Tài liệu Luận văn - Những thời cơ và thách thức khi xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU của ngành dệt may Việt Nam doc - Pdf 96

Tiểu luận
Những thời cơ và thách thức khi xuất
khẩu hàng may mặc sang thị trường
EU của ngành dệt may Việt Nam
Khoa: Quản trị kinh doanh
1
Mục lục
Lời mở đầu 3
Chương I: Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu 5
I. Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu: 5
1. Khái niệm và đặc điểm: 5
a. Khái niệm 5
b. Đặc điểm 5
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 6
II. Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu 9
1. Nhân tố kinh tế 9
2. Nhân tố khoa học và công nghệ 10
3. Nhân tố chính trị, xã hội và quân sự: 10
4. Nhân tố liên minh, liên kết về kinh tế – chính trị: 11
Chương II : Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU 12
I. Vị trí của ngành dệt may và thị trường EU: 12
1. Vị trí của ngành dệt may 12
2. Vị trí của thị trường EU 13
a. EU: Một thị trường rộng lớn và thống nhất 13
b. EU: trung tâm kinh tế hùng mạnh, có vai trò lớn trong nền kinh tế thế giới 14
c. EU: nền ngoại thương phát triển thứ hai thế giới 14
II. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU 15
1. Về kim ngạch xuất khẩu 15
2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 17
4. Về cơ cấu thị trường 20
5. Cạnh tranh với các đối thủ ở thị trường EU 22

quá trình phân công lao động, quá trình nâng cao vai trò tự chủ kinh doanh
của doanh nghiệp. Hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của công nghiệp, nó là
bản chất của hoạt động thương mại quốc tế trong phát triển kinh doanh công
nghiệp. Cho nên để tăng nhanh tốc độ xuất khẩu, đẩy nhanh tiến độ hội nhập
kinh tế với khu vực và thế giới, đảng ta đã chủ trương “ tiếp tục mở cửa nền
kinh tế, thực hiện đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá mối quan hệ kinh
tế với các nước trên thế giới ”
Việc xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU hiện nay đang là vấn đề
trung tâm để phát triển kinh tế nước nhà. Mặt khác, hãng dệt may lại đang là
một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong giai đoạn hiện nay của
Việt Nam. Do vậy, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU có ý nghĩa
tầm chiến lược đối với sự phát triển ngoại thương nói riêng và nền kinh tế
của Việt Nam nói chung.
Xuất phát từ những thực tế trên và nhận thức được tầm quan trọng của
ngành dệt may Việt Nam và thị trường EU là một thị trường tiềm năng song
cũng có những quy định hết sức khắt khe đòi hỏi hàng dệt may Việt Nam
phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường này. Vì vậy, em
đã chọn đề tài: “Những thời cơ và thách thức khi xuất khẩu hàng may
mặc sang thị trường EU của ngành dệt may Việt Nam”.
Khoa: Quản trị kinh doanh
3
Nội dung của đề tài này bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu.
Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị
trường EU.
Chương III: Các kiến nghị và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu.
Trên cơ sở những kiến thức đã học và việc tổng hợp các tài liệu, sách
báo, tạp chí em hy vọng đưa ra được nội dung cô đọng và cơ bản nhất liên
quan đến đề tài. Trong quá trình thực hiện đề án môn học này, mặc dù đã có
sự nỗ lực cố gắng của bản thân song do trình độ, thời gian và kinh nghiệm

trình hội nhập, quốc tế hoá. Lợi thế so sánh đó là các lợi thế về vị trí địa lý,
về lao động, về tài nguyên và sở hữu phát minh sáng chế.
- Trong điều kiện hiện nay, xuất khẩu hàng hoá ở nước ta đang là một
trong những mục tiêu cấp bách hàng đầu được chú trọng. Bởi nó đem lại lợi
ích vô cùng to lớn cho sự phát triển nước nhà, tạo cho nhiều quốc gia có cơ
hội thuận lợi trong việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội.
Khoa: Quản trị kinh doanh
5
- Hoạt động xuất khẩu hàng hoá diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia
khác nhau, ở trong các môi trường và bối cảnh khác nhau. Điều này đòi hỏi
chúng ta phải có một trình độ hiểu biết và kinh nghiệm để giao lưu và học
hỏi khi xuất khẩu ra nước ngoài. Vì vậy, chúng ta không thể lấy kinh
nghiệm trao đổi hàng hoá thông thường trong một quốc gia để áp đặt hoàn
toàn cho hoạt động trao đổi hàng hoá với nước ngoài.
- Hoạt động xuất khẩu có thể được tiến hành bởi tư nhân hoặc nhà
nước. Đối với doanh nghiệp nhà nước thì chính phủ có nhiều mục tiêu khác
nhau như chính trị, ngoại giao, văn hoá Do đó, kinh doanh của các doanh
nghiệp nhà nước, chính phủ có thể hiện hoặc không hoàn toàn hướng về lợi
nhuận. Còn đối với doanh nghiệp tư nhân thì mục đích của họ là tối đa hoá
lợi nhuận, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước.
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là công cụ,
phương tiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Do vậy, đẩy mạnh xuất khẩu
được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò của xuất khẩu thể
hiện ở các mặt sau:
- Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá hiện
đại hoá.
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, trong mục tiêu kế hoạch 5 năm
2001-2005 có nói: “ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Chuyển dịch

+ Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy
sản xuất phát triển và ổn định.
Khoa: Quản trị kinh doanh
7
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nước thông qua việc thu hút vốn, kỹ thuật, công
nghệ từ các nước phát triển và Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất
nước tạo ra một năng lực sản xuất mới.
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh
này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất
luôn thích nghi được với mọi thị trường.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công việc quản trị sản xuất và kinh doanh.
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống nhân dân:
Việc xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua các thị trường quốc tế phải cần
một lượng lớn nhân công để sản xuất và hoạt động xuất khẩu thu về một
lượng ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng phục vụ đời sống
và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của nhân dân. Những
mặt hàng trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất còn kém như: ô tô,
xe máy do đòi hỏi trình độ và kỹ thuật cao cho nên việc đáp ứng nhu cầu
đều qua con đường nhập khẩu đến với người tiêu dùng.
- Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế
đối ngoại của nước ta:
Quan hệ kinh tế đối ngoại bao các hoạt đông giao lưu giữa các nước với
nhau. Trong đó xuất khẩu là một hình thức của hoạt động kinh tế đối ngoại.
Khoa: Quản trị kinh doanh

các phía. Đầu tiên đó là các sản phẩm cùng loại hay thay thế từ thị trường
trong nước. Thứ hai là các sản phẩm của nước mình nhập khẩu vào. Thứ ba
là các sản phẩm của các nước khác nhập khẩu vào nước mình nhập khẩu.
Như vậy, để tồn tại và phát triển ở nước ngoài, sản phẩm của doanh nghiệp
phải được người tiêu dùng chấp nhận và có tính cạnh tranh cao trên thị
trường quốc tế.
- Hàng hoá tham gia xuất khẩu của doanh nghiệp được thanh toán bằng
ngoại tệ có giá trị chuyển đổi. Trong khi đó hạch toán chi phí lại dùng nội tệ
do vậy, tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu.
2. Nhân tố khoa học và công nghệ
Như đã nói ở trên, việc xuất khẩu hàng hoá sang thị trường ngoài nước
đòi hỏi sản phẩm xuất khẩu phải có các đặc tính riêng biệt và có thể cạnh
tranh được với các sản phẩm cùng loại trên thị trường nước bạn và của các
nước khác nhập vào. Để tạo ra được các tố tính ưu việt, các nhà xuất khẩu
không ngừng đổi mới đầu tư thiết bị, khoa học công nghệ cho dây chuyền
sản xuất để ngày càng đổi mới sản phẩm, thích nghi với nhu cầu đa dạng
phong phú của người tiêu dùng là nước ngoài. Do vậy nhân tố khoa học
công nghệ ảnh hưởng quyết định đến mức tiêu thụ sản phẩm hay việc đáp
ứng nhu cầu thị trường cả về số lượng và chất lượng.

3. Nhân tố chính trị, xã hội và quân sự:
Sự ổn định hay không ổn định về chính trị – xã hội cũng là nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Hệ thống chính trị, các quan điểm chính trị, xã hội đều tác
động trực tiếp đến phạm vi lĩnh vực, mặt hàng và đối tác kinh doanh. Mặt
khác các xung đột lớn hay nhỏ về quân sự trong nội bộ quốc gia và giữa các
Khoa: Quản trị kinh doanh
10
quốc gia dẫn đến sự thay đổi lớn về các chính sách kinh tế, chính trị, quân
sự. Từ đó tạo ra các hàng rào vô hình ngăn cản hoạt độnh kinh doanh quốc

- Xu hướng chuyển dịch các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao
động trong đó có ngành dệt may từ các nước phát triển sang các nước đang
phát triển. Lợi thế của ngành dệt may là đòi hỏi một lượng vốn đầu tư tương
đối ít ( so với các ngành công nghiệp khác ), phát huy hiệu quả tương đối
Khoa: Quản trị kinh doanh
12
nhanh, giải quyết lao động xã hội phù hợp với bước đi ban đầu của các nước
đang phát triển.
- Ngành dệt may Việt Nam có rất nhiều lợi thế như: Giá nhân công rẻ,
trình độ tay nghề của người lao động ở vào mức khá so với ở nơi khác. Điều
này rất quan trọng vì nước ta hiện nay có một lực lượng lao động nhàn rỗi
khá lớn ( nhất là lao động nữ ) rất phù hợp với ngành công nghiệp nhẹ,
ngành sử dụng nhiều lao động này.
Thêm vào đó, trong sản xuất hàng dệt may chúng ta đảm bảo cung ứng
được một phần nguyên liệu phụ do sản xuất trong nước, không phụ thuộc
hoàn toàn vào nhập khẩu.
2. Vị trí của thị trường EU.
a. EU: Một thị trường rộng lớn và thống nhất.
Thị trường thống nhất có thể được tóm tắt trong 4 từ: tự do lưu thông.
đây là sự tự do lưu thông-không bị cản trở-của cải và dịch vụ, các thể nhân
và tiền bạc giữa 15 nước EU, như thể trong một quốc gia hoặc một thị
trường duy nhất. Thí dụ cụ thể, là người khách hàng có thể được cung ứng
một danh mục các sản phẩm hoặc dịch vụ rất rộng bởi các doanh nghiệp tại
các nước khác nhau.
Nói như vậy không có nghĩa là “EU mở cửa để hứng chịu mọi cơn gió”.
EU vừa tăng cường các biện pháp bảo hộ thương mại để bảo vệ các ngành
công nghiệp của mình trước nhưng hành động không trung thực của các đối
thủ cạnh tranh. Các biện pháp này gồm thuế chống xuất khẩu bán phá giá,
thuế chống tài trợ và các điều khoản bảo vệ khác. Ngoài ra, EU cũng có
những quy định “giải quyết các trở ngại thương mại” cho phép chống lại

Khoa: Quản trị kinh doanh
14
Tình hình ngành công nghiệp dệt may ở Châu Âu: Do khoa học và công
nghệ phát triển mạnh mẽ chưa từng có ở một số lĩnh vực như: điện tử, tin
học, tự động hoá, vật liệu mới, công nghệ sinh học nên cuộc cách mạng
này làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hầu hết các nước trong
EU đều diễn ra nhanh chóng theo hướng chuyển mạnh sang các ngành có
hàm lượng trí tuệ và dịch vụ cao, còn các tỷ trọng nông nghiệp và khai thác
khoáng sản giảm dần và đặc biệt là các ngành cần nhiều nhân công đang có
xu hướng chuyển dịch ra khỏi Châu Âu. đặc biệt là ngành dệt may, sản xuất
hàng dệt may ở các năm đang giảm dần với tỷ lệ giảm đang tăng lên. Do
vậy, việc đáp ứng nhu cầu nội tại ở EU đang là vấn đề cần phải cập nhập.
Đó là một thời cơ thuận lợi cho ngành dệt may Việt Nam không bỏ lỡ cơ
hội đẩy mạnh và tăng tốc xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU.
II. Tình hình xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU
1. Về kim ngạch xuất khẩu
Ngành dệt may nước ta phát triển đã lâu nhưng chỉ từ thập niên 90 trở lại
đây, nó mới thực sự chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế nói chung và
hoạt động ngoại thương nói riêng. Trong suốt 4 năm qua, kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may luôn đạt trên 1 tỷ USD/năm và trở thành mặt hàng xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam.
Từ năm 1991 đến nay, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nước ta
khong ngừng tăng. Năm 1991, tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may chỉ đạt
158 triệu USD, đến năm 1998 đã gấp 9,18 lần, đạt 1450 triệu USD, tương
đương với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 43,5 %, tức khoảng
160 triệu USD/năm. Bên cạnh đó, tỷ trọng hàng dệt may xuất khẩu trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta luôn tăng, từ 7,6% năm 1991 lên 15%
năm 1998. Đến nay, hàng dệt may đứng thứ nhất trong số 10 mặt hàng xuất
khẩu hàng đầu của Việt Nam.
Khoa: Quản trị kinh doanh

USD
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998
Thị trường EU 250 285,50 350,44 420,52 450,55 563,68
Nguồn: Tổng cục hải quan
2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Một vấn đề đáng lưu ý là giá trị gia công chiếm tới 80% kim ngạch xuất
khẩu hàng may mặc.Hơn nữa, các hợp đồng gia công không ổn định, giá gia
công thấp và sự phụ thuộc về nguyên vật liệu đã khiến không ít doanh
nghiệp may mặc nước ta lúng túng, bị động trong sản xuất kinh doanh.
Những mặt hàng xuất khẩu khó làm như quần âu, áo veston chiếm tỉ lệ nhỏ
vì rất ít doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ để có đủ khả năng đáp ứng
yêu cầu sản xuất.các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của ngành dệt may
Việt Nam chủ yếu là áo jacket, áo váy, sơ mi đơn giản. Đến nay, những mặt
hàng cao cấp đòi hỏi công nhân lành nghề, máy móc hiện đại còn nhiều hạn
ngạch nhưng chỉ một số ít doanh nghiệp có khả năng thực hiện. Như vậy,
trong thời gian tới, các doanh nghiệp không tự lấp lỗ hổng về mặt kỹ thuật
về tay nghề tức là tự mình làm mất đi một thị trường có rất nhiều tiềm năng
cho ngành dệt may nước nhà.
Trong các chủng loại mặt hàng may mặc xuất khẩu sang EU, hầu hết các
doanh nghiệp may mới chỉ tập trung vào một số sản phẩm dễ làm, các mã
hàng nóng như áo jacket 2 hoặc 3 lớp, áo váy, sơ mi. Đặc biệt, đối với mặt
hàng áo jacket luôn chiếm vị trí hàng đầu trong cơ cấu hàng dệt may xuất
khẩu sang EU. Năm 1997, Việt Nam xuất khẩu sang EU gần 11,7 triệu
chiếc, tăng gần 5 triệu chiếc ( hay 72% ) so với năm 1993, chiếm 50% kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU. Các nước EU nhập khẩu hàng dệt
Khoa: Quản trị kinh doanh
17
may lớn nhất của Việt Nam là Đức (40-42%), Pháp (13-15%), Hà Lan (10-
13%) Ngoài ra Việt Nam còn mở rộng quan hệ buôn bán với các nước EU
khác như: Phần Lan, Thuỵ Điển, Đan Mạch tỷ trọng nhập khẩu của các

định trong thành công của hoạt động xuất khẩu.
Từ năm 1993, với Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam - EU
(được ký ngày 15/2/1992), EU đã trở thành một trong những thị trường xuất
khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu tăng từ
250 triệu USD lên 450 triệu USD năm 1997, chiếm khoảng 40% tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt
may sang EU trong những năm gần đây là những mặt hàng do EU quy định
theo hạn ngạch nên công tác Marketing chưa thực sự được các doanh nghiệp
Việt Nam chú trọng. Trong xu hướng toàn cầu hoá ngày nay, công tác này
không thể cứ “ ì ạch” như trước, mà cần được quan tâm đầu tư cho đúng với
tầm vóc của nó.
Với EU, do là một thị trường rộng lớn nên nhiều điểm khác biệt về thị
hiếu tiêu dùng, về tập quán kinh doanh và phương thức tổ chức phân phối
đối với mỗi nước thành viên, nên để thâm nhập vào thị trường đòi hỏi phải
có những kênh Marketing riêng biệt, thích ứng với cơ cấu của hệ thống phân
phối của mỗi nước thành viên cũng như phù hợp với đặc điểm của sản phẩm
xuất khẩu.
Mối liên hệ giữa nhà xuất khẩu với hệ thống phân phối ở nước nhập
khẩu thường được tổ chức theo các hình thức sau:
-Các cửa hàng chuyên doanh hàng may mặc liên nhánh thường nhập
khẩu trực tiếp từ các nước sản xuất hoặc đặt các hãng nước ngoài gia công
theo hợp đồng, phụ từ các hợp động gia công chính (theo phương thức
CMT).
Khoa: Quản trị kinh doanh
19
-Các nhà bán lẻ độc lập có thể tổ chức nguồn hàng theo các hình thức
mua hàng trực tiếp từ các nhà sản xuất hay đại lý của các nhà sản xuất; mua
hàng của hãng nhập khẩu/ bán buôn; mua hàng theo hình thức frachize (như
các cửa hàng liên nhánh hay dây chuyền phân phối; mua của các trung tâm
thu mua ).

xuất khẩu giữa hai loại sản phẩm tương đồng của Việt Nam và Thái Lan lại
có sự chênh lệch khá cao. Đây là một thiệt thòi không nhỏ do ngành tạo mốt
Việt Nam còn non trẻ. Trong thời gian tới, nhờ một số thay đổi trong Hiệp
định buôn bán hàng dệt may EU-Việt Nam giai đoạn 1998-2000 ký ngày
17/11/1997, ngành may mặc của nước ta sẽ có nhiều cơ hội để mở rộng thị
trường tiệu thụ sang EU. Theo Hiệp định này, từ năm 1998, Việt Nam được
phép tự do chuyển đổi Quota giữa các mặt hàng một cách rộng rãi hơn (17%
so với trước kia là 12%). Hơn nữa, Việt Nam còn được hưởng quy chế tối
huệ quốc và quy chế ưu đãi phổ cập của EU. Như vậy, một số mặt hàng của
Việt Nam sẽ được hưởng thuế quan nhập khẩu 0%, làm tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm xuất khẩu nước ta nói chung, trong đó có hàng dệt may.
Các nhà xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đến nay thường vẫn phải
thông qua nước thứ 3 như Đài Loan và Đức để vào thị trường nước ngoài.
Bên cạnh thị trường có hạn ngạch, Việt Nam đã thâm nhập được một
số thị trường không hạn ngạch khổng lồ như Nhật Bản, Mỹ, Singapore và
Đông Âu để tiêu thụ hàng dệt may xuất khẩu, trong đó thị trường lớn nhất
là Nhật Bản, không chỉ có lượng dân cư đông đúc hơn 125 triệu người mà
Nhật Bản còn là nước có mức tiêu thụ sản phẩm may mặc rất cao (27
kg/người/năm). Năm 1997 Việt Nam đứng hàng thứ 7 trong số các nước
xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất vào Nhật Bản với thị phần hàng dệt thoi là
3,6% và dệt kim là 2,3%. Tuy vậy, Việt Nam mới chỉ đáp ứng được nhu cầu
may mặc bình dân của người Nhật Bản với các mặt hàng chủ yếu là áo gió
Khoa: Quản trị kinh doanh
21
nam, quần áo lao động, và một số loại sơ mi, quần âu đơn giản. Trong năm
1998 vừa qua, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
khu vực, sức mua của thị trường Nhật Bản giảm mạnhkhiến cho kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Nhật Bản giảm 150 triệu USD.
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng dệt may không hạn ngạch có tiềm
năng lớn thứ hai của Việt Nam. Chỉ bằng 2/3 dân số EU nhưng mức tiêu thụ

cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới.
Ngành dệt may với đặc điểm có hàm lượng lao động lớn, yêu cầu về
công nghệ không quá hiện đại và có tỉ lệ hàng xuất khẩu lớn được đánh giá
là có tính phù hợp cao trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế của Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ ngành
công nghiệp mới này như miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu đầu
vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, quy đinh mức thuế 0% để được hoàn thuế
đối với các mặt hàng xuất khẩu. Nhà nước cũng thực hiện cho vay ưu đãi
đối với một số doanh nghiệp dệt may để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
dệt may nâng cao khả năng cạnh tranh. Mặc dù có nhiều lợi thế song do hạn
chế về kỹ thuật, thông tin thị trường, tay nghề nên cho đến nay các daonh
nghiệp dệt may Việt Nam vẫn chưa có chỗ đứng ổn định trên thị trường. Về
cơ bản, hàng dệt may xuất khẩu của ta mới chỉ có khả năng đáp ứng những
nhu cầu tiêu dùng bình thường nên giá trị xuất khẩu chưa cao.
Thị trường EU được đánh giá là có nhiều lợi thế nhất trong số các thị
trường hạn ngạch. Mặc dù Việt Nam đã thu được một số kết quả bước đầu
khi thâm nhập vào thị trường này, do được hưởng một số ưu đãi như: số
lượng hạn ngạch ngày càng tăng, mức chuyển đổi giữa các mặt hàng lớn,
được phép sử dụng hạn ngạch dư thừa của các nước Asean nhưng thực ra
Khoa: Quản trị kinh doanh
23
những ưu đãi đó chưa làm tăng nhiều khả năng cạnh tranh của Việt Nam so
với các nước khác ở thị trường EU. Cụ thể là:
- Số lượng hạn ngạch Việt Nam được hưởng còn rất thấp so với nhiều
nước: chỉ bằng 5% của Trung Quốc va 10-20% của các nước Asean.
- Số mặt hàng bị hạn chế bằng hạn ngạch lớn hơn so với các nước khác:
của Việt Nam là 29 nhóm, trong khi đó của Thái Lan là 20 nhóm, của
Singapore là 8 nhóm.
Ngoài ra, khả năng kém cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam còn
được thể hiện ở những kía cạnh sau:

xuất của các doanh nghiệp đã dành ch hàng dệt may đi Mỹ.
Ước tính đến hết tháng 11/2002, kim ngạch xuất khẩu dệt may của cả
nước sang tất cả các thị trường đạt khoảng 2.459 triệu USD, tăng 35% so
với cùng kỳ năm 2001 và vược 2,4% kế hoạch năm 2002 (2,4 tỷ USD).
Trong đó kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU đạt 490 triệu USD, chiếm
20% tổng kim ngạch xuất khẩu (giảm 7,5% so với cùng kỳ).
2. Những khó khăn còn tồn tại.
Sự phát triển khập khiễng giữa ngành dệt và ngành may kìm hãm sự phát
triển của ngành may nói riêng và dệt may nói chung. Hàng năm, để đảm bảo
hoạt động xuất khẩu, ngành may phải nhập khẩu khoảng 80% nguyên phụ
liệu mà chủ yếu là vải vóc. Nguyên nhân do máy móc thiết bị của ngành dệt
nước ta đã cũ kỹ, lạc hậu mà tiềm lực trong nước chưa có điều kiện để hiện
đại hoá một cách đồng bộ. Hơn nữa, nếu dùng các nguyên liệu do ngành dệt
trong nước cung cấp sẽ không đáp ứng được những yêu cầu về thông số kỹ
thuật của bên đặt hàng xuất khẩu. Chưa có mối quan hệ kinh tế ổn định giữa
Khoa: Quản trị kinh doanh
25

Trích đoạn Nguyên nhân Những thách thức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status