Tài liệu Công thức của vận may (Phần 2) - Pdf 96

Công thức của vận may (Phần 2)

"Công thức của vận may" là
một trong những cuốn sách hấp dẫn
nhất của William Poundstone (tác
giả cuốn sách bán chạy tại Việt
Nam "Làm thế nào dịch chuyển núi
Phú Sĩ?"). Tác giả tiết lộ bí mật về
một công thức toán học - được gọi
là "Công thức Kelly" giúp bạn nắm
bắt được vận may tại sòng bạc và
sàn chứng khoán. Một cuốn sách kết
hợp giữa cờ bạc, cá ngựa, đầu tư
chứng khoán và sự chính xác của
toán học, một cuốn cẩm nang cho
những người muốn áp dụng công
thức Kelly để làm giàu.
Dự án X
NÓ ĐƯỢC GỌI LÀ DỰ ÁN
X. Mãi đến năm 1976, dự án này
mới được tiết lộ và đây là một nỗ
lực chung của cả Bell Labs và
Trường Mật mã và Kí hiệu Anh
ôn. Nội dung của dự án X mang tính
cạnh tranh với nội dung của dự án Manhattan, do một nhóm các nhà khoa học Anh
và Mