Ung thư tử cung - Pdf 96

Ung thư tử cung

Ung thư tử cung, hoặc ung thư nội mạc tử cung là một trong các bệnh
ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ. Trong thực tế, mỗi năm có khoảng 37.000
phụ nữ Mỹ được chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung, làm cho nó trở thành
bệnh ung thư phổ biến hàng thứ 4 ở phụ nữ, sau ung thư vú, ung thư phổi và
ung thư đại tràng.
Ung thư nội mạc tử cung bắt đầu từ nội mạc tử cung. Tử cung là một
tạng rỗng, hình quả lê, là nơi mà thai nhi phát triển trong thời kỳ mang thai.
Ung thư nội mạc tử cung thường xuất hiện nhiều nhất sau tuổi sinh đẻ, ở phụ
nữ từ 50-70 tuổi.
Ung thư nội mạc tử cung thường được phát hiện trong giai đoạn sớm
vì bệnh hay gây chảy máu âm đạo giữa các chu kỳ kinh hoặc sau khi mãn
kinh. Nếu được phát hiện sớm, dạng ung thư tiến triển chậm này thường giới
hạn ở tử cung. Phẫu thuật cắt bỏ tử cung thường loại bỏ được ung thư. Thực
tế, ung thư nội mạc tử cung giai đoạn sớm được điều trị thành công tới hơn
80%. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong do ung thư nội mạc tử cung đã gia tăng trong
hơn 10 năm qua. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa biết lý do tại sao.
Dấu hiệu và triệu chứng
Ung thư nội mạc tử cung thường tiến triển trong nhiều năm. Manh
mối đầu tiên của bạn có thể là chảy máu âm đạo bất thường.
Phần lớn các trường hợp ung thư nội mạc tử cung tiến triển ở phụ nữ
sau mãn kinh đã hết kinh. Tuy nhiên, khoảng 20% số trường hợp bị bệnh ở
người trẻ tuổi. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể gồm:
 Kinh nhiều hoặc chảy máu giữa các chu kỳ kinh.
 Chảy máu âm đạo hoặc có dịch âm đạo quanh thời gian mãn
kinh (chỉ thời điểm trước khi mãn kinh) hoặc sau mãn kinh
 Có dịch hồng, ẩm hoặc trắng ở âm đạo
 Đau vùng tiểu khung, nhất là vào giai đoạn muộn của bệnh
 Đau khi giao hợp
 Giảm cân

nồng độ estrogen. Nếu chưa từng mang thai, bạn không có lợi từ việc bảo vệ
này.
 Rụng trứng không đều. Rụng trứng, mỗi tháng rụng một trứng
từ buồng trứng ở phụ nữ có kinh, được diều hòa bởi estrogen. Rụng trứng
không đều có nhiều nguyên nhân, bao gồm béo phì và hội chứng buồng
trứng đa nang (polycystic ovary syndrome - PCOS). Đây là một trạng thái
mất cân bằng hormon ngăn cản rụng trứng và có kinh. Điều trị béo phì và
PCOS có thể giúp khôi phục rụng trứng hằng tháng và chu kỳ kinh, làm
giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung.
 Béo phì. Buồng trứng không chỉ là nguồn estrogen. Mô mỡ có
thể làm thay đổi một số hormon thành estrogen. Béo phì được định nghĩa là
thừa khoảng từ 14kg có thể làm tăng nồng độ estrogen trong cơ thể, làm cho
bạn có nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung hoặc các dạng ung thư khác. Chế
độ ăn nhiều mỡ cũng làm tăng nguy cơ do béo phì. Nhiều nhà khoa học cho
rằng thực phẩm béo có thể ảnh hưởng trực tiếp tới chuyển hóa estrogen, làm
tăng thêm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung ở phụ nữ.
 Bệnh tiểu đường. Đây chính là một yếu tố nguy cơ đối với ung
thư nội mạc tử cung vì béo phì và tiểu đường týp 2 (trước đây gọi là tiểu
đường khởi phát ở người lớn hoặc tiểu đường không phụ thuộc insulin)
thường liên quan chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, một số dữ liệu cho thấy phụ
nữ bị tiểu đường, có béo phì hoặc không béo phì, có nguy cơ cao ung thư nội
mạc tử cung.
 Liệu pháp thay thế estrogen (ERT). Estrogen kích thích sự phát
triển nội mạc tử cung. Thay thế estrogen đơn thuần sau mãn kinh có thể làm
tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Tuy nhiên, dùng progestin tổng hợp,
một dạng hormon progesteron, với estrogen liệu pháp thay thế kết hợp
hormon làm cho nội mạc tử cung rụng và thực sự làm giảm nguy cơ của bạn.
 Khối u buồng trứng. Một số khối u buồng trứng có thể là nguồn
estrogen, làm tăng nồng độ estrogen.
Các yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status