TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CA HUẾ
Ca Huế là một bộ phận nằm trong tổng thể âm nhạc Huế gồm nhiều loại hình khác nhau : Nhạc
cung đình, nhạc dân gian, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng phổ biến ở Huế và vùng
chung quanh.
Ca Huế, hiểu theo nghĩa hẹp, gồm đàn Huế và ca Huế (chúng tôi dùng từ ca Huế ở đây bao gồm
cả ca và đàn Huế). GS Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hoá sử cương viết : "Ở miền Nam thì từ
khi chúa Nguyễn khai thác bờ cõi vào đất của Chiêm Thành, âm nhạc ở Bắc truyền vào đã chịu
ảnh hưởng của âm nhạc Chiêm Thành, mà thành những âm nhạc cung nam mà người ta hay
đem đối với các khúc cung bắc.
Những cung nam như nam ai, nam bình, nam xuân có vẻ trầm bi oán vọng, hợp với tâm thuật
của một dân tộc điêu tàn là dân tộc Chiêm Thành, cùng với cảnh non nước dịu dàng ở xung
quanh kinh đô. Những cung bắc (khách) như lưu thuỷ, phú lục, cổ bản, mười bản tàu, thì có vẻ
linh hoạt, vui vẻ và mạnh mẽ hơn thích hợp với tính cách tiến thủ hăng hái của người Bắc Việt,
cùng với cảnh đồn điền rộng rãi sông ngòi mãnh liệt ở miền trung châu.
Trong khi âm nhạc ở Đàng Ngoài đương suy thì ở Đàng Trong nhờ các chúa Nguyễn cùng các
bậc vương công ham chuộng và nhờ ảnh hưởng Chiêm Thành, nên trở nên phong phú và thịnh
vượng. Nhiều nhà quý phái như ông hoàng Nam sánh. ông phò Trần Quang Phổ ở đời Tự Đức là
tay danh cầm xưa nay không ai hơn nổi"(1).
Như vậy, theo GS Đào Duy Anh, ca Huế chịu ảnh hưởng của hai nguồn âm nhạc : Trung Quốc
và Chiêm Thành. ảnh hưởng của nhạc Trung Quốc là do người ngoài Bắc tràn vào đem theo
nhạc Việt chịu ảnh hưởng lâu đời của nhạc Trung Quốc từ những lần giao thoa văn hoá. Đến khi
chúa Nguyễn khai thác bờ cõi vào đất Chiêm Thành thì nguồn nhạc ấy lại chịu thêm một lần ảnh
hưởng nữa : đó là những cung Nam trong ca Huế.
GS. TSKH Tô Ngọc Thanh nhận xét thêm một tính chất nữa của ca Huế : "Đặc biệt là ở Huế, nơi
từng là căn cứ của họ Nguyễn nhiều thế kỷ và là kinh đô của triều Nguyễn trong hơn một thế kỷ
(1802-1945) xuất hiện những loại hình âm nhạc có liên hệ với âm nhạc cung đình và phần nào
đã mang tính chất âm nhạc thành thị, thị dân. Điển hình là chương trình ca Huế. Mặc dù ca Huê'
không phải là loại âm nhạc cung đình, song nó là thứ âm nhạc trình diễn, là một sinh hoạt nghệ
thuật thực sự. Nó không còn gắn với các hoạt động thực dụng trong đời sống hàng ngày. Để
chiếm ảnh và biểu diễn nó, cần phải có tài năng của các nghệ nhân. Cùng với ca Huế, dàn nhạc
Ca Huế phải chăng là nhạc cung đình ? hoặc có liên hệ với nhạc cung đình ? Đó là điều cần
minh chứng khi tìm hiểu. Ta đã biết triều các vua Nguyễn, nhạc cung đình đã được dùng trong
các nghi lễ, tế tự ở triều đình.
Triều Nguyễn, các loại nhạc cung đình như nhã nhạc, giao nhạc, miếu nhạc, đại triều nhạc,
thường triều nhạc, yến nhạc, tiểu nhạc, cung trung nhạc đều có hệ thống bài bản riêng, điệu
múa riêng và một số nhạc khí riêng, không thể lẫn lộn với ca Huế được. Ví dụ loại Cung trung
nhạc có những bài bản như : Sùng khánh, tập khánh, chương khánh, bảo khánh, thành khánh
được tấu liên tục trong buổi lễ Từ thọ cung lục tuần đại khánh tiết. Đoàn nhạc sinh đội khăn mũ
màu xanh, mặc áo hoa, múa với các đạo cụ trống đào, sênh tiền, đàn tranh, đàn nguyệt,. cầm, tì
bà, địch, sáo và đàn 8 dây, 2 dây. Tuần chúc thọ lần đầu, sau khi tấu nhạc, đoàn nhạc sinh múa
cành hoa xanh, tuần thứ hai múa cành hoa đỏ, tuần thứ ba múa cành hoa vàng. Khi ngự hồi vua
về cung múa quả tiên đào(3)
Nhạc khí của Cung trung nhạc gồm có trống đào, sênh tiền, đàn tranh, đàn nguyệt, cầm, tì bà,
địch, sáo, đàn 3 dây, 2 dây, trong khi ca Huế cũng có loại đàn sáo đó nhưng không hề sử dụng
trống. Nhạc khí của nhã nhạc cung đình có nhiều loại xa lạ với ca Huế như : Một bộ nhã nhạc : 1
trống mảnh, 1 đàn tì bà, 1 đàn nguyệt, 1 đàn 2 dây, 1 trống dính, 1 nhị tam âm, cái sênh tiền, 1
bộ nhạc treo, 1 kiến cổ, 1 chuông to, 1 khánh lớn, chuông nhỏ 12 cái, bác phụ 1 cái, chúc 1 cái,
trống 1 cái, đàn cầm 2 cái, đàn sắt 2 cái, bài tiêu 2 cái, ống tiêu 1 cái, ốc đinh 2 cái, sênh 2 cái,
huấn 2 cái, trì 2 cái, phách bản 2 cái "(4).
Trong vốn liếng của ca nhạc Huế có mười bài liên hoàn gọi là mười ngự (liên bộ thập chương)
do nhạc công trong ban tiêu nhạc của triều đình nhà Nguyễn tấu lên trong những dịp sinh hoạt
công cộng, ví dụ những khi kiệu vua ra vào cung điện để làm lễ. Nhưng mười bài ngự đó không
phải là những bài bản tiêu biểu cho nhạc cung đình mà chỉ là những bài bản vay mượn từ ca
nhạc Huê' và bị cung đình hoá.
Trong giai đoạn hình thành của ca Huế, giữa nhạc cung đình và ca nhạc Huế có sự vay mượn
lẫn nhau, vì trong giai đoạn này, sinh hoạt trong ca nhạc Huế nằm trong phạm vi cung đình.
Chính các chúa Nguyễn, và sau này, vua Nguyễn đã nuôi dưỡng các nghệ nhân ca Huế, chuyển
biến ca Huế thành một thú tiêu khiển tài hoa phong nhã ở kinh đô.
GS Trần Văn Khê cho rằng ca nhạc Huế gần gũi với loại cung trung nhạc ở triều đình, nhất là ở
cách sử dụng loại đàn nguyệt, một cây đàn mà ca Huế thường dùng "Trong các loại nhạc triều
rước, các cuộc tế lễ. Một số bài ca Huế lại có mặt trong các dịp sinh hoạt công cộng của triều
đình nhà Nguyễn trước Cách mạng tháng Tám với mười bài Ngự. Như thế có thể nói ca Huế
không đơn thuần và nhất thiết là nhạc thính phòng.
Từ một số nhận xét trên, có thể nhận định : Do tính chất và đặc điểm của nó, ca nhạc Huế thuộc
loại nhạc cổ điển do nhân dân sáng tạo ra. Tính cổ điển của ca nhạc là ở chỗ :
1. Nó có những hệ thống bài bản điêu luyện, hoàn chỉnh và mẫu mực, có cấu trúc rất chặt chẽ,
nghiêm ngặt và tính khoa học cao. Ví dụ mỗi bài bản ca nhạc Huế thường được chia thành nhiều
đoạn hay sáp, có khi sáp dưới lập lại giống sáp trên, hoặc biến thể đi ít nhiều, chẳng khác chi các
hình thức đoạn đổi (couplets), đoạn điệp (refrains), chủ đề và biên tấu (thèmes ét variations)
trong nhạc cổ điển phương Tây.
Một bài bản ca nhạc Huế, do những cách tấu nhạc và cách ca khác nhau, có thể sinh ra nhiều dị
bản : như phú lục đường, phú lục chậm, phú lục nhanh, nam bình thường, nam bình dựng, nam
ai cổ, nam ai nay, cổ bản thường, cổ bản xuân, cổ bản dựng, cổ bản xắp
2. Ca nhạc Huế có hai điệu chính là những điệu nam và những điệu bắc (còn gọi là điệu khách),
những điệu này lại gồm nhiều hơi (có khi còn gọi là giọng). Cái hơi đó, theo cách gọi của các
nghệ nhân, gồm có : Hơi ai (bài Nam ai : điệu Nam hơi ai), Hơi oán (bài hành vân : điệu Nam hơi
oán, bài tứ đại oán, bài chinh phụ ), Hơi xuân bài Nam xuân : điệu Nam hơi xuân), Hơi dựng
(bài Nam bình dựng, bài cổ bản dựng), Hơi quảng (ví dụ những bài bản bị ảnh hưởng ít nhiều
bởi âm nhạc miền Nam Trung Quốc), Hơi đảo (những bài điệu Bắc với nhiều đoạn chuyển hệ) có
người gọi hơi đảo là nhịp đảo, Hơi nhạc (những bài bản mang phong cách trang trọng như bài
Phú lục), Hơi thiền (những bài bản chịu nhiều ảnh hưởng các bài bản tán và tụng trong âm nhạc
Phật giáo). Mỗi hơi nhạc đó nói lên một sắc thái tình cảm, một trạng thái tâm hồn, một phong
cách, một nhạc cảnh khác nhau.
3. Trong ca nhạc Huế có nhiều loại nhịp như : nhịp chính diện, nhịp nội, nhịp ngoại, nhịp chói;
nhiều chỗ đảo phách (syncopes) - chuyển nhịp, chuyển điệu, chuyển hệ (métaboles).
4. Trong ca nhạc Huế có nhiều loại nhịp độ (mouvements) khác nhau như : hoãn điệu (lento);
bình điệu (moderato); ấp điệu (presto).
5. Trong ca nhạc Huế có nhiều loại nhạc khí có thể hoà tấu với nhau như đàn nguyệt, đàn nhị,
đàn tỳ bà, đàn tranh, đàn tam, đàn bầu, sáo, sênh, sênh tiền. Thường thường các nhạc khí sau
đây được hoà tấu với nhau :
Về xuất xứ trực tiếp của ca nhạc Huế, có thể thấy nó là một loại âm nhạc mang nhiều màu sắc
địa phương. Nhạc điệu và nhất là giọng ca Huế rõ ràng là phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của
người vùng Huế. Không thể ca Huế với giọng Bắc, giọng Nghệ, giọng Quảng, hay giọng Nam Bộ,
mà nhất thiết phải với giọng Huế của người Huế - Trị Thiên.
Vậy tên gọi của nó đã nói lên rằng quê hương của ca nhạc Huế chính là xứ Huế, tức là vùng
Thuận Hoá cũ, vùng kinh đô của Phú Xuân ngày trước. Sau này, vì cùng trong một vùng phát
âm, người Quảng Trị cũng có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ca Huế, nâng cao ca Huế trở
thành một nghệ thuật mang tính địa phương sâu sắc, đóng góp vào vườn hoa nghệ thuật đầy
sắc màu rực rỡ của dân tộc.
Tôn Thất Bình
(theo tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 8 - năm 2001)