1
Khai thác Ruộng bậc thang khu vực Mù Cang
Chải và vùng phụ cận cho phát triển du lịch
Hoàng Mạnh Thắng
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Du lịch
Chuyên ngành: Du lịch học; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn: TS Phạm Lê Thảo
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Hệ thống hóa một số vấn đề về du lịch nói chung và du lịch nông thôn nói
riêng, các đặc điểm của du lịch nông thôn và điều kiện để phát triển du lịch nông thôn,
tìm hiểu về di sản văn hóa ruộng bậc thang khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận,
đồng thời nghiên cứu những bài học trong nước và quốc tế về phát triển du lịch trên cơ
sở khai thác các giá trị của di sản văn hóa này cho phát triển du lịch. Phân tích những
tiềm năng, lợi thế của khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận, trong đó tập trung phân
tích giá trị của hệ thống cảnh quan nông nghiệp ruộng bậc thang, các nghi thức gắn liền
với hình thức canh tác nông nghiệp này, những thuận lợi và khó khăn của khu vực Mù
Cang Chải và vùng phụ cận trong phát triển du lịch. Phân tích thực trạng chung về phát
triển du lịch và thực trạng khai thác ruộng bậc thang cho phát triển du lịch tại Mù Cang
Chải và vùng phụ cận. Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác một cách hợp lý giá trị
của ruộng bậc thang khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận cho phát triển du lịch.
Keywords. Du lịch; Mù Cang Chải; Ruộng bậc thang; Du lịch nông thôn
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ruộng bậc thang Tây Bắc nói chung và khu vực Mù Cang Chải nói riêng không
hóa bản địa tiêu biểu gắn liền với hình thức canh tác này phục vụ cho phát triển du lịch.
Đề tài “Khai thác Ruộng bậc thang khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận cho phát
triển du lịch” được đưa vào nghiên cứu với mong muốn đóng góp một phần cho việc khai
thác một cách hợp lý tài nguyên nhân văn vô giá này cho phát triển du lịch tỉnh Yên Bái
nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch nhằm làm sáng tỏ điều kiện và hiện
trạng phát triển du lịch của địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển du
lịch trên địa bàn.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề về du lịch và du lịch nông thôn, các đặc điểm của du
lịch nông thôn và điều kiện để phát triển du lịch nông thôn, ruộng bậc thang và vai trò
của ruộng bậc thang đối với cuộc sống của con người, đồng thời nghiên cứu những bài
học trong nước và quốc tế về phát triển du lịch trên cơ sở khai thác các giá trị của ruộng
bậc thang được khai thác cho phát triển du lịch;
- Phân tích những tiềm năng, lợi thế của khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận,
trong đó tập trung phân tích giá trị của hệ thống ruộng bậc thang, các nghi thức gắn liền
với hình thức canh tác nông nghiệp này cùng với những nét văn hóa và tín ngưỡng tiêu
biểu nơi đây đối với du lịch, những thuận lợi và khó khăn của khu vực Mù Cang Chải và
vùng phụ cận trong phát triển du lịch;
- Phân tích thực trạng phát triển du lịch tại khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ
cận;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác một cách hợp lý giá trị của ruộng bậc
thang khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận cho phát triển du lịch.
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
hệ thống cảnh quan nông nghiệp này cho phát triển du lịch vẫn chưa có.
5. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung được
chia thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng khai thác hoạt động du lịch tại Khu vực Mù Cang
Chải và vùng Phụ Cận
4
Chương 3: Một số giải pháp khai thác ruộng bậc thang khu vực Mù Cang Chải và vùng
phụ cận cho phát triển du lịch
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm về du lịch
1.1.1. Điểm du lịch
Hiểu theo nghĩa chung, điểm du lịch là nơi mà khách có thể đến tham quan và lưu
trú và sử dụng các dịch vụ tại đó.
Theo luật du lịch thì điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ
nhu cầu tham quan của khách du lịch. [17, tr.2].
1.1.2. Tuyến du lịch
Tuyến du lịch được hiểu là “là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở
cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ,
đường hàng không.” [17, tr.2]
1.1.3. Khu du lịch
Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch
tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du
lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường [17, tr.2]
1.1.4. Chương trình du lịch
Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định
ra các hoạt động du lịch [17, tr.3]
1.1.10. Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham
gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống [17, tr.3]
1.2. Du lịch nông thôn
1.2.1. Khái niệm về du lịch nông thôn
Du lịch nông thôn là loại hình du lịch diễn ra tại các khu vực nông thôn nơi chủ
yếu diễn ra các hoạt động nông nghiệp. Du khách có thể đến các khu vực này trải nghiệm
và thưởng ngoạn vẻ đẹp tự nhiên, những nét đẹp về văn hóa hay là để giải tỏa những áp
lực của công việc, lối sống đô thị để có những trải nghiệm thú vị.
