xuất phát từ các chức năng của hoạt động thương mại có thể thấy rõ tầm
quan trọng của tiêu thụ hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại. Tiêu thụ hàng
hoá là hoạt động đặc trưng, chủ yếu của doanh nghiệp thương mại, là khâu cuối
cùng của hoạt động kinh doanh hàng hoá.
Tiêu thụ hàng hoá được thức hiện thông qua hoạt động bán hàng của doanh
nghiệp từ đó hàng hoá được chuyển thành tiền, thực hiện vồng chu chuyển vốn
trogn doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội. Đó cũng là quá trình chuyển
quyền sở hữu hàng hoá cho khách hàng, thu tiền về hay được quyền thu tiền về.
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
14

)
Doanh thu bán hàng phản ánh kết quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
thương mại. Nó là chỉ tiêu phản ánh giá trị hàng hoá thành phẩm hoặc dịch vụ đã
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
15
Khoá luận tốt nghiệp
được xác định là tiêu thụ trong kỳ. Tăng doanh thu bán hàng thực chất là tăng
lượng tiền về cho doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc tăng lượng hàng hoá bán ra
trên thị trường. Vì vậy, tăng doanh thu bán hàng vừa có ý nghĩavới xã hội vừa có ý
nghĩa với doanh nghiệp.
Đối với xã hội, tăng doanh thu bán hnàg góp phần thoả mãn tốt các nhu cầu
tiêu dùng xã hội, đảm bảo cân đối cung cầu, ổn định giá cả thị trường và mở rộng
giao lưu kinh tế giữa các vùng, các nước.
Đối với doanh nghiệp, tăng doanh thu bán hàng là điều kiện để doanh nghiệp
thực hiên tốt chức năng kinh doanh, thu hồi vốn nhanh, bù đắp các chi phí sản xuất
kinh doanh, thực hiện tốt các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Như vậy hoạt động tiêu thụ hàng hoá qua chỉ tiêu doanh thu thể hiện khả
năng và trình độ của doanh nghiệp trong việc thực hiên các mục tiêu của mình cũng
như các nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng trong xã hội. Nói cách khác, mở rộng
tiêu thụ hàng hoá qua hoạt động bán hàng là con đường cơ bản để doanh nghiệp
chiếm lĩnh thị trường, thu lợi nhuận, tạo vị thế và uy tín của mình trên thương
trường.
Từ những nhạnn định trên có thể thấy hoạt động tiêu thụ hàng hoá là một
khâu quan trọng, một bộ phận cơ hữu trong hệ thống tổ chức quản lý kinh doanh
của doanh nghiệp thương mại.
1.1.3.2. Nhiệm vụ kế toán tiêu thụ hàng hoá.
Với phương tiện quản lý hữu hiệu là hệ thống kế toán, hoạt động tiêu thụ
hàng hoá được ghi nhận, phân loại, tổng hợp và phản ánh một cách toàn diện, phục
vụ kịp thời nhu cầu của các cấp quản trị về thông tin làm cơ sở cho các quyết định.
Do tiêu thụ hàng hoá là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong doanh nghiệp

17
Khoá luận tốt nghiệp
1.2.1.1. Các phương thức bán hàng:
Doanh nghiệp thương mại có thể bán hàng theo các phương thức và hình thức khác
nhau như:
- Bán buôn qua kho: là hình thức bán hàng mà được xuất ra từ kho của doanh
nghiệp. Phương thức này có hai hình thức:
 Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này
bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại để nhận hàng.
Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá, giao trực tiếp cho đại diện bên
mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, đã thanh toán tiền hoặc chấp
nhận nợ, hàng hoá được xác định là tiêu thụ.
 Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: theo hình thức này căn cứ
vào hợp đồng đã ký kết hoặc đơn đặt hàng doanh nghiệp thương mại xuất
kho hàng hoá, bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài, chuyển
hàng giao cho bên mua ở một địa điểm đã thoả thuận. Hàng hoá chuyển bán
vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Số hàng này được
xác định là tiêu thụ khi nhận được tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo
của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán. Chi phí vận
chuyển do doanh nghiệp thương mại chịu hay bên mua chịu là do sự thoả
thuận từ trước giữa hai bên. Nếu doanh nghiệp thương mại chịu chi phí vận
chuyển, sẽ đươc ghi vào chi phí bán hàng. Nếu bên mua chịu chi phí vận
chuyển sẽ phải thu tiền của bên mua.
 Bán buôn vận chuyển thẳng: theo hình thức này doanh nghiệp thương mại
sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng
cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức:
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
18
Khoá luận tốt nghiệp
+ Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp. Theo hình thức

