Thiết kế chương trình điều khiển trạm trộn bê tông - Pdf 96

MỤC LỤC
Chương I: Khái niệm và phân loại bê tông
Chương II: Thuyết minh nguyên lý hoạt động của mạch điều khiển trạm trộn bê
tông và chức năng các phần tử của trạm
Chương III: Giới thiệu PLC và ứng dụng PLC
Chương IV: Thiết kế chương trình điều khiển trạm trộn bê tông
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ TRẠM TRỘN BÊ TÔNG THƯƠNG PHẨM.

1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI BÊ TÔNG.
1.1. Khái niệm.

Bê tông là một hỗn hợp được tạo thành từ cát, đá, xi măng, nước. Trong
đó cát, đá chiếm 80%÷85%, xi măng chiếm 8%÷15%, còn lại là khối lượng
nước. Ngoài ra còn có thêm phụ gia vào để thoả mãn yêu cầu đặt ra.
Hỗn hợp vật liệu mới nhào trộn xong gọi là hỗn hợp bê tông, hỗn hợp bê
tông phải có độ dẻo nhất định, tạo hình và dầm chặt được dễ dàng.
Cốt liệu có vai trò là bộ khung chịu lực, vữa xi măng và nước bao bọc
xung quanh đóng vai trò là chất kết dính, đồng thời lấp đầy khoảng trống của cốt
liệu. Khi rắn chắc, hồ xi măng kết dính các cốt liệu thành một khối đá và được
gọi là bê tông. Bê tông có cốt thép gọi là bê tông cốt thép.

1.2. Phân loại.
Bê tông có nhiều loại, có thể phân loại như sau:
*Theo cường độ ta có:
 Bê tông thường có cường độ từ 150 ÷ 400 daN/cm
2

 Bê tông chất lượng cao có cường độ từ 500 ÷ 1400 daN/ cm
2
*Theo loại kết dính:

(0,14÷5) mm theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), từ (0,15÷4,75) mm theo tiêu
chuẩn Mỹ, từ (0,08÷5) mm TCVN. Lượng cát khi trộn với xi măng và nước, phụ
gia phải được tính toán hợp lý, nếu nhiều cát quá thì tốn xi măng không kinh tế
và ít cát quá thì cường độ bê tông giảm.
3
1.3.3. Cốt liệu lớn - đá dăm hoặc sỏi.
Sỏi có mặt tròn, nhẵn, độ rộng và diện tích mặt ngoaì nhỏ nên cần ít nước,
tốn xi măng mà vẫn dễ đầm, dễ đổ nhưng lực dính bám với vữa xi măng nhỏ nên
cường độ bê tông sỏi thấp hơn bê tông đá dăm. Ngược lại đá dăm được đập vỡ
có nhiều góc cạnh, diện tích mặt ngoài lớn và không nhẵn nên lực dính bám với
vữa xi măng lớn tạo ra được bê tông có cường độ cao hơn. Tuy nhiên mác của xi
măng đá dăm phải cao hơn hay bằng mác của bê tông tạo ra hay bê tông cần sản
xuất.
1.3.4. Nước.
Nước để trộn bê tông (rửa cốt liệu, nhào trộn vệ sinh buồng máy, bảo
dưỡng bê tông) phải đảm bảo không ảnh hưởng xấu đến thời gian đông kết và
thời gian rắn chắc của xi măng và không ăn mòn thép.. Nước sinh hoạt là nước
có thể dùng được .
Lượng nước nhào trộn là yếu tố quan trọng quyết định tính công tác của
hỗn hợp bê tông. Lượng nước dùng trong nhào trộn bao gồm lượng nước tạo hồ
xi măng và lượng nước do cốt liệu. Lượng nước trong bê tông xác định tính chất
của hỗn hợp bê tông. Khi lượng nước quá ít, dưới tác dụng của lực hút phân tử
nước chỉ hấp thụ trên bề mặt vật rắn mà chưa tạo ra độ lưu động của hỗn hợp,
lượng nước tăng đến một giới hạn nào đó sẽ xuất hiện nước tự do, màng nước
trên mặt vật rắn dày thêm, nội ma sát giảm xuống, độ lưu động tăng thêm, lượng
nước ứng với lúc bê tông có độ lưu động lớn nhất mà không bị phân tầng gọi là
khả năng giữ nước của hỗn hợp.
Nước biển có thể dùng để chế tạo bê tông cho những kết cấu làm việc
trong nước bẩn nếu tổng các loại muối trong nước không vượt quá 35g trong
một lít nước. Tuy nhiên cường độ bê tông sẽ giảm và không được sử dụng trong

lạc hậu thì việc có được một khối lượng bê tông lớn chất lượng tốt là điều rất
khó khăn .
Chính vì vậy để thiết kế những dây chuyền bê tông tự động là điều cần
thiết cho mỗi công trường cũng như ngành xây dựng trong nước.
*Một trạm trộn gồm có 3 bộ phận chính:
Bộ phận chứa vật liệu và nước, bộ phận định lượng và máy trộn. Giữa các
bộ phận có các thiết bị nâng, vận chuyển và các phễu chứa trung gian.
5
Công nghệ sản xuất bê tông nói chung tương tự nhau:
Vật liệu sau khi định lượng được đưa vào trộn đều. Trong trường hợp kết
hợp sản xuất bê tông và vữa xây dựng trong một dây chuyền thì có thể giảm
được 32% diện tích mặt bằng, từ 30%÷50% công nhân, từ 8%÷19% vốn đầu tư
thiết bị. Một nhà máy bê tông và vữa liên hiệp có hiệu quả cao khi lượng bê tông
và vữa cung cấp không quá 300.000 m
3
/ năm.
1.4.2. Cấu tạo chung của trạm trộn.
Một trạm trộn gồm có 3 bộ phận chính: Bãi chứa cốt liệu, hệ thống máy
trộn bê tông và hệ thống cung cấp điện.
1.4.2.1. Bãi chứa cốt liệu.
Bãi chứa cốt liệu là một khoảng đất trống dùng để chứa cốt liệu (cát, đá
to đá nhỏ) ở đây cát, đá to, đá nhỏ được chất thành các đống riêng biệt.
Yêu cầu đối với bãi chứa cốt liệu phải rộng và thuận tiện cho việc
chuyên chở cũng như lấy cốt liệu đưa lên máy trộn.
1.4..2.2. Hệ thống máy trộn bê tông.
Hệ thống máy trộn bê tông bao gồm hệ thống thùng chứa liên kết với hệ
thống định lượng dùng để xác định chính xác tỉ lệ các loại nguyên vật liệu cấu
tạo nên bê tông. Băng tải dùng để đưa cốt liệu vào thùng trộn và gồm máy bơm
nước, máy bơm phụ gia, xi lô chứa xi măng, vít tải xi măng, thùng trộn bê tông,
hệ thống khí nén.

trộn bê tông nào chỉ cần chúng đảm bảo mối tương quan về năng suất với các
thiết bị khác. Để phục vụ cho công tác bê tông yêu cầu khối lượng lớn, tập trung,
đường xá vận chuyển thuận lợi, cự ly vận chuyển dưới 30 km thì sử dụng trạm
này là kinh tế nhất.
Trong trường hợp vừa có các công trình tập trung yêu cầu khối lượng lớn,
vừa có các điểm xây dựng phân tán đặc trưng cho các đô thị Việt Nam cần sử
dụng sơ đồ hỗn hợp, vừa cấp hỗn hợp khô cho các công trình nhỏ, phân tán
đường xá lưu thông kém. Nếu cung cấp bê tông thì phải dùng ôtô trộn còn cung
cấp hỗn hợp khô thì việc trộn sẽ được tiến hành trên đường vận chuyển hay tại
nơi đổ bê tông.
1.5.2. Trạm tháo lắp di chuyển được.
7
Dạng này có thể tháo lắp di chuyển dễ dàng, di động phục vụ một số vùng
hay công trình lớn trong một thời gian nhất định. Thiết bị công nghệ của trạm
thường được bố trí dạng 2 hay nhiều công đoạn, nghĩa là vật liệu được đưa lên
cao nhờ các thiết bị ít nhất là 2 lần. Thường trong giai đoạn này phần định lượng
riêng và phần trộn riêng, giữa hai phần được nối với nhau bằng thiết bị vận
chuyển (gầu vận chuyển, băng tải xe, xe vận chuyển).
Vật liệu được đưa lên cao lần đầu nhờ máy xúc, gàu xúc băng
chuyền....vào các phễu riêng biệt sau đó là quá trình định lượng. Tiếp theo vật
liệu được đưa lên cao lần nữa để cho vào máy trộn.
Cũng như dạng trên, trong dây chuyền có thể lắp bất cứ loại máy trộn nào
miễn là đảm bảo mối tương quan về năng suất và chế độ làm việc của các thiết
bị khác. Cửa xả phải cao hơn cửa nhận bê tông của thiết bị vận chuyển (nếu tháp
cao hơn phải đưa lên cao một lần nữa). So với dạng cố định loại trạm này có độ
cao nhỏ hơn nhiều (từ 7m÷10m) nhưng lại chiếm mặt bằng khá lớn. Phần diện
tích dành cho khu vực định lượng, phần diện tích dành cho trộn bê tông và phần
nối giữa hai khu vực dành cho vận chuyển. Trên thực tế, tổng mặt bằng cho loại
trạm này nhỏ hơn vì chúng có sản lượng nhỏ hơn nên bãi chứa cũng nhỏ hơn.
Khi xây dựng các công trình phân tán, đường xấu, lưu thông xe không tốt

