Một số biện pháp hạn chế thất thu thuế GTGT đối với các hộ kinh tế cá thể - Pdf 96

Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Lời nói đầu
Thuê là một hinh thức động viên Tài chính đã đươc ra đời cùng với sự
ra đời của bộ máy Nhà nước, thuế và các chính sách về thuế gắn liền với
chính sách kinh tế - xã hội của một quốc gia Khi nền kinh tế phát triển tất yếu
sẽ làm tăng thêm áp lực chi tiêu của chính phủ cho sự tiến bộ của xã hội.
Đểđáp ứng cho nhu cầu chi tiêu đó Nhà nước tìm cách khai thác tất cả mọi
nguồn thu, xong trong tất cả các hình thức động viên, khai thác thì nguồn thu
từ thuế vẫn là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong Ngân sách Nhà
nước.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt nam trong Đại hộĐảng
toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định nền kinh tế nước Việt Nam trong thời
kỳ quáđộđi lên chủ nghĩa xã hội bao gồm các thành phần kinh tế: kinh tế tập
thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản …
Trong thời kỳ hiện nay, thành phần kinh tế cá thểđã vàđang cùng các
thành phần kinh tế khác trong xã hội phát huy vai trò của mình, một mặt vừa
đóng góp một phần của cải không nhỏ trong tổng thu nhập kinh tế quốc dân,
đồng thời cũng góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc trong xã hội như: Vấn
đề về vốn, về giá trị sản phẩm hàng hoá thực hiện, về công ăn việc làm cho
người lao động…
Vấn đề quản lý thuế lại càng gặp nhiều khó khăn hơn khi nước Việt
nam mới thực hiện luật thuế GTGT thay thế cho luật thuế Doanh thu trước
đây. Với quan điểm áp dụng các luật thuế mới trong chương trình cải cách
chính sách kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế nước nhà hội nhập với nền
kinh tế khu vực và thế giới, đồng thời phải đảm bảo ổn định số thu ngân sách
trong những năm đầu thực hiện luật quản lý thuế, tăng số thu cho ngân sách ở
những năm tiếp theo, góp phần ổn định và phát triển nền kinh tếđất nước.
Với ý nghĩa đó, qua thời gian thực tập tại Chi cục thuế huyện sơn
dương , em được giúp đỡ tận tình của cán bộ trong cơ quan và chỉ bảo của
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
thầy cô trong bộ môn tài chính doanh nghiệp, kết hợp với kiến thức đã học

dụng phổ biến ở tất cả các ngành. Từ nước Pháp, thuế GTGT ngày càng được
áp dụng rộng rãi trên thế giới. Đến nay đã có hơn 100 nước áp dụng chủ yếu
là các nước ở khu vực châu Âu, châu Mỹ La Tinh, châu Phi.
Gần đây, thuế GTGT được nghiên cứu vàáp dụng phổ biến ở khu vực
Châu á như Triều Tiên (1970), Đài Loan (1986), Nhật Bản (1988).
ở Việt Nam, thuế GTGT được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách
thuế bước I (1990) rồi được áp dụng thử nghiệm năm 1993 ở 11 đơn vị
(Đường, dệt, xi măng...). Thuế GTGT được ban hành thành luật vàđược
thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá 9 ngày 10 tháng 05 năm 1997,
chính thức được áp dụng ngày 01 tháng 01 năm 1999.
Thuế GTGT là sắc thuế tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá,
dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng.
1.1.1.2.Đặc điểm thuế GTGT
Thứ nhất, thuế GTGT là sắc thuế thuộc loại thuế gián thu, không trực
tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế màđánh một cách gián
tiếp thông qua giá cả hàng hoá và dịch vụ. Về cơ bản, người nộp thuế theo
luật và người trả thuế không đồng nhất với nhau.
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Thứ hai, thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn sản xuất kinh doanh
nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.
Thứ ba, thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Nó không chịu ảnh
hưởng trực tiếp bởi kết quả sản xuất kinh doanh của người nộp thuế. Thuế
GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm và không bịảnh hưởng bởi quá
trình phân đoạn sản xuất. Do đó, tổng số thuế thu được ở các giai đoạn sẽ
bằng với số thuế tính theo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
Thứ tư, thuế GTGT có khả năng đem lại số thu ổn định cho NSNN do
người tiêu dùng dù thu nhập có tăng lên nhưng hầu hết nhu cầu tiêu dùng
không tăng đáng kể. Thuế GTGT phụ thuộc vào mức tiêu dùng xã hội, phần
lớn các nước áp dụng thuế GTGT có số thu về thuế GTGT chiếm khoảng