1.2.2. Đặc điểm và nguyên tắc phát triển du lịch nông thôn
1.2.2.1. Đặc điểm của du lịch nông thôn
* Đặc điểm chung
Du lịch nông thôn có các đặc điểm cơ bản sau:
- Một là về mặt phạm vi không gian, loại hình du lịch này diễn ra tại khu vực nông
thôn.
- Hai là về mặt quy mô, du lịch nông thôn thường có quy mô nhỏ.
- Ba là nền tảng của du lịch nông thôn là nông nghiệp bao gồm các hoạt động
nông nghiệp, cảnh quan nông nghiệp và các sản phẩm hàng hóa từ nông nghiệp.
- Bốn là mô hình du lịch nông thôn có thể thay đổi theo thời gian và không gian
cho phù hợp với tình hình, như du lịch nông thôn khu vực đồng bằng, du lịch nông thôn
khu vực hải đảo và khu vực nông thôn miền núi.
- Năm là du lịch nông thôn mang đặc điểm chung của du lịch là có tính liên ngành
và liên vùng cao [9].
* Đặc điểm về nguồn khách
Khách du lịch nông thôn thường gồm 2 nguồn: nguồn khách phát sinh chủ yếu và nguồn
bổ sung.
- Nguồn phát sinh khách du lịch nông thôn chủ yếu:
+ Nguồn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
+ Nguồn khách du lịch từ các trung tâm đô thị
- Khái niệm du lịch nông thôn đã xuất hiện cùng với sự hình thành của ngành
đường sắt ở châu Âu. Tuy nhiên, cho mãi đến những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ
XX, du lịch nông thôn mới được coi là một loại hình du lịch và phổ biến ở nhiều quốc
gia ở châu Âu như Pháp, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển Khi
đó, khái niệm du lịch nông thôn được quan niệm tương đồng với các loại hình du lịch ở
nông trại, du lịch di sản, du lịch xanh, du lịch nhà nghỉ ở nông thôn
- Ở nước ta cho đến nay, khái niệm du lịch nông thôn vẫn chưa được nhắc tới một
cách chính thức trong các văn bản pháp lý, mặc dù nước ta có tiềm năng lớn để phát triển
du lịch nông thôn. Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam phát triển đa dạng các
loại hình du lịch, tuy nhiên có thể thấy rằng du lịch nông thôn chưa phát triển. Lý do là
chưa lập được quy hoạch cụ thể cho từng địa phương để phát triển du lịch nông thôn, cụ
thể là chưa có một khung lý thuyết chung cho các khái niệm về loại hình du lịch này.
7
1.3. Ruộng bậc thang
1.3.1. Khái niệm
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thì Ruộng bậc thang là phương thức canh
tác xây dựng đồng ruộng trồng lúa nước vùng đồi núi, đất ở sườn đồi, núi được san lấp
thành các vạt đất có cùng độ dốc theo đường đồng mức, tiếp nối nhau từ trên xuống theo
kiểu bậc thang.
Như vậy, có thể nói ruộng bậc thang là một hình thức canh tác nông nghiệp trên
địa hình đất dốc, chủ yếu ở các khu vực miền núi.
1.3.2. Vai trò của ruộng bậc thang với đời sống con người
- Ruộng bậc thang là một hình thức canh tác nông nghiệp độc đáo và đầy sáng tạo
của con người, nhất là các dân tộc thiểu số sống tại các khu vực miền núi với địa hình
dốc.
- Ruộng bậc thang đã khắc phục bất lợi về độ dốc của địa hình, tạo ra các thửa
ruộng có cùng độ dốc theo đường đồng mức, tiếp nối nhau từ trên xuống rất thuận lợi cho
việc canh tác.
- Với nhiều cộng đồng nông thôn miền núi, trong đó có các cộng đồng dân tộc
- Ifugao là một tỉnh không giáp biển của Philipines, nằm trên dãy núi Cordillera,
phía Bắc của đảo Luzon. Tên tỉnh này bắt nguồn từ tên một tộc người, đó là người
Ifugao. Từ “Ifugao” có nguồn gốc từ từ “Ipugo”, có nghĩa là “đến từ đồi núi.” (from the
hill). Từ Ipugo cũng chỉ một giống lúa được người Ifugao trồng trên ruộng bậc thang.
Những cánh đồng ruộng bậc thang của người Ifugao xứng đáng với vị trí là một
trong những kì quan hàng đầu của thế giới.
Thực trạng hoạt động du lịch tại Banaue
- Du lịch tại Banaue đã diễn ra trong nhiều thập kỷ qua.
- Kết quả chính của quá trình phát triển du lịch tại Banaue đó là tạo công ăn việc
làm cho người dân, đem lại những ảnh hưởng tích cực cho phát triển kinh tế nói chung,
nâng cao đời sống cộng đồng địa phương…Nhưng việc phát triển du lịch không có quy
hoạch và kiểm soát chặt chẽ đã dẫn đến những tác động tiêu cực không thể bù đắp được.
Ruộng bậc thang của người Ifugao trong đó có hệ thống ruộng bậc thang Banaue từ việc
được công nhận là Dịa danh di sản thế giới năm 1995 đã bị đưa vào Danh sách các địa
điểm di sản Thế giới đang bị đe dọa năm 2001.
1.5.1.2. Hoạt động du lịch tại Nguyên Dương, Hồng Hà, Trung Quốc
Vài nét về ruộng bậc thang người Hà Nhì – Nguyên Dương – Trung Quốc
- Ruộng bậc thang của người Hà Nhì thuộc Châu tự trị Hồng Hà, phía Đông Nam
tỉnh Vân Nam là một trong những cảnh quan nông nghiệp tuyệt đẹp trên thế giới. Đó là
một kiệt tác của các cộng đồng dân tộc thiểu số Hà Nhì, những người đã sinh sống trên
mảnh đất này hơn 1300 năm. Kể từ triều đại nhà Đường, người Hà Nhì đã được ghi nhận
vì những kỹ năng điêu luyện trong việc phát triển ruộng bậc thang.
- Rừng, bản làng, ruộng bậc thang và các dòng suối tạo thành thắng cảnh sinh thái
điển hình cho hệ thống ruộng bậc thang của người Hà Nhì, thể hiện mối quan hệ hài hòa
giữa con người với tự nhiên cũng như mối quan hệ của họ trong xã hội [31].
Hoạt động du lịch tại bản Thanh Khẩu, Nguyên Dương, Trung Quốc
- Hoạt dộng du lịch tại Thanh Khẩu được phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị
văn hóa truyền thống của người Hà Nhì và các cảnh quan nông nghiệp ruộng bậc thang
nơi đây và trên cơ sở một quy hoạch cụ thể, bài bản do các nhà quy hoạch lập với sự
tham gia của chính quyền và cộng đồng địa phương.
Trong Chương 1, luận văn đã nghiên cứu lý luận về du lịch nông thôn, bao gồm
một khái niệm về du lịch; đặc điểm của du lịch nông thôn, các điều kiện, tiêu chí và
nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch nông thôn; ý nghĩa của phát triển du lịch nông
thôn.
Chương 2. TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC HOẠT ĐỘNG DU
LỊCH TẠI KHU VỰC MÙ CANG CHẢI VÀ VÙNG PHỤ CẬN
2.1. Tiềm năng cho phát triển du lịch khu vực Mù Cang Chải
2.1.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử tộc người và văn hóa
tộc người
* Điều kiện tự nhiên
- Huyện Mù Cang Chải nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, cách Hà Nội 300km và cách
thành phố Yên Bái 180km, có tọa độ địa lý từ 21
0
39’ đến 21
0
50’ vĩ độ Bắc, 103
0
56’ đến
104
0
23’ kinh độ Đông; phía Bắc giáp huyện Văn Bàn - tỉnh Lao Cai; phía Nam giáp
huyện Mường La - tỉnh Sơn La; phía Đông giáp huyện Văn Chấn; phía Tây giáp huyện
Than Uyên - tỉnh Lai Châu. Tổng diện tích đất tự nhiên trong toàn huyện là 1.201,96km
2
.
10
- Toàn huyện có 13 xã và một thị trấn: Nậm Có, Cao Phạ, Chế Cu Nha, La Pán Tẩn,
Dế Su Phình, Nậm Khắt, Mồ Dề, Kim Nọi, Chế Tạo, Hồ Bốn, Khau Mang, Púng Luông
167
33,6
81
Tháng 2
9,7
12
82,9
89
Tháng 3
18,4
153
83,4
80
Tháng 4
22,2
172
175,0
80
Tháng 5
23,1
153
196,9
79
Tháng 6
23,8
77
598,3
88
Tháng 7
23,8
- Mù Cang Chải có dân số không đông, mật độ thưa. Thời nhà Lý, Mù Cang Chải
thuộc Châu Đăng. Đời Hậu Lê thuộc Châu Chiêu Tấn, Phủ An Tây trong Thừa tuyên
Hưng Hóa. Theo số liệu thống kê của Cục Thông kê tỉnh Yên Bái, năm 2009 tổng dân số
huyện là 49.160 người. Toàn huyện có 4 tộc người là: Mông, Kinh, Thái và Tày, trong đó
người Mông chiếm đa số (89%).
- Người Mông ở Mù Cang Chải chia thành 4 nhóm: Mông Đơ (Mông Trắng);
Mông Đu (Mông Đen); Mông Lình (Mông Hoa); Mông Si (Mông Đỏ).
- Mông Hoa là nhóm đông nhất, chiếm trên 60% dân số.
- Mông Đỏ chiếm 30% dân số.
- Nhóm Mông Đen sống ở các xã: Nậm Có, Khau Mang, Lao Chải.
- Nhóm Mông Trắng có số lượng ít nhất.
11
* Khái quát về lịch sử tộc người.
- Người Mông vào Mù Cang Chải cách ngày nay khoảng hơn 200 năm và di cư
làm nhiều đợt. Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, người Mông ở Quý Châu (Trung
Quốc) nổi dậy chống sự cai trị của nhà Thanh nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bị
dìm trong bể máu. Người Mông phải di cư xuống Vân Nam và Việt Nam, vào Bắc Hà
(Lào Cai), từ đó di cư sang Mù Cang Chải.
- Tiếng Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông – Dao trong ngữ hệ Nam Á.
* Khái quát về văn hóa tộc người
- Một trong những đặc điểm nổi bật về vấn đề cư trú của người Mông là họ
thường cư trú ở những sườn đồi và sườn núi cao, địa hình hiểm trở. Người Mông ở Mù
Cang Chải có kinh nghiệm làm ruộng bậc thang rất giỏi.
- Người Mông trú trọng chăn nuôi gia đình ngoài ra hái lượm lâm sản như: sơn tra
(táo mèo), hoàn liên, hà thủ ô,…lấy mật ong và săn bắt chim.
- Dệt vải bằng sợi lanh là một nghề phổ biến của cộng đồng người Mông ở Mù
Cang Chải.
- Nguồn lương thực chủ yếu của đồng bào là lúa (lúa nương, lúa nước), ngoài ra là
ngô.
nhuyễn giữa canh tác nương rẫy với ruộng nước.
* Quá trình khai khẩn ruộng bậc thang
Quy trình khai khẩn ruộng bậc thang phải trải qua những bước cơ bản sau đây: lựa
chọn vùng đất, xác lập quyền khai khẩn, dọn sạch mặt đất, làm bờ ruộng và làm đường đi
lại.
Bảng 2.2: Diện tích ruộng bậc thang của ba xã năm 2007
STT
Tên xã
Dân số (người)
Diện tích (ha)
Diện tích ruộng bậc
thang (ha)
1
La Pán Tẩn
3566
3301.04
198.11
2
Chế Cu Nha
2608
4320.52
114
3
Dế Su Phình
1956
4413.92
18
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái
* Phân loại ruộng bậc thang
- Khái niệm “ruộng bậc thang” chỉ có thể là khái niệm mới, xuất hiện trong sự so
bậc thang
- Các nghi thức trong quá trình khai khẩn
Trong quá trình khai khẩn ruộng không ít người gặp những tai nạn rủi ro như: đá
lăn vào chân, bị rắn cắn, …vv Những trường hợp như vậy người ta quan niệm cái hồn
của mình đã bỏ mình đi, do đó phải mời thầy cúng gọi hồn về. Cúng xong, bài cúng được
thầy cúng nhúng vào rượu và đốt ngay tại ruộng [6].
- Các nghi thức tín ngưỡng trong quá trình canh tác
Từ khai khẩn sang canh tác là bước chuyển biến quan trọng trong quá trình trồng
lúa. Canh tác bao giờ cũng là khâu gặp nhiều khó khăn do điều kiện bất lợi của thời tiết
gây ra. Cùng với quá trình canh tác này, người Mông hình thành các nghi thức tín
ngưỡng và điều này giúp đồng bào ổn định về mặt tâm lý trong quá trình canh tác như
nghi thức cầu mưa, lễ hội mừng cơm mới…
Có thể nói những nghi thức gắn với hình thức canh tác nông nghiệp này là những
tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn cho phát triển du lịch nông thôn khu vực này.
2.1.2. Thực trạng khai thác du lịch tại khu vực Mù Cang Chải
2.1.2.1. Khả năng tiếp cận và cơ sở hạ tầng kỹ thuật
- Mù Cang Chải là huyện nằm ở phía Tây của Tỉnh Yên Bái. Từ Hà Nội có thể
đến Mù Cang Chải theo tuyến Hà Nội – Sơn Tây – Trung Hà – Thanh Sơn – Nghĩa Lộ -
Tú Lệ rồi đến Mù Cang Chải với quãng đường khoảng 300km theo Quốc lộ 32.
- Xét tổng thể thì việc tiếp cận Mù Cang Chải theo tuyến này tương đối dễ dàng.
- Có thể đến Mù Cang Chải theo tuyến khác cũng qua Quốc lộ 32 như Hà Nội –
Lào Cai (thường đi tàu từ Hà Nội lên Lào Cai), qua Sapa – Đèo Ô Quý Hồ - Bình Lư –
Than Uyên – Mù Cang Chải. Đoạn từ Lào Cai đi Mù Cang Chải khoảng 159km.
- Các đường khác cũng có thể đến được Mù Cang Chải như đi từ Hà Nội qua Hòa
Bình đi Sơn La qua Mường La rồi đến Ngã Ba Kim của Mù Cang Chải. Cũng có một số
du khách tiếp cận theo tuyến Hà Nội – Hòa Bình – Sơn La – Điện Biên – Than Uyên –
Mù Cang Chải.
- Về hệ thống cơ sở hạ tầng nội huyện, tại khu vực trung tâm thị trấn hệ thống
đường xá rất đẹp. Ngoài ra, các đường thứ cấp từ trung tâm huyện lỵ đến tất cả các trung
tâm xã của huyện đều đã được bê tông hóa, thuận tiện cho việc tiếp cận.
Nhà hàng
ăn uống
Cơ sở
lưu trú
Cty
Du lịch
Khu du lịch
1
Thành phố Yên Bái
Cơ sở
66
25
37
04
2
Huyện Yên Bình
Cơ sở
16
5
09
02
01
3
Huyện Trấn Yên
Cơ sở
01
0
01
-
02
-
01
8
Huyện Trạm Tấu
Cơ sở
01
-
01
-
-
9
Huyện Mù Cang Chải
Cơ sở
03
-
03
-
-
Tổng cộng
119
40
70
07
02
Nguồn số liệu: Sở VHTTDL Yên Bái – 2009
2.1.2.3. Dịch vụ ăn uống
Dịch vụ ăn uống ở Mù Cang Chải còn nghèo nàn, phong cách phục vụ còn thiếu
lưu trú, các nguồn thu khác từ các dịch vụ khác như dịch vụ ăn uống, mua sắm đặc sản
địa phương và đồ lưu niệm vẫn chưa được thống kế cụ thể.
2.2. Khu vực phụ cận (Tú Lệ - Văn Chấn)
2.2.1. Giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên và đặc điểm dân cư
- Tú Lệ là một xã nằm ở phía Tây huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Tú Lệ giáp với
xã Cao Phạ của huyện Mù Cang Chải ở phía Tây, xã Nậm Búng – huyện Văn Chấn ở
phía Đông, xã Nậm Có ở phía Bắc và xã Ngọc Chiến – huyện Mường La, tỉnh Sơn La ở
phía Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 2.886,77ha, trong đó diện tích đất canh tác
nông nghiệp là 729 ha (trong đó diện tích trồng lúa là 213,14ha) chủ yếu phân bố ở thung
lũng Tú Lệ được bao bọc bởi ba ngọn núi cao là Khau Phạ, Khau Thán và Khau Song.
- Theo kết quả điều tra về tình hình nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm
2011, tổng dân số của xã Tú Lệ tính đến hết năm 2010 là 5.422 người với ba dân tộc sinh
sống trên địa bàn xã là dân tộc Thái, dân tộc kinh và dân tộc Mông, trong đó người Thái
chiếm 95% tổng dân số, người Kinh chiếm 3,6% còn người Mông chiếm 1.5%.
2.2.2. Hệ thống giao thống và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
- Từ Hà Nội lên Tú Lệ khoảng 240km theo Quốc lộ 32. Nói chung, đường từ Hà
Nội bắt đầu sang địa phận của Phú Thọ trở đi qua nhiều đèo núi, nhưng cũng tương đối
tốt. Nếu đi ô tô mất khoảng 5 tiếng đồng hồ. Tuyến Quốc lộ 32 giờ trở thành tuyến giao
thông chính nối Hà Nội – Phú Thọ - Yên Bái – Lai Châu. Lượng xe khách lưu thông trên
tuyến này cũng khá nhiều.
16
- Đoạn Quốc lộ 32 chạy qua xã là trục đường chính của Tú Lệ với kết cấu mặt
đường bê tông nhựa mịn và sạch sẽ. Đường liên xã cũng được làm bằng bê tông chạy từ
gần trung tâm xã vào xã Nậm Có của huyện Mù Mang Chải. Còn lại, hệ thống đường thứ
cấp vào các bản vẫn là đường đất và đường liên thôn/bản cũng là những con đường mòn
chưa được bê tông hóa hay rải đá cấp phối. Tuy nhiên, chính những con đường này cùng
với hệ thống đường mòn xuyên qua những cánh đồng và men theo các bờ suối lại tạo nên
“con đường du lịch” rất hấp dẫn.
- Về hệ thống điện, theo ông Sầm Văn Mới tất cả các bản hiện nay đều đã có điện
- Điểm mạnh của Tú Lệ là do có hệ thống suối nước chảy quanh năm nên mỗi
năm Tú Lệ canh tác được hai vụ lúa. Điều này có lợi thế hơn các nơi khác ngay cả so với
17
khu vực Mù Cang Chải một năm thường chỉ làm một vụ chính, khiến cho Tú Lệ trở nên
hấp dẫn hơn và đảm bảo mùa du lịch lâu hơn nếu phát triển du lịch một cách có kế
hoạch.
- Về nhân lực du lịch, tại tất cả các cơ sở lưu trú của xã chưa có ai được đào tạo
qua về nghiệp vụ du lịch – khách sạn. Tổng nhân lực phục vụ tại các cơ sở này hiện là 42
người.
Nhìn chung, các hoạt động kinh doanh du lịch ở đây vẫn mang tính tự phát và chủ
yếu mới chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh doanh cơ sở lưu trú.
Tiểu kết chương 2
Khu vực Mù Cang Chải và Tú Lệ tuy cách xa trung tâm Hà Nội nhưng lại nằm
trên tuyến quan trọng đi Tây Bắc. Đặc biệt với hệ thống ruộng bậc thang đẹp nhất Tây
Bắc như đã được công nhận là Danh thắng quốc gia, đây là khu vực rất có tiềm năng cho
phát triển du lịch. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch tại các khu vực này còn tự phát và
nhỏ lẻ, chưa có quy hoạch cụ thể, nguồn nhân lực thiếu toàn diện. Ngoài ra, hệ thống cơ
sở vật chất còn nghèo nàn, trình độ dân trí còn thấp. Chính vì thế việc phát triển du lịch
trong thời gian qua còn chưa tương xứng với nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn nơi
đây.
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHAI THÁC RUỘNG BẬC THANG KHU VỰC
MÙ CANG CHẢI VÀ VÙNG PHỤ CẬN CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH
3.1. Chủ trương và quan điểm phát triển du lịch
- Ở tầm vĩ mô loại hình du lịch sinh thái nông nghiệp, nông thôn cũng đã được
đưa vào dự thảo chiến lược phát triển.
- Ở cấp địa phương, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái và UBND
huyện Mù Cang Chải đều có một quan điểm chung là trong những năm tới sẽ đẩy mạnh
về chuyên môn, nghiệp vụ, tin học ngoại ngữ; vốn hiểu biết về lịch sử, văn hoá, tự nhiên,
xã hội, kỹ năng giao tiếp ứng xử… cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ,
hướng dẫn viên và lực lượng lao động làm việc trong ngành du lịch.
3.2.3. Phát triển hệ thống giao thông và hệ thống cơ sở hạ tầng khác
3.2.3.1. Phát triển hệ thống giao thông tại khu vực Mù Cang Chải
- Cần nâng cấp trục đường chính qua huyện Mù Cang Chải.
- Các đường vào xã và thôn bản cũng cần phải được cải thiện để tạo điều kiện đi
lại thuận tiện cho người dân cũng như du khách.
- Ngoài ra, cần bố trí và xây dựng những con đường mòn đủ rộng tại những cánh
đồng ruộng bậc thang với các bậc lên xuống chắc chắn để du khách có thể đi bộ ngắm
cảnh xuyên qua những thửa ruộng này.
3.2.3.2. Phát triển hệ thống giao thông tại khu vực Tú Lệ
Trục đường chính của xã là đoạn quốc lộ 32 đã được nâng cấp năm 2009 có kết
cấu mặt đường bê tông nhựa rất đẹp. Tuy nhiên các đường vào thôn bản gần như vẫn là
đường đất. Cần nâng cấp các trục đường chính trong bản để đảm bảo vệ sinh và đi lại
thuận tiện hơn. Ngoài ra, có thể kè lại các con đường ven suối Tú Lệ và các con đường
chính xuyên qua cánh đồng Tú Lệ để du khách có thể đi bộ tham quan một cách thuận
tiện.
3.2.3.3 Thông tin liên lạc và truyền hình
Cả hai khu vực Mù Cang Chải và Tú Lệ đều được các mạng viễn thông như
Vinaphone, Mobilephone và Viettel phủ sóng. Cần đưa truyền hình cáp tới các khu vực
này để đa dạng hóa các kênh truyền hình. Hệ thống Internet cũng cần phải được nâng cấp
vì tốc độ truy cập hiện nay rất chậm.
3.2.3.4. Hệ thống cung cấp điện, cấp và thoát nước
Hiện nay, các khu vực này chưa có hệ thống cung cấp nước sạch. Toàn bộ khu
vực vẫn sử dụng nước tự nhiên dẫn từ các dòng suối trên núi xuống. Tại khu vực trung
19
tậm Huyện Mù Cang Chải, nước có được xử lý qua tại một số trạm xử lý nước, nhưng
quy mô còn đơn sơ và nhỏ, mới chỉ đáp ứng được nhu cầu của người dân tại thời điểm
- Tạo ra những sản phẩm du lịch chuyên đề.
- Tạo ra các sản phẩm độc đáo đặc trưng
3.2.7. Về thị trường khách
Trước hết cần xác định thị trường khách du lịch trong đó có hai đối tượng khách là
khách quốc tế và khách nội địa. Có thể thấy rằng tại thời điểm hiện tại khách nội địa
chiếm tỷ lệ lớn (khoảng hơn 70%) trong tổng lượng khách đến khu vực này. Tuy nhiên,
trong tương lai một khi cơ sở hạ tầng được nâng cấp và nếu như khu Danh thắng ruộng
bậc thang Mù Cang Chải được UNESCO công nhận là Di sản thế giới khi đó lượng
20
khách quốc tế chắc chắn sẽ tăng lên. Chính vì thế đối tượng khách quốc tế là mục tiêu thu
hút trong dài hạn.
3.2.8. Tăng cường liên kết với các tỉnh lân cận và với các hãng lữ hành
- Cần tăng cường liên kết với các vùng phụ cận và các huyện trong tỉnh.
- Ngoài sự liên kết nói trên, việc liên kết với các hãng lữ hành trong và ngoài nước
để quảng bá thêm hình ảnh của điểm đến.
3.2.9. Thu hút tối đa nguồn lực để đầu tư phát triển
Để có thể thu hút đầu tư vào các khu vực này cần phải có quy hoạch cụ thể, trong
đó nêu rõ các lĩnh vực và các dự án cần kêu gọi đầu tư, trong đó cần chú trọng đầu tư vào
các lĩnh vực sau:
- Đầu tư vào cơ sở lưu trú
- Đầu tư vào các cơ sở dịch vụ như ăn uống, giải trí
- Các dịch vụ đưa đón tham quan
- Các dự án về nông lâm nghiệp, trong đó cần kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy
chế biển quả Sơn Tra để tạo ra sản phẩm đặc trưng cho khu vực này, các dự án đầu tư
vào trồng chè…
- Các dự án về cơ sở hạ tầng, điện, nước, giáo dục…
3.2.10. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các qui định về bảo vệ tài nguyên và môi
trường
quả tốt có thể nhân rộng sang các huyện khác trên địa bàn tỉnh.
- Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái cần quan tâm chỉ đạo chặt chẽ hơn
nữa hoạt động phát triển du lịch tại Mù Cang Chải và khu vực phụ cận như hoạt động
quản lý và khai thác tài nguyên, chú trọng công tác quy hoạch phát triển du lịch, đào tạo
bồi dưỡng nguồn nhân lực, hướng dẫn địa phương cấp xã, thôn bản về cách thức tổ chức
các hoạt động du lịch. Đặc biệt, cần nghiên cứu về cơ chế chia sẻ lợi ích cho cộng đồng
các dân tộc thiểu số.
3.3.3. Khuyến nghị với chính quyền địa phương và cộng đồng địa phương
- Chính quyền địa phương cần nhận thức đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của du
lịch đối với phát triển kinh tế xã hội của địa phương mình quản lý; khuyến khích cộng
đồng dân cư tham gia phát triển du lịch, bảo tồn và giữ gìn nền văn hóa truyền thống, bảo
vệ môi trường và tài nguyên.
- UBND huyện Mù Cang Chải cần bổ sung đội ngũ cán bộ được đào tạo về du lịch
để chuyên trách quản lý hoạt động du lịch tại khu vực, điều tra sở thích và nhu cầu, mong
muốn của từng thị trường khách để báo cáo tổng hợp lên Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch tỉnh Yên Bái.
- Đối với cộng đồng địa phương, cần phải học hỏi dần dần để nâng cao ý thức,
hiểu biết và nghiệp vụ quản lý, kinh doanh để có thể thực hiện các hoạt động du lịch một
cách bài bản và chuyên nghiệp.
3.3.4. Khuyến nghị với các công ty du lịch
- Có ý thức nghiên cứu, xây dựng các sản phẩm du lịch nông thôn gắn với việc
khai thác giá trị của ruộng bậc thang và các nét văn hóa tiêu biểu khác của cộng đồng dân
tộc thiểu số tại Mù Cang Chải theo hướng phát triển bền vững, tăng cường hợp tác với
chính quyền địa phương trong việc phát triển sản phẩm du lịch và tìm kiếm thị trường,
đem lại hiệu quả cao về kinh tế và xã hội cho cả hai bên.
- Chú trọng cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý, công bằng cho cộng đồng dân tộc thiểu
số cũng như các bên tham gia.
- Tuyên truyền cho khách du lịch ý thức bảo tồn và tôn trọng tài nguyên du lịch tự
nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn tại địa phương.
3.3.5. Khuyến nghị đối với du khách
và Phát triển Nông thôn, các chính quyền địa phương, cộng đồng địa phương và các
doanh nghiệp lữ hành.
References.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2008) – Kinh tế du lịch – NXB Đại học
Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
2. Nguyễn Hồng Giáp (2002) - Kinh tế du lịch - NXB Trẻ, Hà Nội
3. Nguyễn Trường Giang (2005) – Quá trình khai khẩn ruộng bậc thang ở Sa Pa
(Luận án tiến sĩ), Hà Nội
4. Nguyễn Đình Hòe (2001) - Du lịch bền vững - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
23
5. Bùi Thị Lan Hương (2007) - Khảo sát tiềm năng và đề xuất giải pháp phát triển
loại hình du lịch nông thôn bền vững cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc
Dự án nghiên cứu, Trường Quản lý cán bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
6. Nguyễn Kim Lê (2007) - Hồ sơ di tích Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, Yên Bái
7. Hoàng Lương (2005) – Văn hóa các dân tộc Tây bắc – NXB Đại học Văn Hóa Hà
Nội, Hà Nội
8. Đổng Ngọc Minh và cộng sự (2001), Kinh tế du lịch và Du lịch học – NXB Trẻ,
Hà Nội.
9. Bùi Xuân Nhàn (2009) – Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay, Tạp chí
cộng sản số 9 tháng 9 năm 2009
10. Trần Đức Thanh (2003) – Nhập môn khoa học du lịch – NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
11. Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (1999) - Địa lý du lịch – NXB Thành phố HCM,
Tp. Hồ Chí Minh.
12. Cầm Trọng và cộng sự (1998) – Văn hóa và Lịch sử người Thái ở Việt Nam -
hospitality, La Trode University,
27. Margaret M. Calderon (2008): Towards the Development of a Sustainable
Financing Mechanism for the Conservation of the Ifugao Rice Terraces
(
28. Page J., Getz D., (1997) - The Business of Rural Tourism – Thomson Business
Express, London,
29. Richard Buck (2008): Rural Tourism and Agri-Tourism A practical approach to
niche tourism, Aronto Publishing, Canada
30. Tribe J., et al (2000) - Environmental management for rural tourism and
recreation, Cassel, London.
31. Unesco Bangkok 2008: The effects of tourism on Culture and the Environment in
Asia and the Pacific: Sustainable Tourism and the Preservation of the World
Heritage Site of the Ifugao Rice Terraces,
Philipines.(
32. Yu Gao at el (2007): The Role of Tourism in Sustainable Development – A case
study in Yunnan, China - Paper presented at the 13
th
Annual International
Substainable Development Research Conference, Vasteras, Sweden 9
th
– 12
th
June, 2007 (
33. Winter M., (1997) - Conflict and practise in rural tourism, Butterworth-
Heinemann, Lodon
Websites: