Phát triển những nguyên tắc đạo đức Hồ Chí Minh trong giáo dục, rèn luyện
cán bộ, đảng viên
Phạm Thị Nết
* TS, Học viện Chính trị quốc gia Khu vực I
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức
cho cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân. Người là hiện thân của đạo đức cách
mạng, là tấm gương sáng về rèn luyện đạo đức cách mạng cho toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân ta noi theo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, đạo đức là "gốc" của người cách mạng. Người nhấn
mạnh: "Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh
đạo được nhân dân"
(1)
. "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con người thấm nhuần
đạo đức xã hội chủ nghĩa"
(2)
.
Tìm hiểu đặc điểm và quy luật hình thành tư tưởng đạo đức mới của Hồ Chí Minh, nổi bật những
nguyên tắc xây dựng đạo đức mới cơ bản sau đây:
1 - Tu dưỡng, rèn luyện bền bỉ hằng ngày gắn với thực tiễn cách mạng
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh: "Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do
đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng
sáng, vàng càng luyện càng trong"
(3)
.
Muốn có được những phẩm chất đạo đức, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và cả quần chúng nhân
dân lao động phải "gian nan rèn luyện", "kiên trì và nhẫn nại". Bởi, khác với nhiều lĩnh vực khác
của đời sống con người, ở đây, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi con người cũng như
việc xây dựng một nền đạo đức mới trong xã hội không phải là một việc đơn giản, có thể hoàn
thành ngay trong một sớm, một chiều. Mà, ngược lại, đây là một quá trình liên tục, lâu dài,
thường xuyên và cực kỳ gian khó.
Trong mỗi con người cũng như trong toàn xã hội, đều có mặt thiện và mặt ác, có phần tốt và
mặt với quân thù thì dũng cảm, hăng hái, trung thành, không sợ hy sinh, gian khổ. Song, đến khi
có ít quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, tham ô, lãng phí, quan liêu; không tự giác
mà biến thành kẻ có tội với cách mạng, với nhân dân.
Qua xem xét các vụ án lớn, nhỏ những năm gần đây cho thấy, ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều
đơn vị, cuộc đấu tranh này chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng bao che, dung túng cho
những hành vi tham nhũng, tiêu cực, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã tạo điều
kiện thuận lợi cho kẻ xấu hoành hành. Nếu xem xét nguyên nhân của thực trạng trên, chúng ta
càng thấm thía lời căn dặn của Bác: "Bệnh quan liêu đã dung túng, ấp ủ, che chở cho nạn tham
ô, lãng phí". Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, "muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí thì trước mắt phải
tẩy sạch bệnh quan liêu"
(6)
.
2 - Tự giác nêu gương, nói đi đôi với làm
Đây là một nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí
Minh. Khác hẳn với đạo đức của giai cấp bóc lột, phản động, chỉ nói mà không làm, nói nhiều làm
ít, nói một đường làm một nẻo; đạo đức mới - đạo đức của giai cấp vô sản là nói đi đôi với làm,
nói ít làm nhiều, nêu gương đạo đức.
Nghiên cứu đặc điểm các dân tộc phương Đông, ngay từ sớm, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: "các dân
tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một
trăm bài diễn văn tuyên truyền"
(7)
. Tự mình gương mẫu, đồng thời, Hồ Chí Minh còn chú trọng
đến tác dụng giáo dục đạo đức của các tấm gương sáng trong lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng
và trong hiện thực đấu tranh xây dựng, bảo vệ đất nước.
Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: "Muốn hướng dẫn nhân dân, mình
phải làm mực thước cho người ta bắt chước"; "hô hào nhân dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm
trước đã". Nói tóm lại, "Đảng viên đi trước, làng nước theo sau"; "quần chúng chỉ quý mến
những người có tư cách, đạo đức và "không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà ta được
họ yêu mến". Những tấm gương đạo đức phải được hiểu theo một nghĩa rộng. Có những tấm
gương chung và riêng, lớn và nhỏ, xa và gần. Một nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng
trong sạch của đạo đức mới.
Để xây dựng và chống có hiệu quả, phải tạo phong trào quần chúng rộng rãi. Hồ Chí Minh đã
phát động nhiều phong trào như vậy:
Năm 1952, có phong trào thi đua thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Năm
1963, có cuộc vận động "Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế - tài chính, cải
tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu" (gọi tắt là cuộc vận động "ba xây, ba chống").
Có phong trào, có cuộc vận động chung cho toàn Đảng, toàn dân; có phong trào, có cuộc vận
động riêng cho từng ngành, từng giới. Qua đó, lôi cuốn mọi người vào cuộc đấu tranh rất cụ thể,
rõ ràng, thôi thúc trách nhiệm đạo đức cá nhân, để mọi người phấn đấu tự bồi dưỡng và nâng
cao phẩm chất đạo đức cách mạng. Ngành bưu điện, từ cuối năm 1963 đến 1965, Tổng cục Bưu
điện và Truyền thanh đã thực hiện cuộc vận động "ba xây, ba chống".
Qua cuộc vận động, các đơn vị trong ngành đã nhận thức sâu sắc, toàn diện hơn về vị trí, tính
chất, đặc điểm và phương hướng của ngành, nên đã có nhiều chuyển biến tư tưởng trong công
tác và trong lãnh đạo; bước đầu thấy rõ hơn chỗ mạnh, khẳng định rõ được những thành tích ưu
điểm của ngành, đồng thời cũng thấy rõ những thiếu sót và bất hợp lý trong tổ chức quản lý và
công tác quản lý của ngành; tìm ra nguyên nhân gây ra tham ô, lãng phí. Từ đó có phương
hướng, biện pháp sửa chữa, bổ khuyết. Ở những địa phương đã tiến hành "ba xây, ba chống",
chất lượng thông tin, bưu điện, truyền thanh được nâng cao. Đó chính là kết quả tốt nhất của
cuộc vận động "ba xây, ba chống" trong ngành bưu điện Việt Nam (1963-1965)
(8)
.