gây khó khăn cho công tác quản lý. Hơn nữa, để thực hiện tốt công tác khấu
trừ và hoàn thuếđòi hỏi việc kiểm tra đối chiếu hoáđơn chứng từ của người
mua và người bán phải được tiến hành kỹ lưỡng. Điều này phụ thuộc nhiều
vào cơ sở vật chất của ngành thuế cũng như trình độ của cán bộ thuế. Đây là
một vấn đềđang gặp nhiều khó khăn chưa thể giải quyết một sớm, một
chiêuđược.
+ Thuế GTGT là loại thuế có tính luỹ thoái, do cóít mức thuế suất, nên
người tiêu dùng có thu nhập khác nhau đều phải nộp giống nhau, gây mất
công bằng xã hội.
Qua những ưu điểm và hạn chế cơ bản đã cho thấy những thuận lợi và
khó khăn trong công tác quản lý thuế GTGT. Trong đó, công tác quản lý thuế
GTGT tiến hành đối với hộ cá thể bao gồm quản lý hộ kê khai và quản lý hộ
khoán. Sau đây Em xinđi sâu vào nghiên cứu các nội dung cơ bản của luật
thuế GTGT áp dụng đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo kê khai để
thấy rõ hơn vấn đề này, từđóđưa ra các nhận xét cần thiết.
1.1.1.4. Những nội dung cơ bản của luật thuế GTGT.
 Người nộp thuế
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Theo quy định tại điều 2 - Luật thuế GTGT vàđiều 2 - Nghịđịnh số
158/2003/ NĐ - CP của Chính phủ, đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá,
dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ 29nhóm
mặt hàng không thuộc diện chịu thuế GTGT theo quy định.
 Người nộp thuế
Người nộp thuế GTGT là các cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân
biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh (gọi chung là Người nộp
thuế).
 Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế GTGT đối với Người nộp thuế là giá tính thuế và thuế
suất.

Giá tính thuế của
hàng hoá dịch vụ bán ra
x
Thuế suất thuế GTGT
của hàng hoáđó
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là số thuế GTGT ghi trên hoáđơn
GTGT của hàng hoá dịch vụ mua vào; ghi chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá
nhập khẩu dùng vào sản xuất kinh doanh hàng hoá chịu thuế GTGT hoặc
chứng từ nộp thuế GTGT thay cho bên nước ngoài và trên các hóa đơn,
chứng từđặc thù.
 Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
- Đối tượng áp dụng: phương pháp này áp dụng đối với các hộ chưa
thực hiện đầy đủ chếđộ hoáđơn, chứng từđể làm căn cứ tính thuế theo phương
pháp khấu trừ và hộ kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ
- Xác định thuế GTGT phải nộp
Số thuế GTGT
phải nộp
=
GTGT của hàng hoá
dịch vụ chịu thuế bán ra
x
Thuế suất thuế
GTGT
hàng hoá dịch vụđó
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ bán ra
=
Doanh số của hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế bán ra
-

Cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kinh tế cá
thểđược coi là bộ phận hỗ trợ hết sức quan trọng đối với nền kinh tế. Kinh tế
cá thể tồn tại là một tất yếu khác quan xuất phát từ yêu cầu của xã hội và
ngày càng khẳng định vai trò to lớn của nó:
- Kinh tế cá thểđã và sẽ tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội,
đáp ứng cho nhu cầu đời sống sinh hoạt của nhân dân, cung cấp các yếu
tốđầu vào của quá trình sản xuất, làm cầu nối giữa sản xuất và lưu thông tiêu
dùng, tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa tiền tệ trong nền kinh tế
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
nhanh chóng và có hiệu quả. Tham gia hỗ trợ những mặt mà kinh tế quốc
doanh và các thành phần kinh tế khác chưa giải quyết được.
- Kinh tế cá thểđã góp phần to lớn để tạo công ăn việc làm. Khu vực
quốc doanh ở nước Việt Nam tạo việc làm khoảng 11% trong tổng số lực
lượng lao động. Gần 90% lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh. Có
rất nhiều hình thức thu hút lao động ngoài quốc doanh: Donh nghiệp tư nhân,
cá nhân tự tạo việc làm, lao động làm thuế theo vụ việc, mua vụ ... song cho
tới nay phổ biến nhất vẫn là hộ kinh tế cá thể. Bởi vì, hiện nay ở nước Việt
Nam có khoảng 1,9 triệu hộ cá thể. Nếu cứ tính trung bình mỗi hộ sử dụng 2
lao động thì tổng cộng đã giải quyết được 3 triệu lao động mà còn có tác
động đến vấn đề an ninh xã hội và gánh nặng chi tiêu của Nhà nước, để giải
quyết vấn đề thất nghiệp và tệ nạn xã hội do không có việc làm tạo nên.
- Kinh tế cá thể ngày càng phát triển góp phần làm tăng tổng sản phẩm
xã hội vàđãđóng một phần thu nhập vào ngân sách Nhà nước đáp ứng cho
nhu cầu chi tiêu ngày càng lớn của Nhà nước.
Kinh tế cá thể nắm giữ một khối lượng vốn lớn trong nền kinh tế và có
khả năng huy động được nhiều vốn. Ước tính mỗi người dân Việt Nam có
khoảng gần 2 chỉ vàng tiết kiệm. Nếu như lượng vốn này được tham gia vào
SXKD thì hiệu quả kinh tế của xã hội tăng lên, thúc đẩy mở rộng sản xuất,
kích thích tiêu dùng. Từđó thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế
khác. Ngược lại, những thành phần kinh tế khác bị thiếu vốn để mở rộng

quát hết các nguồn thu, một số quy định chưa cụ thể, rõ ràng có thể hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau hoặc cách xác định thuế phức tạp và thuế suất cao là
nguyên nhân thúc đẩy đối tượng nộp thuế trốn thuế hoặc liên kết với nhau tạo
ra các hoạt động kinh tế giảđểđược giảm số thuế phải nộp hay được hưởng lợi
từ thuế.
- Thất thu thuế do trình độ quản lý của cơ quan thuế yếu và tổ chức bộ
máy chưa khoa học dẫn tới công việc kém. Đồng thời, còn do trình độ chuyên
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
môn của cán bộ thuế chưa cao dẫn đến việc vận dụng sai luật thuê hoặc
không thể phát hiện ra những mâu thuẫn.
- Thất thu do ý thức chấp hành luật thuế của người nộp thuế: trong nền
kinh tế thị trường, mục tiêu phấn đấu của các nhà kinh tế là lợi nhuận tối đa.
Do vậy, họ luôn tìm cách để tăng lợi nhuận và giảm tối thiểu chi phí trong
hoạt động SXKD của mình. Với việc cho rằng nộp thuế cho Nhà nước đã làm
giảm đi quyền lợi vật chất mà lẽ ra họđược hưởng. Cho nên vì lợi ích trước
mắt và riêng của mình họ luôn có tư tưởng và hành động không tuân thủ pháp
luật về thuế, tìm mọi cách để không phải nộp thuế hoặc nộp với mớc thấp
nhất so với nghĩa vụ phải nộp theo quy định trong các luật thuế.
ảnh hưởng của thất thu thuế
Qua tìm hiểu nguyên nhân thất thu thuế và các dạng thất thu thuế
chúng ta có thể thấy rằng thất thu thuế cóảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt tài
chính, kinh tế, xã hội của đất nước. Nghiên cứu ảnh hưởng của thất thu
thuếđối với những lĩnh vực trên sẽ cho thấy được sự cần thiết phải tăng
cường hạn chế thất thu thuế.
+ Về mặt tài chính và kinh tế:
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước và thường chiếm
tỷ trọng trung bình từ 85%- 90% trong cơ cấu nguồn thu của Ngân sách. Thất
thu thuế làm ảnh hưởng tới thu Ngân sách Nhà nước. Để phục vụ cho nhu cầu
phát triển kinh tế xã hội Ngân sách Nhà nước cần một lượng vốn rất lớn. Thất
thu thuế sẽ tạo gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước đồng thời tạo ra những

