Lý thuyết chọn mẫu và ứng dụng chọn mẫu trong kiểm toán - Pdf 96

LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế của Việt Nam đang ngày càng phát triển với tốc độ chóng
mặt. Nguồn đầu tư từ trong và ngoài nước ngày càng lớn, dẫn theo sự xuất
hiện của một số lượng lớn các doanh nghiệp mới hoạt động trong mọi lĩnh
vực. Đặc biệt, trong những năm gần đây điểm nổi bật nhất của nền kinh tế
Việt Nam chính là sự xuất hiện và nhanh chóng phát triển của thị trường
chứng khoán. Tham gia thị trường chứng khoán cũng là một cách khá hiệu
quả để thu hút vốn đầu tư nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Về phía các nhà đầu tư, họ có vốn trong tay và dĩ
nhiên họ luôn muốn những đồng tiền họ bỏ ra đầu tư sẽ thu được số lợi
nhuận tối đa. Bởi vậy họ luôn tìm hiểu thật kỹ về tình hình tài chính, tình
hình hoạt động, kinh doanh và khả năng sinh lời trong tương lai của doanh
nghiệp để từ đó có thể đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn. Chính vì
lý do đó mà tất cả các công ty đều bắt buộc phải được kiểm toán hàng năm.
Nhưng chúng ta cũng biết được rằng số lượng tài liệu cần được kiểm
toán trong mỗi công ty không phải là nhỏ, vậy làm sao để kiểm toán viên
vừa có thể kiểm toán được các tài liệu nhưng cũng đảm bảo được thời hạn
kiểm toán đã đặt ra. Cũng vì lý do đó mà các kiểm toán viên đã phải áp
dụng phương pháp chọn mẫu trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm
toán. Phương pháp này sẽ giúp các kiểm toán viên tiết kiệm thời gian
nhưng vẫn đàm bảo thu thập được những bằng chứng kiểm toán cần thiết.
Nhằm mục đích hiểu rõ hơn về các phương pháp chọn mẫu trong kiểm
toán mà cụ thể hơn là trong thử nghiệm kiểm soát, em đã lựa chọn nghiên
cứu đề tài: "Lý thuyết chọn mẫu và ứng dụng chọn mẫu trong kiểm toán".
Đề tài của em được chia ra làm 3 phần chính:
• Phần 1 : Cơ sở lý luận của lý thuyết điều tra chọn mẫu
• Phần 2 : Ứng dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán
• Phần 3 : Những hạn chế còn tồn tại và những kiến nghị nhằm khắc
phục những ảnh hưởng tiêu cực của chọn mẫu đối với kiểm toán
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LÝ THUYẾT

trong mẫu được gọi là quy mô mẫu.
• Dàn mẫu: Để sử dụng phương pháp điều tra mẫu trong thu thập số
liệu thống kê, cần phải có một bảng liệt kê tất cả các đơn vị của
tổng thể điều tra, bảng liệt kê này gọi là dàn mẫu.
1.2. Đặc điểm của điều tra chọn mẫu
So với điều tra tổng thể, điểu tra chọn mẫu có những ưu điểm vượt trội
mà ta có thể liệt kê dưới đây:
• Tính kịp thời cao
Điều tra chọn mẫu thường nhanh hơn rất nhiều so với điều tra toàn bộ
bởi điều tra ít đơn vị hơn nên công việc chuẩn bị sẽ gọn hơn, số lượng tài
liệu ghi chép sẽ giảm đi, do đó thời gian điều tra, thời gian tổng hợp, phân
tích sẽ được rút ngắn. Điều này làm cho điều tra chọn mẫu có tính kịp thời
cao, đáp ứng được yêu cầu sử dụng thông tin, kết quả nghiên cứu đó của
những người ra quyết định.
• Tiết kiệm chi phí
Do số đơn vị điều tra ít hơn nên số nhân viên cần sử dụng để thu thập,
tổng hợp, phân tích... sẽ ít đi, đồng thời những chi phí kèm theo cũng sẽ
giảm. Vì vậy, điều tra chọn mẫu tiết kiệm khá nhiều sức người, vật tư và
tiên của.
• Thông tin sâu hơn
Do số đơn vị được điều tra ít hơn so với điều tra tổng thể nên ta có thể
thu thập được nhiều nội dung thông tin phức tạp, mở rộng nội dung điều
tra, đi sâu vào để nghiên cứu nhiều mặt cụ thể của hiện tượng cần nghiên
cứu để từ đó có thể đưa ra những kết luận xác đáng và sâu sắc hơn.
• Độ chính xác cao
Khi quy mô điều tra quá lớn mà trình độ tổ chức nghiên cứu còn hạn
chế thì tổng điều tra sẽ dẫn đến nhiều sai sót trong quá trình thu thập thông
tin ban đầu, hạn chế độ chính xác của kết quả phân tích. Trong trường hợp
điều tra mẫu, khối lượng công việc giảm đáng kể, cho phép sử dụng những
người thu thập và xử lý thông tin có trình độ, thời gian dành cho một đơn vị