hàng hoá, trước khi ra khỏi cửa hàng mang đến bộ phận thu tiền để thanh
toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền nhập hoá đơn bán hàng và thu tiền của
khách hàng. Hình thức này được bán phổ biến ở các siêu thị.
 Hình thức bán hàng trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền
mua hàng thành nhiều lần. Doanh nghiệp thương mại , ngoài thu tiền theo giá
bán thông thường còn thu thêm người mua một khoản lãi do trả chậm.
-Phương thức gửi đại lý bán: theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại giao
hàng cho cơ sở đại lý. Bên đaị lý sẽ trực tiếp bán hàng và thanh toán tiền cho doanh
nghiệp thương mại và được hưởng hoa hồng đại lý bán. Hàng gửi đại lý vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Nó được xác định là tiêu thụ khi
doanh nghiệp nhận đuợc tiền do bên đại lý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
1.2.1.2. Phương thức thanh toán
Các phương thức thanh toán sử dụng trong kinh doanh thương mại gồm:
 Thanh toán trực tiếp ngay bằng tiền mặt, tiền séc, các loại tín phiếu hoặc
bằng chuyển khoản qua ngân hàng.
 Thanh toán bán châm ( bán chịu ): là phương thức mà bên bán giao hàng
cho người mua nhưng người mua không trả tiền ngay mà trả tiền sau một
thời hạn theo thoả thuận một lần hoặc thanh toán thành nhiều lần ( bán trả
góp ). Khi mà nền sản xuất và lưu thông hàng hoá càng phát triển, để thúc
đẩy cho việc bán hàng thì việc bán hàng chịu ngày càng có xu hướng phát
triển để tạo ra sự hấp dẫn thu hút khách hàng, tăng doanh thu. Nhưng bán
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
20
Khoá luận tốt nghiệp
chịu cũng có nhược điểm là doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn và có khả
năng mất vốn.
Chỉ tiêu doanh thu gắn liền với việc thu tiền bán hàng. Mục đích quan trọng của
doanh nghiệp là phải bán được nhiều hàng nhưng đồng thời cũng phải thu hồi
nhanh tiền bán hàng để tránh ứ đọng, bị chiếm dụng vốn. Vì thế, việc tìm ra những
biện pháp hữu hiệu để thu tiền bán hàng nhanh chóng cần các định hướng hợp lý

- Phương thức bán lẻ hàng hoá, thời điểm ghi chép doanh thu hàng bán là khi nhận
được báo cáo của nhân viên bán hàng.
- Phương thức gửi đại lý bán, thời điểm ghi chép doanh thu hàng bán khi nhận được
tiền của bên nhận đại lý hoặc chấp nhận thanh toán.
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
22
Khoá luận tốt nghiệp
1.2.3 Phương pháp kế toán tiêu thụ hàng hoá
1.2.2.1. Chứng từ kế toán sử dụng
Để kế toán quá trình tiêu thụ hàng hoá, kế toán sử dụng một số chứng từ sau:
- Hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng do (đơn vị lập)
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho
- Hoá đơn bán hàng giao thẳng
- Báo cáo bán hàng
- Bảng kê bán lẻ hàng hoá dịch vụ
- Giấy nộp tiền của nhân viên bán hàng
- Bảng kê nhận hàng và thanh toán hàng ngày
- Bảng thanh toán hàng đại lý
Các chứng từ kế toán khác có liên quan
1.2.2.2. Tài khoản sử dụng
Kế toán nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá sử dụng các tài khoản sau:
Tài khoản 511 “ doanh thu bán hàng ”. tài koản này dùng để phản ánh tổng
số doanh thu bán hàng thực tế, các khoản giảm trừ doanh thu và xác định doanh thu
thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Nội dung ghi chép của tài khoản này như sau:
Bên nợ:
- Khoản giảm giá, bớt giá hàng bán và hàng bán bị trả lại
-Số thuế phải nộp tính theo doanh thu bán hàng thực tế ( thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
nhập khẩu )
- Kết chuyển doanh thu thuần
Bên có:

Tài khoản 512 “ doanh thu bán hàng nội bộ “. Tài khoản này được sử dụng
để phản ánh doanh thu bán hàng hoá, thành phẩm nội bộ, giữa các đơn vị trực thuộc
trong cùng một công ty hoặc tổng công ty.
Kết cấu tài khoản 512 tương tự như kết cấu tài khoản 511.
Tài khoản 512 có ba tài khoản cấp hai: bán bị trả lại.
+ TK 5121 “ Doanh thu bán hàng hoá “.
+ TK 5122 “ Doanh thu bán thành phẩm”.
+ TK 5123 “ Doanh thu cung cấp dịch vụ”.
Tài khoản 531 “ Hàng bán bị trả lại ”. tài khoản này dùng để phản ánh trị
giá của số hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ, bị khách hàng trả lại do
không đúng quy cách, phẩm chất hoặc do vi phạm hợp đồng kinh tế.
Nội dung ghi chép của tài khoản 531 như sau:
Bên nợ: Trị giá của số hàng bán bị trả lại, đã trả tiền cho người mua hoặc tính trừ
vào nợ phải thu của người mua hàng hoá, dịch vụ đã bán ra.
Bên Có: Kết chuyển số tiền theo giá bán của hàng bị trả lại sang tài khoản có liên
quan để xác định doanh thu thuần.
Tài khoản 531 không có số dư cuối kỳ.
Tài khoản 532 “ giảm giá hàng bán “. Tài khoản này dùng để phản ánh
khoản giảm giá cho khách hàng với giá bán đã thoả thuận.
Nội dung ghi chép của tài khoản 532 như sau:
Bên nợ: khoản giảm giá đã chấp nhận với người mua.
Bên có: Kết chuyển khoản giảm giá sang tài khoản liên quan để xác định doanh thu
thuần.
Tài khoản 532 không có số dư.
Trần Thị Mai Trà - Lớp Q10 K2
25

Trích đoạn Sổ kế toỏn theo hỡnh thức Nhật ký chứng từ Cỏc phương phỏp xỏc định trị giỏ vốn hàng xuất bỏn Phõn bổ chi phớ thu mua cho hàng tiờu thụ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status