Thực tiễn chứng minh, những cuộc vận động đó đã mang lại một sắc thái mới trong sản xuất,
kinh doanh, làm thay đổi nếp nghĩ, phong cách làm việc, kích thích việc phát huy sáng kiến cải
tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất và hiệu quả công tác với tinh thần ích nước, lợi nhà. Và thông
qua các phong trào quần chúng, cái tốt được tăng cường, phát triển, cái xấu bị đẩy lùi.
4 - Tự phê bình và phê bình
Hồ Chí Minh quan niệm: "Đã có hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm". Nhưng, điều đáng nói
ở đây là, khi đã có khuyết điểm thì phải có thái độ thật thà, nhận rõ khuyết điểm và tìm cách sửa
chữa, khắc phục. Phương thức tốt nhất là nâng cao tinh thần tự phê bình và phê bình. Điểm này
hoàn toàn đối chọi với chủ nghĩa cá nhân. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân không dám tự
được xác định cụ thể. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ, tu dưỡng rèn luyện theo những
tiêu chuẩn, nguyên tắc xây dựng đạo đức mới của Hồ Chí Minh. Tiếp tục xây dựng cơ chế nhân
dân giám sát cán bộ, có cơ chế cụ thể bố trí lại cán bộ khi có dấu hiệu vi phạm đạo đức (tham ô,
lãng phí, dối trá, sa đọa trong cuộc sống, làm mất đoàn kết nội bộ ) và loại bỏ những cán bộ vi
phạm. Quy định cụ thể, rõ ràng hơn chế độ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan của
Đảng và Nhà nước.
Đó cũng là những vấn đề mấu chốt về nguyên tắc của việc xây dựng đạo đức mới - đạo đức
cách mạng.
Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới theo tư tưởng Hồ Chí
Minh
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là cuộc vận động do Đảng ta phát động. Cuộc
vận động này có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay, không chỉ nhằm đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân ta
mà còn là cơ sở để xây dựng chuẩn mực đạo đức mới trong đời sống xã hội.
Từ khi cuộc vận động chính thức được phát động đến nay, ít nhiều đã tác động đến
tâm tư, tình cảm, hành vi đạo đức của nhiều người qua những nội dung được truyền đạt,
những câu chuyện kể về tấm gương đạo đức của Bác. Chúng ta tin tưởng rằng, ở mỗi con
người, dù như thế nào đi nữa, nếu nhận thức được sự hy sinh cao cả của Bác, tấm gương
đạo đức bình dị của Bác thì đều có sự soi rọi, chiêm nghiệm, điều chỉnh hành vi của mình.
Yêu cầu thứ hai trong nội dung cuộc vận động này là “làm theo”. Học tập là để nhận
thức, nhưng từ nhận thức đến hành động là cả một quá trình. Có người hiểu được nhưng lại
không làm hoặc chưa biết làm như thế nào. Cho nên yêu cầu “làm theo” là nội dung rất
quan trọng. Ở phạm vi bài viết này, tôi xin đề cập đến ba nguyên tắc cơ bản về xây dựng
đạo đức mới theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh như sau:
Trước hết, nguyên tắc “Nói đi đôi với làm, phải có hành động nêu gương về đạo
đức”. Trong suốt cuộc đời mình, Bác rất coi trọng giáo dục mọi người và chính bản thên
Bác đã thực hiện điều này một cách nghiêm túc. Qua học tập, nghiên cứu những câu chuyện
kể về Bác, ta thấy Bác nói ít nhưng làm nhiều hoặc có những vấn đề về đạo đức Bác hành
động nêu gương mà không nói nhưng mọi người cũng dễ nhận ra. Đi sâu vào hành vi đạo
với Đảng, với dân. Có những người trong lúc đấu tranh thì hăng hái, trung thành, không sợ
hiểm nguy, khổ cực. Song, đến khi có ít quyền hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ,
tham ô, lãng phí, quan liêu… Người xưa thật có lý khi cho rằng “Người ta không chết bởi
núi non cao nhưng có khi chết bởi mô đất thấp”. Núi non cao người ta còn thấy được mà
tránh còn mô đất thấp thì do chủ quan không để ý nên dễ dàng vấp ngã.
Theo Bác, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ tốt, chỗ xấu; ai cũng có
thiện, ác trong lòng. Vấn đề là chúng ta có dám nhìn thẳng vào mình không, thấy cái hay,
cái thiện để phát huy và thấy cái dở, cái xấu để khắc phục.
Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng, bao giờ cũng đặt ra cho chúng ta những
nhiệm vụ mới, với những khó khăn, thử thách mới. Cái khó khăn của cuộc chiến đấu mới
không những chỉ ở tầm vóc, vị thế của nước ta hiện nay và quy mô của sự nghiệp đổi mới
đang thực hiện. Mà ở chổ mọi người phải biết khắc phục những yếu kém của mình, chiến
thắng “giặc ở trong lòng” cũng như “giặc nội xâm ở trong tổ chức của mình”. Đó là giặc
“vô hình, vô ảnh” nhưng rất mạnh. Nó luôn luôn tiềm ẩn trong ta khĩ thấy, khó biết. Việc
đấu tranh vớikẻ địch nơi tuyền tuyến dể thấy , nhưng đấu tranh với kẻ địch trong người,
trong nội bộ, trong tinh thần rất khó khăn, đôi khi đau xót. Vì thế mà việc tự tu dưỡng, rèn
luyện đạođức cách mạng ở mọi ngườiu chúng ta sẽ không kém gian nan. Nhưng theo Bác:
“Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tợ bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công”
Tóm lại, nâng cao đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới là yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi
mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta phải thấm nhuần sâu sắc những lời dạy của Bác, ra
sức đẩy mạnh cuộc vận động” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vận
dụng và thực hiện tốt các nguyên tắc xây dựng đạo đức mới mà Bác đã nêu để xây dựng nền
tảng đạo đức trong đời sống xã hội ở nước ta ngày càng tốt đẹp, góp phần vào sự phát triển
bền vững của đất nước.
Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
Nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức phải chú ý tới con đường và phương pháp hình thành
đạo đức mới, đạo đức cách mạng. Đặc điểm và quy luật hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí
bạn đồng minh của hai kẻ địch kia. Nhận thức như vậy để thấy rằng "đạo đức cách mạng là vô
luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh
giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu. Có như thế mới
thắng được địch và thực hiện được nhiệm vụ cách mạng". Đối với từng người, Hồ Chí Minh yêu
cầu trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình, không hiếu danh, không kiêu ngạo,
ít lòng tham muốn về vật chất, vị công vong tư Chống và xử lý nghiêm là nhằm xây, đi liền với
xây và muốn xây thì phải chống. Mục đích cuối cùng là xây dựng con người có đạo đức và nền
đạo đức mới Việt Nam. Vì vậy, phải xác định đây là nhiệm vụ chủ yếu và lâu dài. Xây là giáo dục
những phẩm chất đạo đức mới, đạo đức cách mạng cho con người Việt Nam trong thời đại mới
theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tất nhiên, giáo dục đạo đức phải phù hợp với lứa tuổi, ngành nghề,
giai cấp, tầng lớp và trong từng môi trường khác nhau. Đồng thời, phải chú ý tới hoàn cảnh,
nhiệm vụ từng giai đoạn cách mạng. Xa rời thực tiễn và khư khư giữ lấy những nội dung cũ khi
thực tiễn đã vượt qua đều không phù hợp với quan điểm xây dựng đạo đức của Hồ Chí Minh. Xây
dựng đạo đức có nhiều cách làm. Trước hết mỗi người và tổ chức phải có ý thức tự giác trau dồi
đạo đức cách mạng. Bản thân sự tự giác cũng là phẩm chất đạo đức quý đối với từng người và
tổ chức. Điều này càng cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Bởi
vì: "Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa
nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn
cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng
tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính"1. Xây đi đôi với chống trên cơ sở tự giáo dục, đồng
thời phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi. Điều này thuộc quy luật của cách mạng xã
hội chủ nghĩa. Bởi vì chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của quần chúng nhân dân tự xây
dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã luôn phát
động phong trào quần chúng rộng rãi và đem lại những hiệu quả thiết thực
Sự lãnh đạo của Đảng, nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của
cách mạng Việt Nam
Nghiên cứu kinh nghiệm về sự lãnh đạo và xây dựng đảng của Đảng ta là việc làm
thiết thực, trọng yếu, bảo đảm cho cách mạng phát triển vững chắc, nhằm thực hiện
mục tiêu: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam do nhiều nhân tố tạo nên, song nhân tố chủ yếu nhất
chấp của những thế lực đối lập.
Việc Đảng ra đời và xác lập vai trò lãnh đạo cách mạng là điều tất yếu, khách quan, phù
hợp với quy luật của thời đại và điều kiện hiện thực của Việt Nam. Sự phù hợp với quy
luật của thời đại được chứng minh bởi vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
mà đội tiên phong của nó là Đảng Mác- Lênin. Còn điều kiện hiện thực của Việt Nam
được nhận thức qua phân tích tính chất, đặc điểm xã hội Việt Nam; tình hình và thái độ
các giai cấp, tầng lớp xã hội; từ đó thấy những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội và đòi hỏi
khách quan của lịch sử đối với giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng - đội tiên phong của
giai cấp.
2. Sự lãnh đạo của Đảng - nguồn gốc thành công của công cuộc giải phóng dân tộc
Lịch sử Việt Nam ghi nhận: từ khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta đã liên
tiếp diễn ra nhiều cuộc đấu tranh yêu nước, song tất cả đều thất bại.
Khi Đảng ta ra đời, dân tộc ta vẫn đứng trước một nhiệm vụ lịch sử to lớn: tiến hành cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại nền độc lập của đất nước.
Cách mạng tháng Tám nǎm 1945 là thành quả đầu tiên của cuộc đấu tranh đó, đã lật đổ
ách thống trị đế quốc, phátxít cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến, thiết lập chế độ
cộng hoà dân chủ. Tiếp đó là thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Bắc sau đó giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước trên cơ sở độc lập dân tộc và dân chủ. Công cuộc giải phóng dân tộc được hoàn
thành triệt để từ sau thắng lợi mùa Xuân nǎm 1975 được bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng
đắn của Đảng ta.
Trước thực tế lịch sử hiển nhiên đó, mà vẫn có người cố tình phủ nhận hoặc hạ thấp ý
nghĩa, vai trò của Đảng đối với những thắng lợi của dân tộc Việt Nam thì là điều phi lý.
Và thực tế lịch sử đó cũng đã bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.
- Cách mạng Tháng Tám thắng lợi do có những điều kiện khách quan thuận lợi, song nếu
thiếu những điều kiện chủ quan, nhất là thiếu sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, thì cách
mạng không thể thành công. Đảng đã lãnh đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa một cách chu
đáo, đồng thời nắm vững thời cơ lịch sử để phát động Tổng khởi nghĩa trong những ngày
tháng tám. Đó là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám nǎm
1945.
động của mọi tổ chức xã hội nhằm tạo thành sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây
dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đảng đóng vai trò người tổ chức, phối hợp sự
hoạt động của mọi cơ quan nhà nước, đoàn thể và tổ chức xã hội.
Trước đây, ở miền Bắc đã từng có những lực lượng thù địch và đối lập đòi Đảng chia
quyền lãnh đạo. Ngày nay, lại có một số người chịu ảnh hưởng của thuyết đa nguyên
chính trị, đòi lập chế độ đa đảng, đòi xét lại vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi Đảng trả lại
quyền cho "nhân dân" thực chất là tìm cách thủ tiêu, hoặc hạ thấp vai trò của Đảng.
Song sự thật lịch sử dân tộc ta từ khi có Đảng đã chứng tỏ rằng:
- Đảng ta nắm vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng là một tất yếu lịch sử.
- Có sự lãnh đạo của Đảng ta mới có những thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
- Tình trạng có nhiều lực lượng đối lập trong xã hội không phải là biểu hiện của dân chủ
chân chính; ngược lại, làm trở ngại, khó khǎn cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội.
Khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng ta là bài học lớn của lịch sử Đảng và lịch
sử dân tộc.
II- MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO VÀ SỨC
CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG
Vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng là tất yếu khách quan song không phải được hình
thành một cách ngẫu nhiên mà Đảng ta đã phải đấu tranh và phấn đấu gian khổ để tạo ra
những điều kiện nhằm củng cố, nâng cao vai trò lãnh đạo, đồng thời thường xuyên phấn
đấu nâng cao nǎng lực và hiệu quả lãnh đạo bảo đảm thắng lợi ngày càng nhiều, hạn chế
được sai lầm, khuyết điểm.
Thực tế trên chứng tỏ Đảng ta tuân thủ nghiêm ngặt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
"Đảng không thể đòi hỏi mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là
một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và
công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và nǎng lực
lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo.
Sự lãnh đạo của Đảng chỉ được củng cố khi có tổ chức đảng vững mạnh. Vì thế, việc
nâng cao nǎng lực lãnh đạo phải gắn liền với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ
chức, nhằm làm cho Đảng luôn luôn xứng đáng là đội tiên phong cách mạng của giai cấp
cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa, tự lực, tự cường và đoàn
kết hợp tác quốc tế Trong đó, yếu tố dân tộc, tinh thần yêu nước, nhiệm vụ giải phóng
dân tộc được coi là chủ yếu nhất, phù hợp với đặc điểm và truyền thống dân tộc ta, một
dân tộc có tinh thần yêu nước nồng nàn, kiên cường đấu tranh chống ngoại xâm.
Vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với đặc điểm dân tộc, đòi hỏi phải
tránh khuynh hướng thổi phồng đǎc điểm dân tộc, coi nhẹ quy luật phổ biến, hoặc ngược
lại. Cả hai đều dẫn đến sai lầm xét lại hoặc giáo điều, hữu hoặc "tả" khuynh.
2. Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo
Muốn vận dụng đúng đắn học thuyết Mác - Lênin phù hợp với hoàn cảnh và đặc điểm
dân tộc, đòi hỏi phải có tinh thần độc lập, tự chủ, với phương pháp tư duy khoa học, sáng
tạo.
Nét nổi bật và cũng là cơ sở của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin là Đảng ta
và đồng chí Nguyễn ái Quốc đánh giá đúng sức mạnh của yếu tố dân tộc và cách mạng
giải phóng dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc; nêu cao nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, lập mặt trận đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công nông, kết hợp sức
mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại
Sử dụng sức mạnh bạo lực cách mạng là quy luật phổ biến của mọi cuộc đấu tranh giải
phóng. Vận dụng sáng tạo quy luật ấy, Đảng ta cho rằng: "Bạo lực cách mạng nhằm lật
đổ giai cấp thống trị nhất thiết phải là bạo lực của quần chúng". Mặc dù được thể hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, song khái quát chung lại, "bạo lực cách mạng phải dựa
vào hai lực lượng: lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, và bao gồm hai hình thức
đấu tranh: đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và sự kết hợp giữa hai hình thức ấy".
Đảng cộng sản ra đời là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân, đó
là quy luật phổ biến. ở Việt Nam trong cuộc vận động thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn
ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong các tổ chức yêu nước, và dựa vào đó,
thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội - tổ chức tiền thân của Đảng.
Đảng ta ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Để vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách sáng tạo, cần chống bệnh giáo điều, chủ
nghĩa kinh nghiệm. Nguồn gốc của chủ nghĩa kinh nghiệm là trình độ lý luận thấp và hiểu
đường lối một cách đồng bộ và nhất quán.
4. Hướng vào thực tiễn mà kiểm nghiệm, hoàn chỉnh cụ thể hoá đường lối
Để có đường lối chính trị đúng đắn, sáng tạo, Đảng phải tuân theo các quy luật khách
quan. Chủ quan, duy ý chí đã là nguồn gốc của nhiều sai lầm, dẫn tới nhiều tác hại trong
cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Vấn đề đặt ra làm thế nào để nhận thức được đúng quy luật khách quan - nhất là tìm ra
được nội dung và cơ chế tác động của quy luật trong điều kiện cụ thể của cách mạng
nước ta. ở đây, không thể chỉ cǎn cứ vào nguyên lý có sẵn của học thuyết Mác - Lênin, đề
ra đường lối, chính sách, quá trình biến lý luận và đường lối thành hành động của hàng
triệu quần chúng, và nhờ tổng kết thực tiễn, Đảng mới dần dần nhận thức và vận dụng
được quy luật một cách đúng đắn.
Lịch sử chứng tỏ rằng Đảng ta, tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra đường lối
cách mạng dân tộc đúng đắn ngay từ đầu. Song, đó mới chỉ là những nét cơ bản. Thực
tiễn đấu tranh cách mạng đã giúp Đảng ta hoàn chỉnh, cụ thể hoá đường lối, từng bước
nhận thức đúng đắn những quy luật vận động cách mạng.
Thái độ hoài nghi tính đúng đắn của đường lối, chính sách là một sai lầm. Song, không
bám sát những diễn biến của thực tiễn trong quá trình thực hiện để kiểm nghiệm, phát
triển, cụ thể hoá đường lối, chính sách sẽ không nâng cao được hiệu quả lãnh đạo. Thực
tiễn còn cho thấy, nếu Đảng mắc sai lầm trong việc định chủ trương, chính sách, lại quan
liêu, xa rời thực tiễn, thì sai lầm có thể kéo dài gây hậu quả nghiêm trọng.
Coi trọng khảo sát thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm, trân trọng sáng kiến của các địa
phương và cơ sở, đó là những kinh nghiệm quý, rất cần thiết cho việc hoàn chỉnh, cụ thể
hoá đường lối, chính sách ngày càng đúng đắn.
B. KINH NGHIỆM VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VÀ XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ TƯ
TƯỞNG
Nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, một nhiệm vụ trọng yếu là
thường xuyên tiến hành công tác tư tưởng trong Đảng đồng thời lãnh đạo công tác tư
tưởng trong mọi tổ chức và toàn xã hội. Công tác tư tưởng có nhiệm vụ góp phần làm
phong phú và quán triệt học thuyết Mác-Lênin, tạo cơ sở cho việc đề ra đường lối chính
trị đúng đắn, truyền bá thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng cùng đường lối của
hội chủ nghĩa của Đảng, làm cho nhân dân hiểu biết và tin theo chủ nghĩa xã hội. Song
trên lĩnh vực lý luận đã phạm một số sai lầm, nhận thức giản đơn về chủ nghĩa xã hội,
mắc bệnh giáo điều, rập khuôn, làm cho việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách
không được sát đúng với thực tiễn nước ta. Bệnh chủ quan, một chiều cũng chi phối công
tác giáo dục tư tưởng. Dân chủ hoá trong sinh hoạt tư tưởng và hoạt động xã hội chưa
được coi trọng, chưa uốn nắn kịp thời và phê phán sắc bén những khuynh hướng cực
đoan về các mặt trên.
Từ quá trình lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng, có thể nêu lên những kinh nghiệm sau:
- Cần nắm vững công tác lý luận, làm cho lý luận luôn bám sát thực tiễn, thực sự có tác
dụng chỉ đạo hoạt động thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chính sách.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng đã có nhiều thành tựu về nghiên cứu lý luận,
nhất là lý luận về con đường giải phóng dân tộc của Việt Nam. Sự lạc hậu về lý luận cách
mạng xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ bệnh giáo điều, sùng bái kinh nghiệm nước ngoài;
mặt khác, lại chủ quan, duy ý chí, không coi trọng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
Công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đang đòi hỏi đảng phải đổi mới tư duy lý luận ,
nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội. Để làm việc đó, cần khắc phục nếp nghĩ giáo điều, chủ
quan, duy ý chí, đề cao tinh thần sáng tạo, đi sâu tổng kết quá trình cải tạo và xây dựng
chủ nghĩa xã hội của nước ta, tham khảo kinh nghiệm của các nước, từ đó rút ra những
kết luận, từng bước đổi mới và nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta.
- Nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, cần gắn việc giáo dục tư tưởng với đường
lối, chính sách của Đảng. Tư tưởng, nhất là tư tưởng chính trị, là cái cốt lõi của đường lối,
chính sách. Hiểu đường lối, chính sách, trước hết là quán triệt tư tưởng chính trị chỉ đạo
đường lối, chính sách đó. Trong lịch sử công tác tư tưởng của Đảng, nhìn chung, Đảng ta
đã xuất phát từ những mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng của từng giai đoạn, từng thời kỳ để
đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp công tác tư tưởng, vừa bảo đảm thực hiện
mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, vừa nâng cao trình độ chính trị, giác ngộ cách mạng của
cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Lãnh đạo tư tưởng phải bảo đảm tính đảng, tính khoa học. Đó là những nguyên tắc cơ
bản của công tác tư tưởng. Hết sức tránh những sai lầm đã diễn ra trong lịch sử như gò
ép, chủ quan, giản đơn một chiều , đề cao dân chủ, tôn trọng sự thật là điều kiện để làm
1. Bảo đảm tính đúng đắn của các quyết định cụ thể
Ra quyết định cụ thể, đó là khâu đầu tiên để bảo đảm hiệu quả của tổ chức hoạt động thực
tiễn.
Những nǎm qua, Đảng và Nhà nước ta, từ trung ương tới cơ sở đã phạm một số sai lầm
trong việc ra quyết định. Đó là tình trạng quyết định chung chung, không hiệu quả đối với
thực tiễn. Đó là tình trạng chồng chéo, phủ định lẫn nhau, gây trở ngại cho quá trình thực
tiễn, còn mang tính chủ quan, gắn ép, thiếu sát thực.
Kinh nghiệm thực tiễn đòi hỏi phải:
- Xuất phát từ thực tế khách quan trong quá trình chuẩn bị và ra quyết định.
Để làm việc đó, cần tiến hành điều tra nghiên cứu, hiểu biết sâu sắc về đặc điểm của
ngành, của địa phương, cơ sở , cần coi trọng những sáng kiến của địa phương, của cơ sở
đã được thực tiễn kiểm nghiệm. Đối với những quyết định quan trọng, nên tiến hành thử
nghiệm ở một số địa phương, đơn vị, sau hoàn chỉnh thành quyết định chung.
- Hết sức hạn chế tình trạng chồng chéo, trái ngược nhau giữa các quyết định.
ở đây, cần tránh tư tưởng cục bộ, bản vị, địa phương, đồng thời phải có sự điều hành
đúng đắn và tập trung của cấp trên, của người lãnh đạo và quản lý các đơn vị giống như
điều khiển của nhạc trưởng đối với cả dàn nhạc. Đặc biệt lưu ý bảo đảm tính nhất quán
giữa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước với quyết định cụ thể của ngành, địa
phương; quyết định cụ thể của ngành, địa phương phải bảo đảm thực hiện đường lối,
chính sách, chứ không được trái ngược, gây trở ngại cho việc thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ chung.
2. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng, công tác tổ chức với hoạt động kinh tế - xã
hội
- Nhằm vào mục tiêu tổ chức, hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội cần gắn chặt công tác tư
tưởng và công tác tổ chức.
Trong hoạt động thực tiễn thường không kết hợp chặt chẽ hai mặt công tác tư tưởng và
công tác tổ chức. Thực tiễn cho thấy, tư tưởng tách rời tổ chức sẽ sa vào lý thuyết suông,
phong trào cách mạng sẽ không thể sâu rộng và bền bỉ; ngược lại, công tác tổ chức không
gắn liền với công tác tư tưởng sẽ rơi vào mệnh lệnh, gò ép, làm mất tính tự giác của
phong trào cách mạng. Kết hợp tư tưởng với tổ chức bảo đảm tinh thần tự nguyện, tự giác
cách mạng để tổ chức bộ máy. Hơn thế, để tác động tích cực đến đối tượng tổ chức phải
phản ánh đúng những yêu cầu khách quan của nó. Mọi vấn đề về tổ chức mà xuất phát từ
ý chí chủ quan, như vì con người mà lập ra tổ chức, phát triển tổ chức vì động cơ cá
nhân đều dẫn đến sai lầm, làm giảm hiệu quả của tổ chức.
- Bộ máy có vai trò rất quan trọng, nhưng suy đến cùng thì "cán bộ quyết định tất cả". Vì
thế, việc đào tạo, phân công, đề bạt cán bộ, phải là một trong những mối quan tâm lớn
của Đảng.
Sau khi chính quyền cách mạng được thiết lập, đương nhiên các cơ quan nhà nước có
trách nhiệm và quyền hạn giải quyết vấn đề cán bộ của mình. Song, Đảng không thể
không nắm vấn đề cán bộ, Đảng không thể buông lỏng lãnh đạo ở khâu có ý nghĩa quyết
định đó.
Kinh nghiệm giải quyết vấn đề cán bộ là phải xuất phát từ yêu cầu bảo đảm nhiệm vụ
cách mạng mà bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Mặt khác, phải nhận thức rõ
mối quan hệ giữa tổ chức với cán bộ: cán bộ phải thích ứng với đòi hỏi của tổ chức, bảo
đảm cho tổ chức hoàn thành nhiệm vụ. Ngược lại, tổ chức phải tạo điều kiện cho phát
triển tài nǎng, phẩm chất của cán bộ và của mọi bộ phận hợp thành tổ chức. Tổ chức cũng
như con người chỉ có sức mạnh khi có sự phát triển hoà hợp trong thể hữu cơ.
4. Dựa vào sức mạnh làm chủ của nhân dân, thông qua các phong trào cách mạng
của quần chúng để thực hiện mọi nhiệm vụ
Tổ chức thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng nhất thiết phải dựa vào các
phong trào cách mạng của quần chúng.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là kết quả
của những cao trào cách mạng nối tiếp nhau. Sở dĩ Đảng có thể phát động được những
cao trào cách mạng đó vì dựa trên cơ sở cương lĩnh, đường lối chiến lược đúng đắn, Đảng
đã đề ra được mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể sát hợp xác định đúng động lực và lực lượng
cách mạng vạch ra được phương pháp, hình thức đấu tranh phù hợp; đề ra được khẩu hiệu
hành động kịp thời, chính xác, kết hợp chặt chẽ khẩu hiệu hành động với khẩu hiệu tuyên
truyền; kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức, v.v Vì thế mà động viên được
mọi tầng lớp nhân dân hǎng hái tham gia phong trào cách mạng.
Trong lãnh đạo tổ chức thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta sớm nhận rõ động
cách mạng tháng tám 1945
(ĐCSVN)- Cách mạng tháng Tám (CMTT) thắng lợi vĩ đại là do nhiều nhân tố hợp thành.
Một trong những nhân tố có tính quyết định thắng lợi đó là vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập.
Chưa kể thời kỳ hoạt động của các tổ chức cộng sản tiền thân, để giành được chính quyền cả
nước trong vòng 12 ngày đêm Tổng khởi nghĩa (TKN), Đảng ta đã phải trải qua 15 năm hoạt
động, lãnh đạo thắng lợi liên tiếp mấy cao trào cách mạng với nhiều chiến tích anh hùng, trải qua
với bao khó khăn gian khổ và hy sinh.
Suốt 15 năm đấu tranh để giành chính quyền, giành độc lập dân tộc, biết bao đảng viên ưu tú
của Đảng, nhiều chiến sĩ cách mạng đã bị thực dân Pháp xử bắn, hoặc bị tra tấn dã man mà hy
sinh trong các nhà tù, nhà đày: Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn (Sài Gòn), Sơn La, Lao Bảo, Kon
Tum, Buôn Ma Thuột và Côn Đảo
Đến khi phát động cao trào chống Nhật, cứu nước làm tiền đề cho TKN, cũng là lúc nạn đói
khủng khiếp do phát xít Nhật - Pháp gây ra đã giết chết hơn hai triệu đồng bào ta, trong đó có
không ít đảng viên của Đảng và cán bộ Việt Minh. Nhiều đảng viên, chiến sĩ Việt Minh, cả Tổng
bí thư Trường - Chinh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương đang hoạt động ở ATK
thuộc vùng trung du và đồng bằng sông Hồng phải nhịn đói, chịu rét, ăn rau, củ chuối bám sát
phong trào, lãnh đạo nhân dân tích cực thực hiện chủ trương khởi nghĩa từng phần (KNTP), phá
kho thóc của giặc Nhật và bọn Việt gian cứu đói; lập các chiến khu chống Nhật, tích cực chống
địch càn quét. Khi sắp họp Hội nghị toàn quốc của Đảng để quyết định TKN, ở lán nhỏ Nà Lừa
trong rừng Tân Trào, Sơn Dương (Tuyên Quang), lãnh tụ Hồ Chí Minh ốm nặng tưởng chừng
khó qua. Đảng ta lúc đó có 5000 đảng viên, nhưng phần lớn còn bị giam giữ trong các nhà tù,
nên không bố trí đủ lực lượng nòng cốt lãnh đạo cho phong trào cả nước.
Lực lượng vũ trang mới có 5000 quân giải phóng trang bị vũ khí thô sơ, mấy ngàn tự vệ cứu
quốc đối chọi với hơn 6 vạn quân Nhật, hàng vạn quân lính của chính quyền bù nhìn Bảo Đại -
Trần Trọng Kim và hàng vạn quân Pháp bị Nhật tạm giam. Phương tiện giao thông, liên lạc điện
đài không có. Mưa lụt đê vỡ de dọa tính mạng hàng triệu đồng bào ở trung du và đồng bằng Bắc
Bộ
Trong thời điểm có nhiều khó khăn tưởng như không thể vượt qua nổi. Nhưng trước vận mệnh
của dân tộc ta đã tới, Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh chớp đúng thời cơ ngàn năm có
dân đến chỗ thắng lợi, đảng cách mạng nào biết học ở phong trào"(1). Ngày nay để làm giàu trí
tuệ, bản lĩnh, Đảng phải "không ngừng nâng cao trình độ lý luận, nắm vững và vận dụng sáng
tạo những luận điểm cơ bản và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, đồng thời phải không ngừng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn sinh động từ phong trào
cách mạng quần chúng"(2) như Đại hội VII (1991) đã nêu ra và các Đại hội VIII, Đại hội IX của
Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển.
Cách mạng là công việc rất to lớn và khó khăn, đòi hỏi Đảng lãnh đạo phải có nghị lực cách
mạng phi thường, như Hồ Chí Minh đã nói đời này làm chưa xong, đời sau tiếp tục làm. Nghị lực
của Đảng là tinh thần tận tụy dũng cảm hy sinh của toàn Đảng, và của mỗi cán bộ, đảng viên.
Trong CMTT, Đảng có nghị lực nên đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách kiên quyết, khôn khéo
chống địch khủng bố, trong chuẩn bị lực lượng chính trị, vũ trang, trang bị tinh thần và vũ khí cho
quần chúng khởi nghĩa. Cán bộ, đảng viên từ cấp Trung ương, chi bộ đến đã được tôi rèn luyện
trong đấu tranh, nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí kiên trung bất khuất, sẵn sàng chịu
đựng mọi gian khổ hy sinh, luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng.
Có nghị lực, Đảng mới dũng cảm rời bỏ thành thị và hoạt động hợp pháp, chuyển trọng tâm công
tác về nông thôn đồng bằng, miền núi với bao gian khổ, bí mật xây dựng lực lượng và căn cứ địa
cách mạng.
Có nghị lực, năm, sáu đảng viên lãnh đạo hơn 600 quần chúng khởi nghĩa ở Bắc Sơn; vài trăm
đảng viên chỉ huy hàng nghìn quần chúng nhiều tỉnh, thành trong khởi nghĩa Nam Kỳ, một số ít
đảng viên bị giam trong tù đã lãnh đạo thắng lợi cuộc khởi nghĩa Ba Tơ (Quảng Ngãi); vài ba
đảng viên tổ chức một loạt cuộc KNTP thắng lợi, lập chiến khu Trần Hưng Đạo; ba bốn cán bộ,
đảng viên lãnh đạo lập chiến khu Quang Trung; và mấy nghìn đảng viên lãnh đạo thành công
mau lẹ cuộc TKN giành chính quyền toàn quốc.
Trong thời kỳ CMTT, trí tuệ và nghị lực cách mạng là hai phẩm chất nổi bật nhất thể hiện bản lĩnh
lãnh đạo vững vàng của Đảng ta. Trí tuệ sáng suốt làm cho Đảng có nhiều sáng tạo và tăng
thêm nghị lực cách mạng. Ngược lại, nghị lực cách mạng làm cho trí tuệ và sức sáng tạo của
Đảng càng thêm phong phú bất kể trong hoàn cảnh, tình huống nào.
Có trí tuệ và nghị lực cách mạng, nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị địch bắt đã vượt
qua nhiều cực hình tra tấn về thể xác và tinh thần, vượt qua mọi cám dỗ mua chuộc và trước lúc
phải hy sinh đã để lại cho Đảng, cho dân những lời trăn trối, căn dặn, động viên bất hủ. Trí tuệ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, kiên định mục tiêu ĐLDT và
CNXH, kiên trì đổi mới theo định hướng XHCN. Là đảng chính trị duy nhất lãnh đạo sự nghiệp
đổi mới ở nước ta. Đảng luôn kiên trì và nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ then chốt về xây dựng
Đảng đủ trí tuệ, nghị lực, năng lực và trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
nhằm đảm bảo sự lãnh đạo thành công của Đảng.
Hiện nay, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng còn có mặt chưa đáp ứng yêu cầu của
tình hình mới; nhiều vấn đề lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, về sự lãnh
đạo của Đảng và công tác xây dựng Đảng đề ra trong Cương lĩnh và các Nghị quyết Đại hội
Đảng chậm được làm sáng tỏ, cụ thể hóa, thể chế hóa và tổ chức thực hiện. Một bộ phận cán
bộ, đảng viên của Đảng tính chiến đấu, tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng, còn yếu kém, có biểu hiện thờ ơ, ngại đấu tranh với những trường hợp chống đối, nói và
làm trái quan điểm, đường lối của Đảng. Tư tưởng cơ hội, thực dụng, cục bộ, hẹp hòi, chủ nghĩa
cá nhân chua giảm; tình trạng thoái hóa, biến chất về lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng
phí, sách nhiễu nhân dân chưa được ngăn chặn, đẩy lùi triệt để làm cho lòng tin của nhân dân
giảm.
Trong tình hình đó, trở về với tinh thần và kinh nghiệm của CMTT, xây dựng Đảng có đầy đủ trí
tuệ, nghị lực, dũng cảm, trung thành, đạo đức, văn minh, đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhân
dân, phấn đấu hy sinh vì quyền lợi của dân tộc, đất nước, nhân dân và giai cấp công nhân tiên
phong là một giải pháp cấp thiết, thiết thực. Đúng dịp kỷ niệm 60 năm CMTT thành công, lập
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), HNTƯ 12 (7-
2005), khóa IX của Đảng đã có những nhận định, chủ trương, giải pháp đúng đắn về thực hiện
nhiệm vụ then chốt chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, với yêu cầu và
nhiệm vụ của tình hình mới. HNTW 12 đã đề ra các phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nhằm
tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng trên tất cả mọi mặt; quyết định lấy chủ đề của Đại hội X sắp
tới là "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc,
đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển"(1);
đồng thời xác định phải "xây dựng Ban chấp hành Trung ương khóa X của Đảng đủ phẩm chất,
năng lực để hoàn thành nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới"(2). Những chủ trương, quyết định
đó của Trung ương Đảng là bước tiến mới quan trọng trong quá trình chuẩn bị Đại hội X của
dạy được người khác. Muốn người ta chính thì trước hết mình phải chính, tự mình phải trong
sáng. Ðã là con người thì đều có thiện, ác ở trong lòng. Người thường xuyên tự tu dưỡng khác
với người không tu dưỡng tương tự như sự khác biệt giữa người sống và người chết.
Trong xu thế hội nhập, cùng với khẳng định sức mạnh tập thể, thì vai trò cá nhân là cực kỳ quan
trọng. Muốn vậy, mỗi người phải thường xuyên tự tu dưỡng đạo đức, như Bác từng căn dặn:
Ðạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày
mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.
Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi. Quyền lực một khi được trao vào
tay những cán bộ công chức không có đạo đức, thì quyền lực đó sẽ làm tha hóa con người, biến
con người trở thành nô lệ của quyền lực.
Tư tưởng và tấm gương tu dưỡng, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bài học mẫu mực,
sáng ngời trong việc nâng cao đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, ý thức tổ
chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, phục vụ nhân dân, đấu tranh, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, lãng phí.
Là người đứng đầu Ðảng và Nhà nước nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi quyền lực thuộc về
dân và do dân ủy thác. Còn mình thì như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt
trận, "bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui".
Mong muốn của lãnh tụ thật giản dị: làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu
cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với
vòng danh lợi. Mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức được điều đó ở Bác Hồ là việc quan trọng hàng
đầu; tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức rèn luyện và thật sự làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh khó khăn hơn nhiều, nhưng lại là điều có ý nghĩa quyết định nhất.
Tu dưỡng đạo đức cách mạng như chuyện rửa mặt hằng ngày, trên tinh thần tự giác, tự nguyện,
dựa vào lương tâm và ý thức trách nhiệm của mỗi người. Bởi vì đạo đức cách mạng là nhằm giải
phóng con người và là đạo đức của những con người được giải phóng.
Theo Hồ Chí Minh, người đời ai cũng có khuyết điểm. Có làm việc thì có sai lầm. Chúng ta không
sợ có sai lầm và khuyết điểm. Ðiều quan trọng là biết nhận ra sai lầm, khuyết điểm, vạch rõ
nguyên nhân vì đâu sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách khắc phục khuyết điểm đó. Tư
tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ
dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ.