LUẬN VĂN: Lý thuyết chọn mẫu và ứng dụng chọn mẫu trong kiểm toán - Pdf 12

LUẬN VĂN:

Lý thuyết chọn mẫu và ứng dụng
chọn mẫu trong kiểm toán
LỜI MỞ ĐẦU

Nền kinh tế của Việt Nam đang ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt.
Nguồn đầu tư từ trong và ngoài nước ngày càng lớn, dẫn theo sự xuất hiện của một
số lượng lớn các doanh nghiệp mới hoạt động trong mọi lĩnh vực. Đặc biệt, trong
những năm gần đây điểm nổi bật nhất của nền kinh tế Việt Nam chính là sự xuất


Trong nghiên cứu kinh tế - xã hội, người ta thường phải dựa trên cơ sở của tài
liệu mẫu để nghiên cứu và đi đến kết luận. Tuy nhiên để kết quả có thể tin tưởng
được thì việc chọn mẫu phải được tiến hành một cách khoa học.
Không chỉ những người làm công tác nghiên cứu mà cả những người cần ra
quyết định trong kinh doanh, trong sản xuất cũng cần phải trang bị cho mình những
kiến thức cơ bản về lý thuyết chọn mẫu để đánh giá tính tin cậy và tính giá trị của
mẫu thông tin trước khi đưa ra quyết định cần thiết.
1.1. Những khái niệm cơ bản về lý thuyết điều tra chọn mẫu
 Điều tra chọn mẫu: là loại điều tra không toàn bộ, trong đó người ta chỉ
chọn ra một số đơn vị trong toàn bộ các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu để điều
tra thực tế. Các đơn vị này được chọn theo những quy tắc nhất định để đảm bảo tính
đại biểu. Kết quả điều tra thường dùng để đánh giá cho toàn bộ đối tượng nghiên
cứu.
Quy luật số lớn đã chỉ ra rằng: Nếu nghiên cứu một số tương đối lớn hiện
tượng thì những biểu hiện ngẫu nhiên, những đặc thù của hiện tượng đơn nhất sẽ bù
trừ và triệt tiêu cho nhau, tính quy luật sẽ được biểu hiện rõ. Lý thuyết xác suất
cũng đã chứng minh rằng: Sự sai khác giữa số trung bình của một số lớn các đại
lượng ngẫu nhiên với kỳ vọng toán của nó là một đại lượng nhỏ tùy ý. Đó là câu trả
lời cho câu hỏi vì sao chỉ cần điều tra một số đơn vị mà kết quả lại có thể suy ra cho
toàn bộ tổng thể.
 Tổng thể chung: là tập hợp tất cả các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu.
 Tổng thể mẫu: là bộ phận của tổng thể chung gồm những đơn vị được
chọn ra theo một số thủ tục nào đó để thu thập thông tin trong cuộc điều tra mẫu.
Các đơn vị được chọn ra trong quá trình lấy mẫu được gọi là các đơn vị mẫu. Số
lượng các đơn vị được chọn ra trong mẫu được gọi là quy mô mẫu.  Dàn mẫu: Để sử dụng phương pháp điều tra mẫu trong thu thập số liệu
thống kê, cần phải có một bảng liệt kê tất cả các đơn vị của tổng thể điều tra, bảng


người có kinh nghiệm, có trình độ nghiệp vụ cao, như thế thì tài liệu thu được trong
điều tra chọn mẫu sẽ có độ chính xác cao.
 Không đòi hỏi một tổ chức lớn
Điều tra chọn mẫu không đòi hỏi sự thực hiện của một tổ chức lớn như là điều
tra toàn bộ, một cơ quan nhỏ cũng có thể tiến hành điều tra chọn mẫu theo nhu cầu
của mình.
Chính vì những ưu điểm trên mà điều tra chọn mẫu được sử dụng rất nhiều
trong thực tế với những mục đích khác nhau:
 Điều tra chọn mẫu dùng để thay thế điều tra toàn bộ tùy thuộc vào từng
đối tượng nghiên cứu. Khi đối tượng nghiên cứu cho phép có thể điều tra toàn bộ
hoặc điều tra chọn mẫu thì các nhà nghiên cứu thường tiến hành điều tra chọn mẫu
để thu được kết quả nhanh, kịp thời và điều quan trọng là tiết kiệm được chi phí và
nguồn nhân lực. Tuy nhiên đối với những hiện tượng phức tạp, những hiện tượng
khi điều tra có liên quan đến việc phá hủy sản phẩm thì không thể sử dụng điều tra
toàn bộ được mà phải dùng đến điều tra chọn mẫu.
 Điều tra chọn mẫu có thể kết hợp với điều tra toàn bộ để mở rộng nội
dung điều tra và đánh giá kết quả điều tra tòan bộ (thường áp dụng trong tổng điều
tra dân số).
 Điều tra chọn mẫu thường được dùng để tổng hợp nhanh tài liệu điều
tra tòan bộ.
 Khi muốn so sánh các hiện tượng với nhau mà chưa có được những
thông tin cụ thể hoặc chỉ muốn kiểm định lại giả thuyết đã đặt ra người ta cũng sử
dụng điều tra chọn mẫu để thu thập tài liệu.
1.3. Các loại sai số trong điều tra chọn mẫu
Trong điều tra thống kê thường xảy ra hai loại sai số:
 Sai số chọn mẫu: chỉ xảy ra trong điều tra chọn mẫu do chỉ dùng số liệu
điều tra của một bộ phận các đơn vị trong tổng thể để suy rộng cho tổng thể. Sai số
này phụ thuộc vào cỡ mẫu, độ đồng đều của tổng thể và phương pháp chọn mẫu.
 Sai số phi chọn mẫu: xuất hiện cả trong điều tra chọn mẫu và điều tra toàn

Chọn mẫu máy móc khác với chọn mẫu ngẫu nhiên ở chỗ: mỗi đơn vị đều có
khả năng được chọn như nhau nhưng mỗi mẫu lại không có cơ hội được chọn như
nhau.
Chọn mẫu máy móc có ưu điểm là thủ tục tiến hành đơn giản nên rút ngắn
được thời gian và giảm bớt được chi phí. Hơn thế nữa, do số đơn vị mẫu được phân phối rải đều trong tổng thể chung nên tính đại biểu của mẫu cao, kết quả nghiên cứu
sẽ thể hiện được bản chất của tổng thể chung. Tuy nhiên phương pháp này cũng có
nhược điểm là có khả năng xuất hiện sai số hệ thống.
1.4.3. Chọn mẫu phân loại (phân tổ)
Để thực hiện chọn mẫu phân loại, trước hết cần phải phân chia tổng thể nghiên
cứu thành các tổ (các nhóm) có độ thuần nhất cao, sau đó chọn các đơn vị đại diện
cho từng tổ theo cách chọn ngẫu nhiên đơn giản hoặc máy móc. Số đơn vị được
chọn từ mỗi tổ có thể tương ứng với tỷ trọng của tổ đó trong tổng thể chung, gọi là
chọn phân loại theo tỷ lệ hoặc có thể không tương ứng với tỷ trọng đó.
Phương pháp chọn mẫu phân loại thường được dùng để điều tra các hiện tượng
kinh tế xã hội phức tạp bao gồm nhiều loại hình khác nhau. Đối với những hiện
tượng phức tạp này, các đặc điểm, bản chất của tổng thể được thể hiện ở những mức
độ, khía cạnh khác nhau, do đó nếu sử dụng những phương pháp chọn mẫu khác
(như chọn mẫu ngẫu nhiên, chọn mẫu hệ thống ) thì những đơn vị mẫu được chọn
có thể sẽ không mang tính đặc trưng cho tổng thể, khi đó kết quả nghiên cứu trên
mẫu khi được suy rộng ra cho toàn bộ tổng thể sẽ không thể hiện được những đặc
trưng, những đặc điểm của tổng thể, dẫn đến sự sai lệch giữa thực tế và kết quả
nghiên cứu. Tuy nhiên đối với phương pháp chọn mẫu phân loại thì khi phân tổ ta
đã phân chia riêng rẽ được các loại hình khác nhau đó, vì vậy trong từng tổ các đơn
vị tương đối thuần nhất. Nếu chọn mẫu phân loại theo tỷ lệ thì ta lại có được mẫu có
kết cấu gần giống với kết cấu của tổng thể chung nên tính đại biểu là cao hơn. Muốn
cho tính đại biểu của mẫu cao hơn nữa, người ta còn có thể rút mẫu tối ưu tức là số
đơn vị mẫu chọn ra ở mỗi tổ không những tỷ lệ với tỷ trọng của tổ đó chiếm trong

2.1.1. Vị trí của chọn mẫu kiểm toán trong kiểm toán
Kiểm toán tài chính nói riêng hay kiểm toán nói chung chính là quá trình các
kiểm toán viên thực hiện các công việc khác nhau để tìm kiếm bằng chứng kiểm
toán giúp cho họ đưa ra các ý kiến về đối tượng được kiểm toán. Trong kiểm toán
tài chính, kiểm toán viên phải thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp phục vụ cho
kết luận về tính trung thực và khách quan của những thông tin có trong báo cáo tài
chính của doanh nghiệp. Như vậy, nhiệm vụ của các kiểm toán viên là phải làm thế
nào để thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán một cách hiệu quả nhất. Tuy
nhiên, chúng ta cũng biết rằng mỗi cuộc kiểm toán đều bị giới hạn về thời gian, chi
phí , do đó mà việc thu thập bằng chứng kiểm toán của các kiểm toán viên cũng bị
ảnh hưởng. Số lượng tài liệu cần kiểm tra của các doanh nghiệp là rất lớn, nếu ta
tiến hành kiểm tra tòan bộ chúng thì chi phí cho việc kiểm tra này sẽ rất lớn, thời
gian của cuộc kiểm toán sẽ kéo dài. Hơn thế nữa, ngay cả khi các kiểm toán viên
kiểm tra toàn bộ các tài liệu cần kiểm tra ở doanh nghiệp thì họ cũng không thể
khẳng định chắc chắn rằng đã phát hiện ra tất cả các sai phạm đã xảy ra và nằm trên
các tài liệu đó. Vì vậy, các kiểm toán viên sẽ phải thực hiện chọn một mẫu mang
tính đại diện cho tổng thể toàn bộ các tài liệu đã được phân loại nhằm giảm thiểu rủi
ro trong quá trình suy rộng kết quả kiểm tra từ mẫu đã lựa chọn cho tổng thể.
Có thể nói, trong mọi cuộc kiểm toán, kỹ thuật chọn mẫu đều sử dụng như là
một trong những kỹ thuật cơ bản nhất. Khi đánh giá tính hiệu quả của các thủ tục
kiểm soát, vấn đề đối với cuộc kiểm toán là phải thu thập đủ bằng chứng tin cậy về
khả năng ngăn chặn và phát hiện những sai phạm trong bất cứ nghiệp vụ phát sinh
nào của hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Khi đó, tập hợp những nghiệp
vụ phát sinh sẽ hình thành tổng thể được kiểm tra và các kiểm toán viên sẽ phải lựa
chọn ra những đơn vị mẫu mang tính đặc trưng của cả tổng thể đó để thu thập bằng
chứng nhằm giúp cho họ không đưa ra những kết luận sai về tổng thể. Vì vậy, xét trên nhiều khía cạnh thì áp dụng kỹ thuật chọn mẫu tỏ ra khá hiệu
quả vì với số lượng thích hợp, với tính đại diện cao của mẫu chọn, kiểm toán viên

kiểm toán viên có thể đưa ra kết luận về các số dư hay các nghiệp vụ cấu thành tổng
thể."
Tuy mỗi định nghĩa được phát biểu có phần khác nhau nhưng xét về bản chất
thì chúng đều nói lên rằng chọn mẫu kiểm toán là một kỹ thuật lấy ra một số các
đơn vị mẫu từ tổng thể để áp dụng các thủ tục kiểm toán nhằm dự đoán những đặc
trưng của toàn bộ tổng thể.
2.1.3. Những khái niệm có liên quan đến chọn mẫu kiểm toán
Để đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu và hiểu rõ hơn về chọn mẫu kiểm toán,
trước hết ta cần nắm được một số thuật ngữ sau:
 Tổng thể: Là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên lấy mẫu để có thể đi
đến một kết luận.
Ví dụ: Tất cả các phần tử trong một số tài khoản hay một loại nghiệp vụ cấu
thành một tổng thể. Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổng
thể con và mỗi nhóm được kiểm tra riêng. Trong trường hợp này, thuật ngữ “tổng
thể” bao hàm cả thuật ngữ “nhóm”.
 Đơn vị tổng thể: Là mỗi phần tử trong tổng thể đó.
 Đơn vị mẫu: Là một phần tử được các kiểm toán viên chọn ra khi tiến hành
kỹ thuật chọn mẫu.
 Mẫu: Là tất cả các đơn vị mẫu được chọn. Mẫu được chọn ra từ tổng thể,
áp dụng các thủ tục kiểm toán để đánh giá trên mẫu rồi suy rộng và kết luận cho
toàn bộ tổng thể là mẫu kiểm toán. Có 2 loại mẫu kiểm toán như sau:
 Mẫu thống kê: Là mẫu chọn được do áp dụng các phương pháp toán
học đặc biệt là phương pháp thống kê để tính toán và định lượng các yếu tố rủi ro
cũng như phạm vi cần thiết để hạn chế rủi ro một cách hệ thống. Vì vậy, chọn mẫu
thống kê cho phép kiểm toán viên tính toán các khả năng rủi ro và xác định kích cỡ
mẫu phù hợp để hạn chế rủi ro ở mức cho phép.
Mẫu thống kê mang những đặc điểm cơ bản sau:
 Các phần tử trong mẫu được lựa chọn một cách ngẫu nhiên.
 Mẫu thống kê là kết quả của việc sử dụng lý thuyết xác suất thống
kê bao gồm cả đánh giá kết quả mẫu và định hướng lượng rủi ro.

phiếu xuất kho bị thiếu lệnh xuất. Như vậy. sai lệch giữa tỷ lệ thực tế (15%) với tỷ
lệ theo kiểm tra chọn mẫu (10%) chính là sai số chọn mẫu (5%). Rủi ro chọn mẫu sẽ được giảm đi nếu ta tăng kích cỡ của mẫu chọn. Ta cứ tăng
dần kích cỡ mẫu chọn để kiểm tra cho tới khi bằng toàn bộ tổng thể thì rủi ro chọn
mẫu khi đó sẽ bằng không. Nhưng nếu xét về khía cạnh kinh tế thì khi kích cỡ mẫu
tăng lên sẽ kéo theo chi phí cho cuộc kiểm toán cũng tăng lên. Do đó, muốn chọn
mẫu kiểm toán một cách hiệu quả thì các kiểm toán viên cần phải cân đối giữa rủi
ro chọn mẫu với chi phí do chọn mẫu có kích cỡ lớn.
 Rủi ro không do chọn mẫu
Bên cạnh rủi ro chọn mẫu, các kiểm toán viên cũng có thể đưa ra những kết
luận sai lầm không phải do lỗi chọn mẫu mà do các yếu tố không liên quan trực tiếp
đến việc chọn mẫu. Rủi ro này được gọi là rủi ro không do chọn mẫu. Rủi ro không
do chọn mẫu xảy ra khi các khảo sát kiểm toán không phát hiện ra các ngoại lệ có
tồn tại trong mẫu; kiểm toán viên có thể sử dụng thủ tục kiểm toán không phù hợp
với mục tiêu kiểm toán hoặc sử dụng đúng thủ tục nhưng không phát hiện ra sai
phạm trong mẫu đã chọn do thiếu thận trọng.
Có 3 trường hợp chủ yếu dẫn đến rủi ro không do chọn mẫu:
 Đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng
Kiểm toán viên có thể đã có những đánh giá sai lầm về rủi ro tiềm tàng trong
đối tượng kiểm toán. Có thể kiểm toán viên vì mệt mỏi, chán nản hoặc thiếu hiểu
biết về cái phải tìm nên đã cho rằng có ít sai phạm trọng yếu tồn tại trong đối tượng
kiểm toán hay không thể nhận biết được các ngoại lệ nên họ có xu hướng giảm quy
mô công việc cần thực hiện nên không phát hiện được cái sai.
 Đánh giá không dúng về rủi ro kiểm toán
Kiểm toán viên có thể quá lạc quan tin tưởng vào hiệu quả hoạt động của hệ
thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp trong việc ngăn chặn, phát hiện và sửa
chữa kịp thời các sai phạm nên họ có thể đã giảm khối lượng công việc cần thiết
nên khó lòng phát hiện hết các sai phạm.

Khi sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu, có thể có những phần tử xuất
hiện nhiều hơn một lần. Nếu kiểm toán vien không chấp nhận lần xuất hiện thứ 2
trở đi thì cách chọn đó được gọi là chọn mẫu không lặp lại (chọn mẫu không thay
thế). Ngược lại, chọn mẫu lặp lại (hay chọn mẫu thay thế) là cách chọn mà một số
phần tử trong tổng thể có thể được chọn vào mẫu nhiều hơn một lần. Trong phần
lớn các trường hợp thì kiểm toán viên thường loại bỏ những phần tử trùng lặp, tức
là thường sử dụng chọn mẫu không thay thế bởi độ tin cậy của mẫu chọn trong chọn mẫu thay thế không cao do số lượng phàn tử mẫu thực tế khảo sát giảm đi nên chọn
mẫu thay thế ít được sử dụng hơn. Có 4 bước được dùng khi sử dụng bảng này:
 Xây dựng một hệ thống đánh số cho tổng thể
Trước khi một tập hợp các số ngẫu nhiên có thể được chọn từ bảng, mỗi phần
tử trong tổng thể phải được nhận diện qua một con số riêng. Điều này thường không
phải là một vấn đề vì rất nhiều tổng thể mà kiểm toán viên muốn một mẫu ngẫu
nhiên gồm các chứng từ được đánh số trước. Khi tài liệu đánh số trước không được
sử dụng thì phải triển khai một số hệ thống đánh số. Rất hiếm trường hợp cần đánh
số lại toàn bộ tổng thể nhưng thường chỉ cần xây dựng một cách làm đơn giản là đã
thỏa mãn mục tiêu này.
Ví dụ: Quá trình chọn mẫu ngẫu nhiên gồm các khoản phải thu của quá trình
xác nhận từ một bảng cân đối thử gồm 45 trang và mỗi trang chỉ lấy 70 dòng. Mỗi
phần tử là một dòng trên bảng liệt kê với số dư còn hiệu lực. Sự kết hợp của số của
trang và các số dòng cung cấp một số nhận diện duy nhất cho từng phần tử trong
tổng thể đó.
 Xây dựng quan hệ giữa bảng số ngẫu nhiên với tổng thể
Một khi hệ thống đánh số đã được xây dựng cho tổng thể, mối quan hệ được
thành lập bằng việc quyết định số các chữ số phải sử dụng trong bảng số ngẫu nhiên
và sự liên kết của chúng với hệ thống đánh số tổng thể.Có 3 trường hợp có thể xảy
ra:
Trường hợp 1: Các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5

quá trình lựa chọn mẫu thì người nhân viên đó hoàn toàn có khả năng để xác định
được những phần tử mà kiểm toán viên sẽ khảo sát. Chọn một điểm bắt đầu chỉ
bằng cách dùng bút chì chấm đại một điểm lên bảng cũng được chấp nhận. Số mà
được đánh dấu chính là phần tử đầu tiên được đưa vào mẫu và là chỗ mà từ đó
hướng làm được bắt đầu.
2.2.1.2. Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính
Ngày nay hầu hết các công ty kiểm toán đều thuê mướn hoặc có sự giúp đỡ
của các thiết bị máy tính được lập trình sẵn các chương trình để chọn lựa các số
ngẫu nhiên. Ưu điểm của phương pháp này so với phương pháp chọn mẫu dựa trên
các bảng số ngẫu nhiên là ở chỗ nó tiết kiệm thời gian hơn, làm giảm khả năng sai
sót của kiểm toán viên khi lựa chọn các con số và tài liệu chứng minh tự động.
Khi sử dụng máy tính, mỗi phần tử của tổng thể cần phải có một số hiệu riêng
và mối quan hệ phải được xây dựng giữa các con số của tổng thể với các con số ngẫu nhiên được tạo thành từ máy. Không nhất thiết phải quan tâm đến các số loại
khi xây dựng mối quan hệ này vì máy tính có thể loại trừ các loại số loại.
Đối với một chương trình máy tính điển hình, các kiểm toán viên cần phải đưa
vào máy các con số lớn nhất và nhỏ nhất trong chuỗi tổng thể., số lượng các con số
ngẫu nhiên mong muốn và trong một số trường hợp cần đưa vào một con số ngẫu
nhiên để bắt đầu chương trình. Ngoài ra, kiểm toán viên cũng có quyền lựa chọn
hay lấy danh sách các con số ngẫu nhiên trong một lệnh lựa chọn,hay trong một
chuỗi các con số tăng dần hoặc cả hai. Khi đó đầu ra của chương trình chọn mẫu
qua máy tính là các bảng kê số ngẫu nhiên. Phương pháp này cũng rất hữu ích bởi
nó có thể loại bỏ các số không thích hợp, tự động loại bỏ những phần tử bị trùng lặp
và tự động phản ánh kết quả vào giấy tờ làm việc.
2.2.1.3. Chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống
Chọn mẫu hệ thống là cách chọn để sao cho chọn được các phần tử trong tổng
thể có khoảng cách đều nhau (khoảng cách mẫu). Trong quá trình chọn mẫu có hệ
thống, kiểm toán viên tính một khoảng cách rồi sau đó chọn lựa tuần tự các phần tử

nhiều cuốn sách về kiểm toán đã cho rằng việc sử dụng cách chọn mẫu có hệ thống
là không hợp lý trừ phi hai phương pháp trên không thực hiện được.
Để hạn chế nhược điểm trên, các kiểm toán viên đã sắp xếp tổng thể theo một
thứ tự ngẫu nhiên để tăng tính đại diện cho mẫu và đồng thời cũng dùng nhiều điểm
xuất phát hơn. Kinh nghiệm của các kiểm toán viên đã chỉ ra rằng khi ứng dụng
phương pháp chọn mẫu hệ thống thì cần phải sử dụng ít nhất 5 điểm xuất phát. Khi
sử dụng nhiều điểm xuất phát thì khoảng cách mẫu phải được điều chỉnh bằng cách
lấy khoảng cách mẫu hiện tại nhân với số điểm xuất phát ngẫu nhiên cần thiết.
2.2.2. Chọn mẫu phi xác suất
Phương pháp chọn mẫu phi xác suất là phương pháp mà trong đó không sử
dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu hay đánh giá rủi ro lấy
mẫu.Với phương pháp này, các phần tử không có cơ hội như nhau để có mặt trong
mẫu và phương pháp này chỉ được áp dụng trong chọn mẫu phi thống kê và không
dùng được trong chọn mẫu thống kê. Kinh nghiệm thực tế của nhiều kiểm toán viên
cho thấy không phải trong bất kỳ trường hợp nào thì sai sót trọng yếu cũng phân tán
đều trong tổng thể mà có thể lại tập trung thành nhiều khối thì lúc đó việc áp dụng
chọn mẫu xác suất sẽ không phát huy được tác dụng. Vì vậy, bằng khả năng nghề nghiệp và óc xét đoán của mình trong những trường hợp cụ thể, kiểm toán viên sẽ
áp dụng chọn mẫu phi thống kê có thể mang lại hiệu quả hơn.
Ba kỹ thuật chọn mẫu không xác suất phổ biến là Phương pháp chọn mẫu
theo lô, Chọn mẫu bất kỳ và Chọn mẫu xét đoán.
2.2.2.1. Chọn mẫu theo lô
Chọn mẫu theo lô là việc chọn một tập hợp các đơn vị kế tiếp nhau trong một
tổng thể. Một khi phần tử đầu tiên của lô đã được chọn thì phần còn lại của lô sẽ tự
động được chọn.
Ví dụ: Chọn một chuỗi liên tiếp gồm 100 nghiệp vụ tiêu thụ từ sổ nhật ký của
tuần lễ thứ nhất của tháng 11.
Việc chọn mẫu theo lô đối với các cuộc khảo sát nghiệp vụ chỉ được chấp nhận

thường thì rất nhiều kiểm toán viên tin rằng nên sử dụng óc phán xét nghề nghiệp
khi chọn lựa các phần tử của mẫu trong các cuộc khảo sát nghiệp vụ. Để cải thiện
khả năng tính đại diện của phương pháp chọn mẫu xét đoán cảu cuộc khảo sát
nghiệp vụ, kiểm toán viên phải luôn ghi nhớ những điều sau đây:
 Khi chọn phần tử để kiểm tra thì mỗi loại nghiệp vụ chủ yếu trong chu kỳ
phải được chọn.
 Khi có nhiều người khác nhau có trách nhiệm xử lý các nghiệp vụ trong kỳ
kế toán thì phải khảo sát nghiệp vụ người thực hiện bởi nếu có một sự thay đổi về
nhân sự trong năm hay các nghiệp vụ ở các vị trí khác nhau lại được quản lý khác
nhau thì khả năng mẫu không có tính đại diện là rất cao.
 Khi kiểm toán viên khảo sát các sai số trong số tiền thì các phần tử của
tổng thể có số dư lớn sẽ được khảo sát kỹ hơn những phần tử có số dư nhỏ. Trong
các cuộc khảo sát kiểm soát, kiểm toán viên quan tâm đến tính đầy đủ của các quá
trình kiểm soát nhưng đối với những cuộc khảo sát chính thức thì trọng tâm lại là
khảo sát các số dư bằng tiền lớn hơn vì chúng thường có khả năng chứa chấp sai số
trọng yếu nhiều hơn.
2.2.3. Kỹ thuật phân tầng (phân tổ) trong chọn mẫu kiểm toán
Trong một tổng thể lớn luôn bao gồm rất nhiều các phần tử có sự khác biệt về
đặc điểm này và đặc điểm khác. Tổng thể càng lớn, số lượng phần tử càng nhiều thì
sự khác biệt giữa các phần tử càng lớn. Do đó, kiểm toán viên phải sử dụng kỹ thuật
phân tầng để giảm bớt sự khác biệt nhằm giúp cho quá trình chọn mẫu được chính
xác hơn, tức là kiểm toán viên sẽ phân tổng thể thành các tầng trước khi xác định
quy mô mẫu cũng như thực hiện chọn mẫu. Phân tầng (phân tổ) là kỹ thuật phân chia một tổng thể thành nhiều nhóm nhỏ
hơn (gọi là tầng hay tổ) mà các đơn vị trong cùng một nhóm có những đặc tính khá
tương đồng nhau. Vì vậy, các tổng thể con có tính ổn định và đồng nhất hơn so với
tổng thể lớn và khi áp dụng chọn mẫu kiểm toán có thể áp dụng trên các tổng thể
con đó để giảm bớt kích cỡ mẫu đồng thời giảm rủi ro chọn mẫu xuống mức có thể

Mục tiêu của thử nghiệm kiểm soát là nhằm thu thập các bằng chứng về sự
thiết kế và hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Chẳng hạn, trong
cuộc khảo sát chu kỳ bán hàng và thu tiền thì mục tiêu chung thường là khảo sát
tính hiệu quả của các quá trình kiểm soát nội bộ của doanh số hoặc các khoản thu
tiền mặt. Kiểm toán viên thực hiện các thử nghiệm kiểm soát để khẳng định mức rủi
ro kiểm soát đã được họ đánh giá trong khâu lập kế hoạch. Vì vậy, mục tiêu của lấy
mẫu thuộc tính khi áp dụng cho kiểm tra hệ thống kiểm soát là để đánh giá tính hiệu
quả của hệ thống kiểm soát nội bộ được quy định, đây là cơ sở mà kiểm toán viên
có thể dựa vào để giảm rủi ro kiểm soát xuống dưới mức tối đa nên kiểm toán viên
vẫn luôn cố gắng đánh giá tỷ lệ sai lệch tồn tại cho mỗi hoạt động kiểm soát được
lựa chọn cho kiểm tra. Như vây, việc chọn mẫu thuộc tính để kiểm tra sẽ cung cấp
cho kiểm toán viên những bằng chứng rằng một hoạt động kiểm soát cụ thể đang
hoạt động hữu hiệu và thích đáng nhằm khẳng định mức rủi ro kiểm soát đã được
đánh giá sơ bộ trong khâu lập kế hoạch. Lẫy mẫu kiểm tóan cho kiểm tra hệ thống
kiểm soát thường được sử dụng trong những trường hợp hoạt động kiểm soát không
có các bằng chứng tài liệu.
 Xác định các thuộc tính và điều kiện sai lệch
Đối với việc kiểm tra hệ thống kiểm soát, một sự sai lệch xảy ra xuất phát từ
quá trình thực hiện hoạt động kiểm soát nội bộ đã được quy định trước. Điều này rất
quan trọng đối với kiểm toán viên để xác định cái gì sẽ được xem xét là sai lệch.
Khi đó, kiểm toán viên phải định nghĩa một cách tỉ mỉ các đặc điểm (hay các thuộc
tính) đang được khảo sát và các tình trạng lệch lạc bất cứ khi nào quá trình chọn
mẫu thuộc tính được sử dụng. Trừ phi có một bảng kê chính xác về điều cấu thành
thuộc tính đã lập từ trước, đội ngũ nhân viên thực thi thể thức kiểm toán sẽ không
có một hướng dẫn nào để nhận diện các lệch lạc.
Ví dụ: Những thuộc tính và những lệch lạc tương ứng trên thực tế
Thuộc tính Tình trạng lệch lạc
1. Bản sao hóa đơn bán hàng được Không có những chữ ký tắt chỉ rõ
được ghi sổ mà họ sẽ chọn một tổng thể phù hợp hơn như tập hồ sơ lưu các hóa đơn
mua hàng.
 Xác định đơn vị mẫu
Những cá thể trong tổng thể gọi là đơn vị mẫu. Một đơn vị mẫu có thể là một
văn bản, một nghiệp vụ hay thậm chí là có thể là một khoản mục trên một dòng.
Mỗi đơn vị mẫu tạo nên một phần tử của tổng thể ấy. Đơn vị mẫu này thường được
xác định trong quan hệ với hoạt động kiểm soát đang được kiểm tra. Quá trình xem
xét chính khi xác định đơn vị chọn mẫu là làm cho nó phù hợp với các mục tiêu của các cuộc khảo sát kiểm toán. Như vậy, việc xác định tổng thể và các thể thức kiểm
toán kế hoạch thường quyết định đơn vị chọn mẫu thích hợp.
Ví dụ: Nếu kiểm toán viên muốn xác định mức độ thường xuyên mà doanh
nghiệp không đáp ứng đơn đặt hàng của khách thì đơn vị chọn mẫu phải được khái
niệm là đơn đặt hàng của khách hàng. Nhưng nếu mục tiêu là nhằm xác định liệu có
khối lượng hàng hóa được mô tả trên đơn đặt hàng của khách có đúng được đem
giao và tính tiền hay không thì đơn vị chọn mẫu có thể là đơn đặt hàng của khách,
chứng từ vận chuyển hoặc bản sao hóa đơn bán hàng.
 Xác định kích cỡ mẫu
Trong khi kiểm toán viên sử dụng phương pháp lấy mẫu thống kê, kiểm toán
viên phải xem xét đến 4 nhân tố ảnh hưởng để xác định kích cỡ mẫu phù hợp sau
đây:
Rủi ro chấp nhận trong đánh giá rủi ro kiểm soát là quá thấp
Đây là khả năng mà tỷ lệ sai lệch thực tế lớn hơn so với tỷ lệ sai lệch cho
phép. Các kiểm toán viên sẽ đánh giá mức rủi ro này dựa trên nhận định nghề
nghiệp, rủi ro này ảnh hưởng đến tính hiệu lực (hay hiệu năng) của cuộc kiểm toán.
Tỷ lệ sai lệch cho phép
Kiểm toán viên xác định tỷ lệ này dựa trên 2 yếu tố:
 Mức rủi ro kiểm soát đã đánh giá theo kế hoạch: Khi yếu tố này càng
thấp thì tỷ lệ sai lệch cho phép càng thấp.

 Thực hiện các thủ tục kiểm toán
Sau khi những khoản mục trong mẫu được lựa chọn, kiểm toán viên thực hiện
các thủ tục kiểm toán đã được xây dựng. Các thủ tục kiểm toán được thực hiện
giống nhau theo cùng cách thức khi chọn mẫu thống kê và chọn mẫu không thống
kê. Kiểm toán viên kiểm tra từng phần tử trong mẫu để xác định xem liệu nó có phù
hợp với định nghĩa của thuộc tính hay không và duy trì sự ghi chép về tất cả các
lệch lạc tìm được.
Khi các thủ tục kiểm soát đã được hoàn tất cho một ứng dụng chọn mãu thuộc
tính thì sẽ có một dung lượng mẫu và số lượng các lệch lạc của từng thuộc tính.
Trong quá trình thực hiện các thủ tục kiểm toán để kiểm tra hệ thống kiểm
soát, kiểm toán viên có thể gặp phải những tình huống sau:
 Kiểm toán viên có thể lựa chọn những tài liệu không có giá trị nào trong
mẫu chọn.

Trích đoạn Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status