tài liệu.
1.3. Các loại sai số trong điều tra chọn mẫu
Trong điều tra thống kê thường xảy ra hai loại sai số:
• Sai số chọn mẫu: chỉ xảy ra trong điều tra chọn mẫu do chỉ dùng
số liệu điều tra của một bộ phận các đơn vị trong tổng thể để suy
rộng cho tổng thể. Sai số này phụ thuộc vào cỡ mẫu, độ đồng đều
của tổng thể và phương pháp chọn mẫu.
• Sai số phi chọn mẫu: xuất hiện cả trong điều tra chọn mẫu và điều
tra toàn bộ. Sai số phi chọn mẫu cũng phụ thuộc vào cỡ mẫu, khi
cỡ mẫu tăng lên thì sai số phi chọn mẫu cũng tăng. Sai số này xuất
hiện do những nguyên nhân sau:
 Số liệu thu thập được không đầy đủ hay không phù hợp với mục
tiêu điều tra.
 Bỏ qua một số đơn vị hay do xác định không chính xác số đơn
vị mẫu hay phương pháp đếm, đo lường sai
 Thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm
 Thiếu sự kiểm tra đối với quá trình thu thập số liệu ban đầu
 Sai số trong quá trình xử lý như mã hoá, phân loại
 Sai số trong quá trình in ấn các kết quả hay tổng hợp số liệu
1.4. Các phương pháp tổ chức chọn mẫu thường dùng
1.4.1. Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
Đây là phương pháp tổ chức chọn mẫu từ tổng thể chung một cách hết
sức ngẫu nhiên không qua một sự sắp xếp nào. Các nhà nghiên cứu phải lần
lượt chọn ra từng đơn vị bằng cách rút thăm, quay số hoặc theo bảng số
ngẫu nhiên. Mỗi đơn vị tổng thể chung có thể được chọn một lần (chọn
không hoàn lại) hoặc chọn nhiều lần (chọn hoàn lại).
Phương pháp chọn ngẫu nhiên đơn giản có thể cho kết quả tốt nếu
giữa các đơn vị của tổng thể chung không có gì khác biệt nhau nhiều, tức là
tổng thể chung khá đồng nhất. Nếu tổng thể chung có kết cấu phức tạp thì
sử dụng phương pháp này sẽ khó đảm bảo tính đại biểu, tức là những mẫu

trưng cho tổng thể, khi đó kết quả nghiên cứu trên mẫu khi được suy rộng
ra cho toàn bộ tổng thể sẽ không thể hiện được những đặc trưng, những đặc
điểm của tổng thể, dẫn đến sự sai lệch giữa thực tế và kết quả nghiên cứu.
Tuy nhiên đối với phương pháp chọn mẫu phân loại thì khi phân tổ ta đã
phân chia riêng rẽ được các loại hình khác nhau đó, vì vậy trong từng tổ
các đơn vị tương đối thuần nhất. Nếu chọn mẫu phân loại theo tỷ lệ thì ta
lại có được mẫu có kết cấu gần giống với kết cấu của tổng thể chung nên
tính đại biểu là cao hơn. Muốn cho tính đại biểu của mẫu cao hơn nữa,
người ta còn có thể rút mẫu tối ưu tức là số đơn vị mẫu chọn ra ở mỗi tổ
không những tỷ lệ với tỷ trọng của tổ đó chiếm trong tổng thế mà còn
tương ứng với độ biến thiên tiêu thức ở mỗi tổ.
1.4.4. Chọn mẫu cả khối (mẫu chùm)
Chọn mẫu cả khối là phương pháp tổ chức chọn mẫu trong đó số đơn
vị mẫu được rút ra để điều tra không phải là từng đơn vị lẻ tẻ mà là từng
khối (chùm) đơn vị. Như vậy, trước hết tổng thể chung phải được chia
thành các khối , sau đó chọn ngẫu nhiên một số khối để điều tra.
Phương pháp này có ưu điểm là tổ chức gọn nhẹ, giảm được chi phí.
Tuy nhiên vì số đơn vị được chọn chỉ tập trung vào một số khối nên có thể
dẫn đến sai số lớn nếu giữa các khối không có sự khác biệt nhiều.
Do đó, muốn phát huy những ưu điểm của phương pháp này thì ta nên
sử dụng nó trong trường hợp giữa các khối có sự tương đồng về bản chất
nhưng giữa các đơn vị của mỗi khối lại có sự khác biệt khá rõ ràng.
1.4.5. Chọn mẫu nhiều cấp
Trong trường hợp các đơn vị của tổng thể phân tán quá rộng và ta
không thu thập được đầy đủ thông tin về chúng thì các nhà nghiên cứu
thường sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều cấp. Khi chọn mẫu nhiều
cấp, ta có các loại đơn vị chọn mẫu ở mỗi cấp khác nhau thường được gọi
là đơn vị chọn mẫu cấp 1, cấp 2... Để chọn mẫu ở mỗi cấp, ta chỉ cần thu
thập những thông tin về các đơn vị ở cấp đó là đủ.
Việc chọn mẫu ở mỗi cấp có thể tiến hành theo phương pháp chọn

trong bất cứ nghiệp vụ phát sinh nào của hệ thống kiểm soát nội bộ của
doanh nghiệp. Khi đó, tập hợp những nghiệp vụ phát sinh sẽ hình thành
tổng thể được kiểm tra và các kiểm toán viên sẽ phải lựa chọn ra những
đơn vị mẫu mang tính đặc trưng của cả tổng thể đó để thu thập bằng chứng
nhằm giúp cho họ không đưa ra những kết luận sai về tổng thể.
Vì vậy, xét trên nhiều khía cạnh thì áp dụng kỹ thuật chọn mẫu tỏ ra
khá hiệu quả vì với số lượng thích hợp, với tính đại diện cao của mẫu chọn,
kiểm toán viên hoàn toàn có thể đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán
với chi phí thấp hơn nhiều so với kiểm tra toàn bộ. Do đó, kỹ thuật chọn
mẫu kiểm toán có vai trò ngày càng quan trọng và giành được nhiều sự
quan tâm đặc biệt của kiểm toán hiện đại.
2.1.2. Những khái niệm cơ bản về chọn mẫu kiểm toán
Về kỹ thuật chọn mẫu kiểm toán, ta có khá nhiều định nghĩa khác
nhau. Nhưng trước hết ta phải kể đến khái niệm về chọn mẫu kiểm toán
được nhắc đến trong giáo trình "Lý thuyết Kiểm toán" của trường Đại học
Kinh tế Quốc dân, theo đó thì "Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một
nhóm các khoản mục hoặc đơn vị (gọi là mẫu) từ một tập hợp các khoản
mục hoặc đơn vị lớn (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu để
suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể."
Cũng theo chuẩn mực kiểm toán số 530 về "Lấy mẫu kiểm toán và các
thủ tục lựa chọn khác" thì chọn mẫu kiểm toán được định nghĩa như sau: "
Lấy mẫu kiểm toán (gọi tắt là lấy mẫu): Là áp dụng các thủ tục kiểm toán
trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần từ của một số tài khoản hay một
loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần tử đều có cơ hội để được chọn. Lấy mẫu
sẽ giúp kiểm toán viên thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các
đặc trưng của các phần tử được chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết
luận về tổng thể. Lấy mẫu có thể tiến hành theo phương pháp thống kê và
phi thống kê."
Còn theo định nghĩa trong sách "Kiểm toán-Lý thuyết và Thực hành"
của Ths.Phan Trung Kiên thì: "Chọn mẫu kiểm toán chính là việc áp dụng

loại mẫu kiểm toán như sau:
 Mẫu thống kê: Là mẫu chọn được do áp dụng các phương pháp
toán học đặc biệt là phương pháp thống kê để tính toán và định
lượng các yếu tố rủi ro cũng như phạm vi cần thiết để hạn chế
rủi ro một cách hệ thống. Vì vậy, chọn mẫu thống kê cho phép
kiểm toán viên tính toán các khả năng rủi ro và xác định kích cỡ
mẫu phù hợp để hạn chế rủi ro ở mức cho phép.
Mẫu thống kê mang những đặc điểm cơ bản sau:
 Các phần tử trong mẫu được lựa chọn một cách ngẫu nhiên.
 Mẫu thống kê là kết quả của việc sử dụng lý thuyết xác suất
thống kê bao gồm cả đánh giá kết quả mẫu và định hướng
lượng rủi ro.
 Với những đặc điểm trên mà mẫu thống kê được sử dụng
trong trường hợp số lượng đơn vị trong tổng thể lớn và
thường được hỗ trợ bởi các phần mềm chọn mẫu có chứa các
phép toán thống kê.
 Mẫu phi thống kê: Là kết quả của quá trình chọn mẫu trong đó
hoàn toàn không sử dụng phương pháp toán học mà áp dụng xét
đoán của kiểm toán viên. Do đó, các kiểm toán viên không thể
định lượng được rủi ro của việc chọn mẫu mà việc đánh giá kết
quả hoàn toàn dựa trên phán đoán của kiểm toán viên.
2.1.4. Mẫu đại diện, rủi ro chọn mẫu và rủi ro không do chọn mẫu:
• Mẫu đại diện: Là mẫu mang những đặc trưng của tổng thể mà mẫu
được chọn ra.
Bất cứ khi nào kiểm toán viên chọn một mẫu từ tổng thể, mục tiêu
cũng là để có một mẫu đại diện. Nhưng có một vấn đề đặt ra là trên thực tế
các kiểm toán viên lại không thể biết mẫu có tính đại diện hay không, dù
sau đó tất cả quá trình khảo sát được hoàn tất. Tuy vậy, kiểm toán viên có
thể tăng khả năng đại diện của mẫu bằng cách thận trọng khi thiết kế, lựa
chọn và đánh giá nó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status