hoặc các sản phẩm yêu cầu chất lượng cao.
 Theo cấu tạo thì trong các máy trộn cưỡng bức hiện nay đang sử dụng có
hai loại: Máy trộn trụcđứng (còn gọi là máy trộn dạng Rôto) và máy trộn
trục nằm ngang, đễu là máy trộn có thùng trộn cố định.
- Máy trộn trục đứng:
Đối với các máy trộn trục đứng – như tên gọi – cánh trộn quay xung quanh các
trục đứng hoặc một trục thẳng đứng đặt trong khoang trộn hình trụ tròn hoặc
hình vành khăn. Người ta gọi các máy trộn này theo hình dáng của thùng trộn là
các “máy trộn hình đĩa”.
9
- Máy trộn trục nằm ngang:
Máy trộn bê tông có trục nằm ngang - giống như hình dáng của nó – còn được
đặt tên là “máy trộn hình con rùa”. Trong các loại máy này, cánh trộn chuyển
động theo phương vuông góc với trục, với cùng một bán kính. Vì vậy sự hình
thành dòng hỗn hợp di chuyển theo phương thức trục trộn la do các cánh trộn
đặt nghiêng thực h iện (góc nghiêng của các cánh đó với phương hướng kính
thường có giá trị (40
0
...50
0
).
 Theo nguyên lý hoạt động máy trộn cưỡng bức có hai loại: Máy trộn
cưỡng bức liên tục và máy trộn cưỡng bức làm việc theo chu kỳ
- Máy trộn cưỡng bức liên tục:
Quá trình nạp trộn và xả bê tông diễn ra đồng thời, loại máy này vật liệu
vào liên tục do các cánh trộn có hướng thích hợp nên vừa trộn vừa chuyển dịch
về phía xả, được dùng để sản xuất bê tông và vữa xây dựng có năng suất trộn
từ 5 m
3
/ h ÷ 60m

bê tông vào máng để chảy ra ngoài. Phương pháp này đổ chậm và không triệt
để, thường áp dụng với các máy trộn kiểu tự do hình trụ có dung tích thùng từ
450 lít ÷1000 lít.
*Phương pháp dỡ liệu bê tông xi măng qua đáy thùng:
Dưới đáy thùng có cửa dỡ liệu. Khi lấy bê tông xi măng ra ta quay cửa
tấm dỡ liệu bê tông sẽ tự chảy ra. Việc đóng, mở các cửa dỡ liệu thường do các
xi lanh thuỷ lực hoặc hơi ép điều khiển. Phương pháp này thường áp dụng cho
các máy trộn chu kỳ kiểu cưỡng bức.
*Phương pháp dỡ bê tông xi măng nhờ quay thùng ngược lại với chiều quay ban đầu:
Cánh trộn sẽ đẩy bê tông ra khỏi thùng, phương pháp này thường áp
dụng ở các xe vận chuyển bê tông xi măng chuyên dùng.

11

®¸
®¸
xi

xi
m¨n
g
Thïng


Cèt

Phô
c¸ ®¸ ®¸
H×nh I.1: M« h×nh tr¹m trén bª t«ng tùơi
1.7. CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TRẠM TRỘN BÊ

cân xi măng, thùng trộn vẫn chưa xả hết nguyên liệu. Tại bàn điều khiển người
vận hành ấn nút Reset để:
o Mở cửa xả bê tông
o Mở cửa xả thùng cân cát
o Mở cửa xả thùng cân đá1, đá 2.
o Mở cửa xả thùng cân xi măng
o Mở cửa xả thùng cân nước, phụ gia.
Lúc này mới cho phép hệ thống làm việc (điều kiện làm việc “=1” ) .
Sau khi quá trình chuẩn bị xong. Từ máy tính người vận hành nhập các
thông số của mác bê tông như: khối lượng cát, đá1, đá2, xi măng, nước, phụ gia,
số mẻ và các dữ liệu quản lý hành chính như tên lái xe, biển số xe, ngày, giờ
xuất hành...
Sau đó tới tủ điều khiển người vận hành chọn chế độ hoạt động cho máy
là tự động hay bằng tay.
Nếu là chế độ tự động người vận hành nhấn nút AUTO, nếu là chế độ
bằng tay thì nhấn nút MANUAL
1.7.2.2. Chế độ điều khiển tự động.
Ở chế độ điều khiển tự động người vận hành chỉ cần nhấn nút Start trên
bàn điều khiển. Động cơ trộn bê tông cho chạy ở chế độ không tải. Máy sẽ tự
động cân đo các khối lượng nguyên vật liệu, ở đây thực hiện phương pháp cân
riêng lẻ.
Mở van xả cát, cát được xả xuống băng tải để đưa lên thùng cân. Đồng
thời đá1 cũng xả để đưa lên thùng cân. Khi đá1 đủ, băng tải 1 dừng đồng thời
13
băng tải 2 chạy, đá2 được đưa lên thùng cân. Khi đá2 đủ thì băng tải 2 dừng. Tại
thùng cân đá quá trình cân được thực hiện theo nguyên tắc cân cộng dồn:
M
Đá
= M
Đá1

hành theo dõi số cân hiển thị trên máy tính, khi đủ nhấn vào một lần nữa các nút
để dừng quá trình cấp. Trong quá trình cấp cốt liệu riêng đá thì cấp xong đá1
mới được cấp đá2. Khi cốt liệu đã được cấp đủ đưa chúng vào thùng trộn. Lúc
này nhấn nút xả cốt liệu đồng thời nhấn nút xả xi măng. Do động cơ trộn luôn
chạy trong quá trình hoạt động nên sau khi xả xong cốt liệu, xi măng coi như
máy đang trôn bê tông khô, thời gian trộn ướt được bắt đầu tính khi xả nước và
phụ gia. Sau khi trộn ướt mẻ bê tông đã được hoàn thành, người vận hành chỉ
việc nhấn nút xả bê tông.
Không để chuyển mạch đóng mở cửa xả ở vị trí “tự động” vì khi đó có thể
bê tông sẽ bị xả theo chế độ tự động trong khi chưa cân đủ nước hoặc đủ xi
măng.
1.8. THÀNH PHẦN VẬT LIỆU CỦA BÊ TÔNG.
Thành phần vật liệu của bê tông đóng vai trò quyết định đến chất lượng
hay quyết định đến cường độ chịu lực cũng như mác của bê tông.Từ thực
nghiệm người ta đã xác định được mác của bê ông ứng với từng loại vật liệu
nhất định với một tỉ lệ xác định, ngược lại từ mác của bê tông người ta dễ dàng
tra được tỉ lệ thành phần trong bê tông.
Sau đây là một trong số mác bê tông do trạm bê tông thương phẩm điển
Văn
15
Bảng thành phần cấp phối bê tông
Cơ quan cấp mẫu : Trạm bê tông thương phẩm) điển Văn

 Loaị bê tông mác 150 độ sụt 60
÷
20 mm tại công trường .
Vật liệu sử dụng :
- Xi măng Bút Sơn
- Cát vàng
- Đá dăm 1x2 Hà Nam.

)
Xi măng Hà Nam 3150 0.079
Đá dăm 1x2 Hà Nam 2700 0.412
Cát vàng 2620 0.325
Nước Sinh hoạt 1000 0.174
Phụ gia FDN 2002A 1160 0.001
Hàm lượng khí 0.01
 Loại bê tông : Bê tông mác 150 độ sụt 80÷20 (mm) tại công trường
Vật liệu sử dụng:
- Xi măng Bút Sơn
- Đá dăm 1x2 Hà Nam
- Cát vàng
- Nước sinh hoạt
- Phụ gia FDN 2002A (0.40/100 kg xi măng)
Bảng thành phần cấp phối theo trọng lượng
Mác
bê tông
Vật liệu dùng cho 1m
3
bê tông (kg)
Xi măng
kg
Cát
kg
Đá
kg
Nước
kg
Phụ gia
FDN 2002 A

em xin trình bày phương án định lượng vật liệu bằng hệ thống cân cơ khí như
sau:
Các vật liệu cát, đá1, đá2, đuợc đưa vào các phễu chứa khác nhau, băng
tải có nhiệm vụ vận chuyển cốt liệu lên thùng cân.Trên các thùng cân có các cân
cơ khí, mức cân có thể thay đổi được. Bằng chế độ hoạt động tự động với các
giá trị đặt trước thích hợp ta có thể định lượng được các vật liệu trước khi cho
vào thùng trộn.
1.10. HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY NÉN KHÍ.
Máy nén khí dùng để cấp khí nén điều khiển các cửa đóng mở cân, cấp đá,
cát, xi măng, nước, phụ gia và xả bê tông. Máy nén khí là một máy đã được chu
hoá dùng điện một pha tự động ổn định áp lực thông qua rơ le, tự động ngắt, tự
động bảo vệ.
*Theo cấu tạo các máy khí nén được phân thành: Máy nén khí pittông, máy nén
khí rôto, máy nén khí ly tâm, máy nén khí hướng trục và máy nén khí kiểu phun.
Ví dụ:
 Máy nén khí pittông:
18
Máy nén khí pittông đơn giản nhất gồm xi lanh hở, đầu kia được đậy nắp.
Trong nắp có đặt van nạp và xả. Pittông chuyển động tịnh tiến qua lại trong xi
lanh nhờ được nối với cơ cấu thanh truyền – tay quay.
Khi pittông rút về bên phải, van nạp tự động mở, khí được nạp vào xi
lanh. Khi pittông chuyển động ngược lại, áp suất trong xi lanh tăng lên đến khi
nào lớn hơn áp suất trong đường ống nạp thì van nạp tự động đóng lại. Pittông
tiếp tục chuyển động về bên trái, khí trong xi lanh bị nén đến khi nào áp suất của
nó lớn hơn áp suất khí trong đường ống xả van xả mở ra, khí nén sẽ được đẩy
vào bình chứa, các quá trình mô tả tiếp tục lặp lại.
Máy nén khí pittông kể trên là loại một chiều. Ngoài ra còn có loại máy
nén khí pittông hai chiều, trong đó cả hai đầu xi lanh đều được làm kín và đều
có đặt van nạp, xả. Khi chuyển động pittông đồng thời thực hiện 2 quá trình: nạp
khí ở phần xi lanh này và nén, xả khí ở xi lanh khác.

3
/ph.
*Theo nguyên lý nén khí chúng được chia thành hai nhóm:
- Máy nén khí hoạt động theo nguyên tắc biến đổi động năng trong
đó không khí được truyền với một tốc độ lớn và được nén nhờ sự
biến đổi động năng của dòng khi chuyển động thành công nén
(máy nén khí ly tâm, hướng trục thuộc nhóm này)
- Máy nén khí hoạt động theo nguyên tắc giảm thể tích chứa khí
trong đó khí lấy từ không gian có áp suất thấp đưa vào một không
gian kín (không gian công tác) sau đó được nén và tăng áp suất do
giảm thể tích không gian kín (các loại máy nén khí pittông, rôto,
thuộc nhóm này)
1.11. HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY BƠM NƯỚC.
Máy bơm là máy thuỷ lực dùng để hút và đẩy chất lỏng từ nơi này đến nơi
khác. Chất lỏng dịch chuyển trong đường ống nên bơm phải tăng áp suất chất
lỏng ở đầu đường ống để thắng trở lực trên đường ống và thắng hiệu áp suất ở 2
đầu đường ống. Năng lượng bơm cấp cho chất lỏng lấy từ động cơ điện hoặc từ
các nguồn động lực khác .
Điều kiện làm việc của máy bơm rất khác nhau (trong nhà, ngoài trời, độ ẩm,
nhiệt độ...) và bơm phải chịu được tính chất lý, hoá của chất lỏng cần vận chuyển.
Kết luận:
Chương I cho ta hiểu được cấu tạo và thành phần chính của bê tông một
cách hệ thống, các nguyên vật liệu làm ra nó và những nguyên nhân làm giảm
20
chất lượng của bê tông. Đây là một điều quan trọng vì muốn thiết kế ra hệ thống
trạm trộn bê tông tự động trước tiên ta phải hiểu được cấu tạo thành phần chính
của bê tông.
Chương này cũng cho ta một cái nhìn tổng quan về trạm trộn bê tông
trong thực tế, nguyên tắc hoạt động để tạo ra được một mẻ bê tông từ các loại
nguyên vật liệu cơ bản

Aptômát tổng 200 A : Đóng, cắt và bảo vệ ngắn mạch cho toàn bộ tủ điều khiển
Aptômát 75 A : Đóng, cắt và bảo vệ ngắn mạch cho động cơ trộn bêtông ( công
suất P = 22 Kw )
2 Aptômát 25 A : Đóng, cắt và bảo vệ ngắn mạch cho động cơ kéo xe skíp và
động cơ kéo vít tải đứng ( công suất P = 7,5 Kw )
Aptômát 30A: Đóng, cắt và bảo vệ ngắn mạch cho động cơ kéo vít tải
xiên( công suất P = 11 Kw )
2 Aptômát 10A: Đóng, cắt và bảo vệ ngắn mạch cho động cơ bơm nước ( công
suất P = 3 Kw )và máy nén khí ( công suất P =2 Kw )
5 Aptômát 10A: Đóng, cắt và bảo vệ ngắn mạch cho cuận hút của các van điên
khí nén
2 Khởi động từ 50 A, KM1và KM2 cùng 1 khởi động từ 40 A KM3 đóng, cắt
nguồn và bảo vệ quá tải động cơ trộn. KM1, KM3 mở máy động cơ ở đấu sao,
KM1 KM2 cho động cơ trộn chạy ở chế độ đấu tam giác
2 Khởi động từ 30 A, KM4và KM5 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải động cơ
kéo xe skíp. KM4 cấp nguồn cho động cơ chạy thuận ( Xe skíp đi lên ) KM5 cấp
nguồn cho động cơ chạy nghịch ( Xe skíp đi xuống)
Khởi động từ 30 A, KM6 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải động cơ kéo vít tải
đứng
Khởi động từ 40 A, KM7 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải động cơ kéo vít tải
xiên
Khởi động từ 12 A, KM8 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải cho máy bơm nước
Khởi động từ 12 A, KM9 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải cho máy nén khí
Khởi động từ 12 A, KM10 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải cho máy rung
23
Khởi động từ 10 A, KM11 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải cho cuộn hút van
điện khí nén đóng mở cửa xả bêtông
Khởi động từ 10 A, KM12 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải cho cuộn hút van
điện khí nén đóng mở cửa xả nước
Khởi động từ 10 A, KM13 đóng, cắt nguồn và bảo vệ quá tải cho cuộn hút van

không có đầu ra. Nó nhận các tín hiệu phản hồi từ quá trình về cho PLC giải
quyết.
rồi đưa vào cổng phụ EM231.
- Các rơle thời gian: Tạo khoảng thời gian trễ cho các bước hoạt động
trong chu kỳ điều khiển. Ví dụ tạo khoảng thời gian trễ cho cửa xả bê tông, tạo
khoảng thời gian trễ cho trùng cáp...
Rơle thời gian T1: Tạo khoản thời gian trễ không cho vít tải xiên và vít
phụ khởi động đồng thời.
Rơle thời gian T2: Tạo khoảng thời gian trễ trùng cáp
Rơle thời gian T3: Tạo khoảng thời gian trễ trộn bê tông
Rơle thời gian T4: Tạo khoảng thời gian trễ xả bê tông.
- Công tác hành trình: Báo cáo trạng thái đóng, mở các cửa xả bê tông,
xi măng, đá, nước... và vị trí xe skíp trong chu kỳ hoạt động về mạch điều khiển.
Công tắc hành trình Đ1: Báo trạng thái đóng hoặc mở cửa VTP1
Công tắc hành trình Đ2: Báo trạng thái đóng hoặc mở cửa VTP2
Công tắc hành trình Đ3: Báo trạng thái đóng hoặc mở cửa VTP3
Công tắc hành trình ĐCN: Báo trạng thái đóng hoặc mở cửa xả nước.
Công tắc hành trình ĐTX: Báo trạng thái đóng hoặc mở cửa xả xi măng
Công tắc hành trình ĐT10: Báo trạng thái xe skíp ở vị trí chờ cốt liệu.
Công tắc hành trình ĐT1: Báo trạng thái xe skíp ở vị trí chờ xả cốt liệu.
Công tắc hành trình ĐT2: Báo trạng thái xe skíp, cửa xả xi măng, cửa xả
nước ở vị trí mở (đang xả cốt liệu) vào cối trộn.
25

Trích đoạn Sơ đồ mạch nhận tớn hiệu cõn hỡnh 2.10, 2 Tớnh chọn cụng suất động cơ: Cỏc phần tử đúng cắt, bảo vệ, đo lường liờn động.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status