- Nhập và xử lý hồ sơđăng ký thuế.
In giấy chứng nhận đăng ký thuế, gửi giấy chứng nhận đăng ký thuế cho
hộ kinh doanh.
- Lập sổ danh bạ hộ kinh doanh.
Qua sự tìm hiểu phải phân tích những vấn đề thất thu thuế GTGT đối
với hộ kinh tế cá thể cho thấy: Thất thu thuế nói chung và thất thu thuế
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
GTGT đối với hộ kinh tế cá thể noi riêng cóảnh hưởng nghiêm trọng đến các
vấn đề kinh tế xã hội của đất nước. Chống thất thu thuế là một yêu cầu cần
thiết khách quan xuất phát từ thực trạng thất thu thuế hiện nay, từ yêu cầu
đảm bảo công bằng xá hội và số thu cho Nhà nước.
Thực hiện tốt công tác chống thất thu thuế sẽ phát huyđược vai trò, tác
dụng của thuế và chức năng quản lý nền kinh tế của Nhà nước, thực hiện
thắng lợi mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Chính vì
vậy từng cấp cơ sở quản lý thu thuế cũng cần có những biện pháp quản lý
riêng phù hợp với tình trạng thất thu thuếở khu vực đó, góp phần chống thất
thu thuế, ngăn chặn sự mất mát Ngân sách không đáng có trong mọi thành
phần kinh tế, trong đó chống thất thu thuế GTGT đối với thành phần kinh tế
cá thể là một nhiệm vụ rất quan trọng và khó khăn.
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Chương II
THỰCTRẠNGCÔNGTÁCHẠNCHẾTHẤTTHUTHUẾ GTGT
ĐỐIVỚI HỘKINHTẾCÁTHỂNỘPTHUẾTHEOPHƯƠNGPHÁPTRỰCTIẾP
TRÊNĐỊABÀNHUYỆN SƠN DƯƠNG.
2.1. Đặc Điểm kinh tế xã hội và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thu thuế
trên địa bàn huyện Sơn Dương.
2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội ở huyện Sơn Dương.
Sơn Dường là huyện nằm ở phía Đông nam của tỉnh Tuyên Quang, có dân
cưđông so với các huyện trong tỉnh. Địa giới hành chính huyện Sơn Dương
được chia thành 3 khu vực thượng huyện,trung huyện,hạ huyện gồm 33 xã 1

năm 2000 đến năm 2007sơn dương đãđầu tư xây dựng hạ tầng cho khu công
nghiệp sơn nam sơn dương tạo điều kiện cho các nhàđầu tư xây dựng các
dựán phục vụ phát triển kinh tế của huyện và tạo việc lam cho hàng trăm
công nhân chưa có việc lam ở khu công nghiệp sơn nam ngoài ra sơn dương
thực hiện theo nghị quyềt của tỉnh cũng như văn bản hướng dẫn của chính
phủ vềưu đãi đối với doanh nghiêp , công ty mớ thành lập . nhằm khuyến
khích đầu tư các dựán mới đặc biệt là trong điều kiện kinh tế hội nhập kinh tế
quốc tế
Một trong những đại biểu nổi bật của huyện sơn dương là khu trunh
tâm xã sơn nam có tốc độđô thị hoá nhanh , nhiều cơ sở kinh tế cá thể mới ra
đời và phát triển ở rạng tiềm năng .chưa khai thác được hoạc khai thác chưa
đáng kể . trong trương trình phát triển kinh tế từ 1997 – 2010 sơn dương đã
kêu gọi vốn đầu tư trong và ngoài huyện cũng như kêu gọi đầu tư trong và
ngoài tỉnh. Thuộc các ngành chế biến sản phẩm từ cây công nghiệp , khai
khoáng ,chế biến từ sản phẩm từ nông nghiệp ..
Trên địa bàn huyện sơn dương có nhiều cơ sở kinh tế, cơ quan của Nhà
nước . Trong những năm qua kinh tế ngoài quốc doanh phát triển nhanh,
chiếm tỷ trọng đáng kể trong phát triển kinh tế của huyện, là nơi giải quyết
việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống dân cư.
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Về cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội còn thấp, kinh tế phát triển chưa đồng
đều,trong tổng số 33 xã ,thị trấn thì trong đó cóđến 7 xãđặc biệt khó khăn
thuộc xã vùng 135. mặc dù sơn dương đã có tới 79 doanh nghiệp cả
trungương vàđịa phương đóng trên địa bàn, trong đó doanh nghiệp tư nhân
21, công ty cổ phần 08, công ty trách nhiệm hữu hạn, HTX, tập trung chủ yếu
ở thị trấn sơn dương ,khu công nghiệp long bình an , khu công nghiệp sơn
nam , xã hồng lạc phần lớn các đơn vị có trang thiết bị cũ , lạc hậu , công
nghệ chưa được tiên tiến do đó sản phẩm , mẫu mã , chất lượng chưa cao ,
chưa đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm do các doanh nghiệp trung ương sản
xuất hoạc hàng nhập khẩu

và thu
khỏc
éội
hành
chớnh,
nhõn
sự, tài
vụ, ấn
chỉ
éội
nghiệp
vụ -
Tuyờn
truyền
hỗ trợ
éội kờ
khai -
kế
toỏn
thuế
và tin
học
éội
thuế
liờn
xóéăn
g
Chõu
éội
thuế

nộp thuế và các tổ chức, các nhân được uỷ nhiệm thu thuế; xử lý và kiến
nghị xử lý đối với trường hợp vi phạm pháp luật thuế; giải quyết các khiếu
nại, tố cáo về thuế theo thẩm quyền;
- Kiểm tra việc chấp hành trách nhiệm công vụ của công chức thuế;
giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc chấp hành nhiệm vụ, công vụ
công chức thuế;
- Kiến nghị với cơ quan thuế cấp trên những vấn đề vướng mắc cần sửa
đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật thuế, các quy trình, quy định
của cơ quan thuế cấp trên Báo cáo Cụ thuế những vướng mắc phát sinh vượt
quá thẩm quyền giải quyết của Chi cục Thuế.
- Tổ chức công tác kế toán thuế, thống kê thuế; lập báo cáo kết quả thu
thuế và các báo cáo kết quả thu thuế và các báo cáo khác phục vụ cho công
tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan thuế cấp trên, Uỷ ban nhân dân đồng cấp
và các cơ quan có liên quan, tổng kết đánh giá tình hình và công tác của Chi
cục Thuế;
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
- Lập hồ sơ đề nghị khởi tố tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế;
thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với NNT vi
phạm nghiêm trọng phap luật về thuế;
- Được quyền ấn định thuế, xử lý vi phạm hành chính về thuế, tru thu
thuế; hiện hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
để truy thu tiền thuế nợ, tiền phạt vi phạm hành chính thuế;
- Quyết định hoặc đề nghị cấp có tham quyền quyết định miễn thuế,
giảm thuế, hoàn thuế, truy thu thuế, gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn thời
hạn nộp thuế, khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ tiền thuế, tiền phạt theo quy định
của pháp luật;
- Được quyền yêu cầu NNT cung cấp sổ kế toán, hoá đơn chứng từ và
hồ sơ tài liệu khác có liên quan đến việc tính thuế, nộp thuế; được yêu cầu tổ
chức tín dụng, các tổ chức, cá nhân khác có liên quan cung cấp tài liệu và
phối hợp với cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế;

- Đội Hành chính- Nhân sự - Tài vụ - Quản trị - Ấn chỉ: 07 biên chế.
- Đội quản lý thuế liên xã Đăng Châu (Quản lý giám sát 13 xã: Thi trấn
Sơn Dương, Hợp Thành, Kháng Nhật, Phúc Ứng, Tú Thịnh, Trung Yên,
Minh Thanh, Bình Yên, Lương Thiện, Tân Trào, Thượng Ấm, Vĩnh Lợi, Cấp
Tiến): 05 biên chế.
- Đội quản lý thuế liên xã Sơn Nam (Quản lý giám sát 8 xã: Sơn Nam,
Hợp Hoà, Thanh Phát, Tuân Lộ, Ninh Lai, Thiện Kế, Đại Phú, Phú Lương):
04 biên chế.
- Đội quản lý thuế liên xã Kim Xuyên (Quản lý giám sát: 12 xã: Hồng
Lạc, Sầm Dương, Vân Sơn, Văn Phú, Chi Thiết, Đồng Quý, Hào Phú, Đông
Lợi, Lâm Xuyên, Tam Đa, Đông Thọ, Quyết Thắng): 05 biên chế.
Tổng biên chế: 48 biên chế.
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
Chức năng, nhiệm vụ của các Đội thuế thuộc Chi cục do Tổng cục
Thuế quy định tại Quyết định số 729/QĐ-TCT ngày 18/6/2007 của Tổng cục
trưởng Tổng cục Thuế.
2.4.1. Đội Nghiệp vụ - Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế:
Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý
thuế, chính sách, pháp luật thuế cho cán bộ, công chức thuế trong Chi cục,
xây dựng và tổ chức thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước của Chi cục
thuế; thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế, hỗ trợ
người nộp thuế trong phạm vi Chi cục thuế quản lý, và thực hiện các nhiện vụ
khác do Chi cục trưởng chi cục Thuế giao.
2.4.2. Đội kê khai - kế toán thuế và tin học:
Giúp Chi cục trưởng Chi cục thuế thực hiện công tác đăng ký thuế xử lý
hồ sơ thuế, kế toán thuế, thống kê thuế theo phân cấp quản lý; quản lý và vận
hành hệ thống trang thiết bị tin học; triển khai cài đặt hướng dẫn sử dụng các
phần mềm ứng dụng tin học phục vụ công tác quản lý thuế và thực hiện các
nhiện vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.
2.4.3 Đội quản lý nợ và cưỡng chế thuế và thu khác:

thời gian qua.
Trong thời gian qua, cùng với ngành thuế Tuyên Quang, công tác thuế
huyện Sơn Dương có nhiệm vụ tiếp tục củng cố vàổn định tổ chức bộ máy,
phấn đấu thực hiện hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách được giao và tiếp tục
chuyển giao thực hiện các luật thuế mới đạt kết quả tốt đặc biệt là thuế
GTGT. Chi cục thuế huyện Sơn Dươngđã hoàn thành vượt mức kế hoạch
được giao nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chi cục đã gặp không ít
những khó khăn: Dolực lượng cán bộ thuế của Chi cục còn thiếu về số lượng,
kinh nghiệm công tác còn hạn chế. Một số mới được điều động về còn nhiều
bỡ ngỡ; địa điểm làm việc của một đội còn phải đi thuê, điều kiện làm việc
còn thiếu thốn, điều kiện sinh hoạt của cán bộ nhân viên còn gặp nhiều khó
khăn, bên cạnh đó do đặc điểm của các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, nằm
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
dải dác trong thôn xóm, sự hiểu biết về pháp luật nói chung và việc chấp hành
luật thuế nói riêng còn nhiều hạn chếđã gây không ít khó khăn cho công tác
quản lý thu thuế của Chi cục.
Mặc dù khó khăn là vậy song trong những năm qua Chi cục luôn hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách được giao. Ta có thể xem xét kết quả
thực hiện thu ngân sách của năm 2005 đến năm 2007 (xem bảng 1).
Theo biểu 1: Ta thấy năm 2005 kế hoạch thu Ngân sách được Nhà
nước giao cho chi cục là 91.680.210 triệu đồng và tính đến ngày 31/12/2005,
tổng số thu Ngân sách trên địa bàn huyện là 111.391.455 triệu đồng, đạt
121,5% so với kế hoạch được giao và bằng 134,7% so với cùng kỳ năm
trước.
Thông qua bảng 1 ta còn nhận thất hầu hết các khoản thu đều vượt kế
hoạch được giao và tăng cao so với cùng kỳ năm 2006. Sang đến năm 2007,
tổng số thu Ngân sách chi cục đã thực hiện là 171,988,407 triệu đồng, đạt
135,8% so với kế hoạch và tăng 54,4% so với cùng kỳ năm 2005. Nừu so với
kế hoạch được giao thì số thực hiện thu Ngân sách đã tăng 45.312.111 triệu
đồng, tương ứng 26,35%. Riêng số thu khu vực ngoài quốc doanh đã tăng

hiện tốt chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung, pháp luật
thuế nói riêng.
- Thực hiện chủ trương đoàn kết, bám sát nhiệm vụ kinh tế xã hội của
địa phương, ở từng thời điểm cơ quan đã xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức
tốt công tác nhiệm vụ thu ngân sách, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện tới
từng bộ phận, từng cá nhân.
2.6. Tình hình chống thất thu đối tượng nộp thuế.
Biểu 1: Tình hình quản lý số hộ kinh doanh trên địa bàn.
Đơn vị tính 1000đ
Chỉ tiêu
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Chênh lệch
2006/2005 2007/2006
1. Tổng số hộ KD thực tế 8.681 10.65 11.739 + 1.973 + 1.085
Trường đại học kinh tế quốc dân Hà nội * Khoa ngân hàng tài chính
4
2. Tổng số hộ quản lý 6.453 8.136 9.127 + 1683 + 991
3. Số hộ chưa quản lý 2.228 2.518 2.612 + 290 + 94
4. Số hộ ghi thu 4.936 5.082 5.120 + 146 + 38
5. Số hộ thực thu theo
ghi thu
4.235 4.622 4.652 + 387 + 30
6. Số hộ nợđọng 701 460 472 -241 + 12
Trênđịa bàn huyện Sơn Dương, hiện nay chủ yếu là các hộ nộp thuế
theo ấn định trên doanh thu. Năm 2005, chi cục quản lý6.453 hộ, Năm 2006,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status