1
2 Hệ thống đào tạo trực tuyến đang phát triển rất mạnh trong thời gian gần đây
trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trên thế giới, khái niệm e-Learning đã quen
thuộc từ khá lâu, còn ở Việt Nam, khái niệm này cũng đang được phổ cập mạnh
mẽ với sự vào cuộc của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong những năm gần đây khi vấn
đề e-Learning đang trở thành vấn đề hết sức cần thiết của ngành giáo dục. Giải ba
của nhóm Tự lập của ĐHBKHN với đề tài e-Learning tại cuộc thi tin học uy tín
nhất Việt Nam “Trí tuệ Việt Nam” là một minh chứng cho thấy vấn đề này đang
trở nên ngày càng được quan tâm nhiều hơn ở nước ta.
I. Tng quan
1. E-Learning là gì?
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về e-Learning. Sau đây, xin trích
ra một số định nghĩa tiêu biểu nhất:
• E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên
công nghệ thông tin và truyền thông (
Compare Infobase Inc).
• E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, phân phối
hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông
khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (
MASIE Center).
II. Mô hình chc năng ca mt h thng đào to trc tuyn.
Mô hình chức năng xác định các thành phần cấu thành một hệ thống đào tạo
trực tuyến. Hiện nay trên thế giới có một số đề xuất về mô hình chức năng chẳng
hạn như SCORM, xác định mô hình chức năng tổng quát của một hệ thống quản lý
đào tạo LMS (Learning Management System), còn Sun Microsystems cũng giới
thiệu một mô hình chức năng đặc thù của họ. So sánh các mô hình chức năng này
với nhau, chúng tôi đề xuất một mô hình chức năng trong đó hê thống đào tạo
được phân tách thành 2 hệ thống, hệ thống quản lý nội dung LCMS (Learning
Content Managerment System) và hệ thống quản lý đào tạo LMS (Learning
Management System) để có thể quản lý các chức năng một cách rõ ràng, mạch lạc
hơn. Chúng tôi cũng xác định các learning object được trao đổi giữa mỗi thành
phần, các đối tượng này có quan hệ chặt chẽ với các chuẩn tồn tại hiện nay cho
một hệ thống đào tạo trực tuyến.
Để có được cái nhìn tổng quan về các chức năng của một hệ thống đào tạo trực
tuyến, ta sẽ xem xét một số mô hình chức năng đã được đề xuất, sau đó sẽ xem xét
mô hình chức năng có sự phân chia LMS thành LCMS và LMS.
1. Mô hình chức năng do Sun Microsystems đề xuất. 4 Hình 1. Mô hình chức năng của hệ thống đào tạo trực tuyến do Sun đề
xuất
tin mô tả này được gọi là các siêu dữ liệu (metadata), hoặc chính xác hơn là siêu
dữ liệu của các đối tượng kiến thức. Siêu dữ liệu được sử dụng để phục vụ cho
việc tìm kiếm, khai thác và phục hồi các đối tượng kiến thức.
Siêu dữ liệu và sự lưu trữ dữ liệu (Metadata and Content Storage)
Khi ta liên hệ với một thư viện truyền thống thì siêu dữ liệu tương tự như một
thẻ danh mục còn nội dung thì tương tự như các cuốn sách. Mặc dù trong thư viện,
các thẻ danh mục tách rời khỏi các cuốn sách và các kho chứa nội dung của thời
đại thông tin số thường chỉ chứa các siêu dữ liệu. Nội dung của các kho chứa bao
gồm rất nhiều dạng như dạng văn bản, đồ họa, các câu hỏi đánh giá, hình ảnh, hoạt
hình, mô phỏng, âm thanh và phim ảnh. Sự lưu trữ vật lý và phục hồi các đối
tượng nội dung có thể hoàn toàn tách rời khỏi sự lưu trữ và phục hồi của các siêu
dữ liệu về các đối tượng kiến thức đó. Tóm lại là, các đối tượng kiến thức có thể
được lưu trữ trên nhiều server với các đặc trưng khác nhau. Đây dường như là
cách tiếp cận mang tính công nghệ để đạt được sự hiệu quả cao trong việc chuyển
giao các nội dung thực tế đến người học và bởi vì các dữ liệu đa phương tiện khác
nhau đòi hỏi các loại server khác nhau.
Quản lý nội dung và dòng công việc (Content and Workflow Management)
Mặc dù việc này mới chỉ bắt đầu xảy ra nhưng các kho chứa dữ liệu có thể là
một phần của hệ thống quản trị nội dung hay có thể hỗ trợ cho các tính năng quản
lý nội dung như điều khiển phiên bản, đăng nhập/đăng xuất và sự phê chuẩn của
người quản lý khi có một nội dung mới được tạo ra. Các tính năng nhập/xuất cần
có để có thể chuyển giao các đối tượng hay các gói đối tượng giữa các hệ thống
cũng có thể được xem như là sự quản trị nôi dung. Các đối tượng kiến thức có thể tái sử dụng (Reusable Learning Objects)
mục này có thể được tích hợp với các kho chứa nội dung bình thường hay có thể là
một thành phần độc lập.
Các công cụ soạn thảo nội dung (Content Authoring Tools)
Các công cụ và dịch vụ soạn thảo nội dung (và các đánh giá) cho phép các
chuyên gia chủ đề và các nhà phát triển tài liệu hướng dẫn có thể tạo ra và sửa
chữa các đối tượng nội dung. Những nhà phát triển tài liệu hướng dẫn chuyên
nghiệp rõ ràng rất cần có các công cụ cung cấp cho họ một tập hợp các tính năng
phong phú trong khi các chuyên gia chủ đề được phục vụ tốt hơn bởi các công cụ
dễ dùng và dễ học, và chúng cũng cung cấp sẵn các mẫu chuẩn cho các nội dung
đang được phát triển. Các công cụ soạn thảo khác nhau được sử dụng để tạo và
định dạng cho các loại nội dung khác nhau như văn bản, đồ họa, hình ảnh, hoạt
7
hình, mô phỏng, âm thanh và phim ảnh. Các công cụ soạn thảo cần phải có khả
năng cho phép người thiết kế nội dung có thể xác định rằng dữ liệu đang tồn tại có
thể tái sử dụng hoặc sử dụng vào mục đích khác hơn là thiết kế và soạn thảo lại
hoàn toàn. Việc này yêu cầu những người thiết kế tài tiệu hướng dẫn, người cung
cấp nội dung và những người phát triển các khóa học phải cung cấp sự mô tả về
nội dung của họ một cách chính xác trong các siêu dữ liệu. Trong một môi trường
đào tạo lý tưởng, các công cụ soạn thảo tích hợp nhuần nhuyễn với các kho chứa
nội dung, cho phép họ có thể tìm kiếm, phục hồi, thay đổi, lưu trữ và thay thế các
đối tượng cũng như các siêu dữ liệu của chúng.
Ví dụ
Một trong các phần mềm soạn thảo nội dung được dùng nhiều hiện nay là
Lectora Publisher. Đây là phần mềm rất dễ học. Chỉ trong khoảng 30 phút bạn đã
có thể tạo nội dung học tập của riêng bạn. Bạn không cần biết kĩ năng về lập trình.
Bạn cũng có thể tạo được các bài kiểm tra. Đầu ra của quá trình tạo nội dung
bộ, các sự kiện đồng bộ và môi trường hợp tác.
Quản lý danh mục (Catalog Manager)
Quản lý danh mục là quá trình xác định nội dung học tập để chuyển tới các
người sử dụng khác nhau, thành lập kế hoạch học tập (các hướng để có thể được
cấp bằng, cấp chứng chỉ, các môn học để phát triển kỹ năng), luân chuyển tài
nguyên là cần thiết để hỗ trợ việc chuyển giao kiến thức, cơ sở hạ tầng ứng dụng
của một hệ thống đào tạo trực tuyến có vai trò thiết lập nên các quy trình thương
mại để đăng ký người học, tạo ra các danh mục người đăng ký để người có nhu
cầu có thể vào đăng ký trực tiếp. Các thành phần quản lý danh mục có các giao
diện điển hình cho phép những cá nhân được phép kích hoạt quá trình học tập và
thiết lập các quyền truy nhập, cấm truy nhập, thiết lập giá cả, và hơn nữa. Quản lý hồ sơ người học (Learner Profile Manager)
Trong một hệ thống đào tạo trực tuyến thì người học vẫn luôn là trung tâm và
do đó, một hệ thống đào tạo trực tuyến cần lưu giữ các thông tin về những người
học của mình. Thông tin này gồm có: dữ liệu cá nhân, kế hoạch học tập (kế hoạch
lấy bằng cấp chẳng hạn), lịch sử học tập, các chứng chỉ và bằng cấp, đánh giá về
kiến thức (kỹ năng và khả năng) và trạng thái của người học trong hệ thống (sự
đăng ký, tiến trình học như thế nào). Tất cả các thông tin này được gọi là hồ sơ
người học và hệ thống đào tạo trực tuyến cần phải có một bộ phận để quản lý các
hồ sơ này. Bộ phận quản lý hồ sơ người học phải cho phép các thành phần khác
của hệ thống sử dụng các thông tin của hồ sơ người học đồng thời phải luôn cập
nhật và có thể phục hồi các thông tin trên cơ sở các báo cáo của các thành phần
lõi của hồ sơ người học và được lưu trữ để theo dõi trong cả quá trình theo học.
Chúng ta xét tính năng lập kết hoạch đào tạo của phần mềm MindManager X5
Pro để có thể thấy rõ hơn về công việc này.
Hình 3. MindManager
10 Hình 4. Chức năng lập kế hoạch đào tạo của MindManager
Cán bộ đào tạo (Learner Registrar)
Thành phần cán bộ đào tạo cung cấp cho người học khả năng truy nhập vào các
đề nghị học tập và quản lý các tiến trình thương mại liên quan đến sự truy nhập đó.
Sự phức tạp của tiến trình có thể rất khác nhau, có thể đơn giản chỉ là việc người
học click lên biểu tượng danh mục, sau đó sẽ truy nhập được ngay, có thể là cả
một quá trình phức tạp gồm có sự phê chuẩn của người dạy, kiểm tra tính hợp lệ
của vị trí học viên, kiểm tra các điều kiên tiên quyết đã được định trước, tính toán
hóa đơn, quá trình thanh toán, hủy bỏ và bồi thường hợp đồng, …
Môi trường chuyển giao (Delivery Environment)
Môi trường chuyển giao cung cấp cho người học khả năng truy nhập vào nội
dung học tập và các thành phần khác của môi trường học tập như chat, email, câu
hỏi trắc nghiệm, công cụ biểu diễn và hiển thị dữ liệu đa phương tiện, các công cụ
Giúp giáo viên và học viên có thể tham gia trao đổi với nhau cùng một vấn
đề
Ví dụ
ICQ là một trong các phần mềm instant messenger đầu tiên (và cũng miễn phí).
Vào thời điểm này vẫn là một trong các phần mềm tốt nhất, khi so sánh với đối thủ
của nó là MS IM, nó có nhiều tính năng hơn. Bạn có thể vào phòng chat và gửi
message tức thì. Khi triển khai phục vụ cho việc đào tạo, thiết lập là một vấn đề vì
bạn cần mở hai cổng ở tường lửa. Một vài công ty sẽ không cho phép điều này. Để
có thêm thông tin hãy vào website của phần mềm
Màn hình ai đang online? Màn hình thiết lập trạng
thái
Màn hình gửi một
message 12
Ta xét thêm một ví dụ về một công cụ tạo diễn đàn. Công cụ tạo diễn đàn là các
công cụ dùng để tạo các diễn đàn thảo luận. Với diễn đàn, bạn có thể đưa các câu
hỏi lên, mọi người có thể vào đọc và trả lời câu hỏi của bạn nếu có thể. Ngoài ra,
các người tham gia diễn đàn có thể tạo ra các chủ đề thảo luận mới. Trong một hệ
thống đào tạo trực tuyến, công cụ tạo diễ đàn giúp:
•
Kích thích việc chia sẻ thông tin giữa các học viên
•
Hoạt động giống như FAQ. Các học viên có thể kiểm tra diễn đàn trước khi
e-learning, các tiếp cận mang tính công nghệ cho một phòng học ảo có rất nhiều
khác biệt so với môi trường chuyển giao các khóa học trên Web sử dụng chủ yếu
giao thức chuyển giao không đồng bộ. Các bộ máy đánh giá và kiểm tra (Assessment and Testing Engines)
13
Việc kiểm tra và đánh giá có thể được tích hợp với nội dung học tập và chuyển
giao cùng với nó, hoặc cũng có thể quản lý như một quy trình riêng biệt. Trong
mỗi trường hợp, sự đánh giá và kiểm tra là các bộ phận thiết yếu của bất cứ môi
trường giáo dục nào, và sự lưu trữ, lắp ghép, chuyển giao và ghi nhận các đánh giá
thường được đảm trách bằng một bộ phận riêng biệt gọi là bộ máy đánh giá.
Các bộ máy đánh giá điển hình thường bao gồm các khả năng đánh giá của các
tác giả và có thể được sử dụng để tạo ra các ngân hàng câu hỏi từ mỗi đánh giá (và
điều tra) đã được liên kết lại. Quy trình ghép nối có thể bao gồm việc lựa chọn
ngẫu nhiên các câu hỏi dựa trên các tiêu chí đánh giá cho dù sự lựa chọn các câu
hỏi cần phải có sự tương thích với các kết quả trước đó. Các loại câu hỏi cung cấp
bởi bộ máy đánh giá là rất đa dạng cho dù các câu hỏi trắc nghiệm với chỉ một đáp
án đúng vẫn chiếm một số lượng lớn.
Ví dụ
Questionmark là một nhân vật rất lâu đời, rất có tiếng trong lĩnh vực e-Learning,
đặc biệt là về cung cấp phần mềm hỗ trợ tạo các bài kiểm tra. Môi trường tạo bài
thi mà công ty đưa ra có rất nhiều tính năng. Ngoài ra các phần mềm rất dễ dùng,
tốn rất ít thời gian để đào tạo. Điều bạn cần là phương pháp giảng dạy và kiến thức
chuyên môn. Để tìm hiểu kĩ hơn hãy vào website của công ty
www.questionmark.com
• Quản lý hồ sơ người học (Learner profile manager)
• Quản lý danh mục các đề nghị của học viên(Learning offering catalog manager)
• Công cụ lập kế hoạch học tập (Learning planner)
• Cán bộ đào tạo (Learner registrar)
• Kết nối vào môi trường chuyển giao để chuyển giao các đề nghị học tập
(Connection to delivery environment for delivery of learning offerings)
• Giám sát sự chuyển giao/tham gia (Delivery/participation tracking)
• Giám sát sự đánh giá và kiểm tra (Assessment and testing tracking)
• Các công cụ phân quyền đánh giá (Assessment authoring tools)
• Các bộ liên kết, ghép nối nội dung (Content assembler)
Thực chất, hệ thống quản lý các quá trình học có nhiệm vụ quản lý môi trường
học tập, cung cấp không gian để giúp cho việc tổ chức và giới thiệu nội dung tới
người học, quản lý các kế hoạch học tập, theo dõi, giám sát các hoạt động và kết
quả của quá trình học tập.
Các nhà cung cấp LMS hiện nay đang tiến những bước vững chắc trong việc
mở rông thị trường của họ bằng việc tích hợp các công cụ quản lý truy nhập, công
cụ đánh giá và công cụ chuyển giao, phân phối vào các sản phẩm của họ.
Ví dụ
LUIVT là một sản phẩm của Thụy Điển, được phát triển trong một trường đại học.
Đây là một LMS rất dễ sử dụng, đặc biệt phù hợp với thị trường giáo dục. Hơn
nữa, giao diện rất sáng sủa và có thể điều chỉnh theo ý thích của bạn và LMS hỗ
trợ hơn 10 ngôn ngữ. Để có thêm thông tin hãy vào website của họ. Màn hình giới thiệu ban đầu Màn hình quản lý các quá
• Các công cụ lắp ghép nội dung
• Các công cụ kiểm tra nội dung cũng có thể đi kèm với LCMS
• Công cụ kiểm soát truy nhập được tích hợp để hỗ trợ việc đăng ký, lưu trữ và
phục hồi các đối tượng theo bất kỳ tiêu chuẩn của các công cụ kiểm soát truy
nhập nào.
• Một kho chứa nội dung các siêu dữ liệu (metadata) được kích hoạt (bao gồm
thiết bị lưu trữ với một số chức năng quản lý nội dung và danh mục đề
nghị).
• Một trình quản lý hồ sơ học viên đơn giản, mặc dù các trình này thường rất
trong các sản phẩm LCMS thường rất phức tạp.
• Một hệ thống phân phối nội dung cho phép hệ thống LCMS định vị, phục hồi,
và giúp cho các đối tượng tương ứng phù hợp với môi trường chuyển giao.
Rất nhiều các sản phẩm LCMS tích hợp tất cả các thành phần trên và dựa trên
mô hình thiết kế giáo dục hay các lý thuyết đào tạo. Một công cụ khác có thể được
tích hợp vào các sản phẩm LCMS đó là công cụ phục vụ cho việc chuyển đổi các
17
tài liệu có định dạng StarOffice, PowerPoint, hay Word thành các đối tượng kiến
thức có thể được sử dụng bởi một hệ thống quản lý nội dung.
Việc định nghĩa một hê thống LCMS như là một họ sản phẩm tách rời dường
như là một sự việc kỳ lạ. Mức độ phức tạp xung quanh việc lập kế hoạch học tập
và thương mại hóa các đề nghị thành các quy tắc kinh doanh và các quy trình kinh
doanh trong các sản phẩm LCMS thấp hơn nhiều so với trong các sản phẩm LMS,
nhưng mức độ phức tạp của việc quản lý nội dung và quản lý đối tượng kiến thức
thì lại cao hơn rất nhiều. Và quả thực hiện nay, các nhà cung cấp hệ thống LMS
đang bắt đầu đề nghị tích hợp các sản phẩm LCMS vào sản phẩm LMS còn các
nhà cung cấp các sản phẩm LCMS cũng đã bắt đầu xây dựng các tính năng LMS
cho các hệ thống của họ. Một số nhà cung cấp nội dung (các nhà xuất bản), các
nhà cung cấp các công cụ kiểm soát truy nhập, và các nhà cung cấp môi trường
Hình 7. Tái sử dụng
•
Hỗ trợ đa truy nhập.
Hình 8. Đa truy nhập
•
Quản lý hiệu quả nội dung. Hình 9. Quản lý nội dung
•
Có các tính năng che dấu tài nguyên.
19
Hình 10. Che dấu tài nguyên 2.3. Mô hình phối hợp hoạt động giữa LCMS và LMS
Hình 11. Phối hợp hoạt động của LMS và LCMS 20
hơn. Vì vậy, việc đưa ra các tiêu chuẩn cho các hệ thống đào tạo trực tuyến là rất
cần thiết. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề cần chuẩn hóa trong
một hệ thống đào tạo trực tuyến.
1. Định nghĩa chuẩn
1.1 Định nghĩa chuẩn
ISO định nghĩa chuẩn như sau :
“ Các thoả thuận trên văn bản chứa các đặc tả kĩ thuật hoặc các tiêu chí chính
xác khác được sử dụng một cách hệ thống nhất như các luật , các chỉ dẫn, hoặc các
định nghĩa của các đặc trưng , để đảm bảo các vật liệu, sản phẩm, quá trình và các
dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng”.
21
1.2 Sự khác nhau giữa chuẩn (standard) và đặc tả (specification)
Một lỗi thường gặp là nhầm lẫn giữa thuật ngữ “Chuẩn” (standard) và “Đặc
tả”( specification). IEEE giải thích sự khác biệt này như sau:
- Chuẩn là một đặc tả được phát triển và công nhận bởi các uỷ ban chuẩn được
công nhận trên thế giới. Các tổ chức mà thực hiện công việc kiển như thế này
được gọi là Standards Development Organization(SDO). Ví dụ về các uỷ ban
này là : IEEE, ISO, IEC, ITU, ANSI, BSI, CSA, JIS, DIN và CEN.
- Đặc tả được phát triển bởi các uỷ ban không được công nhận bởi thế giới .
Một vài ví dụ về các uỷ ban như : IEFT(Internet Engineering Task Force),
W3C(World Wide Web Consortium), OMG (Object Management Group).
Có thể tóm tắt sự khác biệt như bảng dưới đây
Đặc tả Chuẩn
cập nội từ mọi nơi mà thậm chí không phụ thuộc vào công cụ chúng ta dùng
tại nơi đó. Do đó, chúng ta có thể sử dụng các LMS khác nhau để truy cập
vào cùng nội dung. Và ngược lại , với một LMS có thể sử dụng nhiều nội dung
tạo bởi các công cụ khác nhau.
- Tính tương thích ( Adaptability): Các chuẩn cũng giúp việc đưa ra các nội
dung học tập phù hợp với từng cá nhân. Một ví dụ là Meta-data . Nếu chúng ta
sử dụng meta-data giống nhau để mô tả nội dung thì có thể xác định chính xác
những gì học viên cần. Một LMS/LCMS hiểu meta-data sẽ có khả năng hiểu
và sử dụng các thông tin có trong meta-data, từ đó phân phối nội dung phù
hợp với yêu cầu của từng học viên.
- Khả năng sử dụng lại( Re-usability): Chỉ với việc chuẩn hoá chúng ta mới có
thể sử dụng lại nội dung chúng ta phát triển hoặc mua. Điều này giúp chúng ta
có thể sử dụng lại các nội dung cũ khi nâng cấp các công nghệ LMS. Đồng
thời cũng giảm chi phí và thời gian phát triển nội dung mới.
- Tính giảm chi phí (Affordability): Với các lí do trên, rõ ràng là nếu người bán
nội dung và hệ thống quản lí tuân theo chuẩn, hiệu quả học tập sẽ tăng rõ rệt,
thời gian và chi phí giảm. Do đó, ROI(Return On Investment) sẽ tốt hơn nhiều. 23
3. Các chuẩn trong hệ thống E-Learning.
3.1 Tổng quan
Trước tiên, chúng ta xem các loại chuẩn chính và chúng hỗ trợ tính khả chuyển
như thế nào trong hệ thống học tập. Chúng ta nhìn nhận trên quan điểm của hai
phía, phía học viên và phía người sản xuất khoá học.
Cùng với một số chuẩn khác, các loại chuẩn đã cùng nhau đóng góp tạo ra các
giải pháp e-Learning có chi phí thấp , hiệu quả và mang lại sự thoải mái cho mọi
người tham gia e-Learning.
3.2 Chuẩn đóng gói (Packaging Standard)
a) Chuẩn đóng gói e-Learning bao gồm
- Cách để ghép nhiều đơn vị nội dung khác nhau thành một gói nội dung nhất.
Các đơn vị nội dung có thể là các khoá học, các file HTML, ảnh, multimedia,
style sheet và mọi thứ khác xuống đến một icon nhỏ nhất.
- Gồm thông tin mô tả tổ chức của một khoá học hoặc module sao cho có thể
nhập vào được hệ thống quản lí và hệ thống quản lí có thể hiển thị một menu
mô tả cấu trúc của khoá học và học viên sẽ học dựa trên menu đó.
- Gồm các kĩ thuật hỗ trợ chuyển các khoá học hoặc module từ hệ thống quản lí
này sang hệ thống quản lí khác mà không phải cấu trúc lại nội dung bên trong
b) Chuẩn đóng gói nội dung trong SCORM
Cả SCORM và IMS đều dùng đặc tả IMS Content and Packaging. Bộ công cụ
Microsoft LRN Toolkit hỗ trợ đặc tả này.
25 Hình 14. Đặc tả gói nội dung theo chuẩn SCORM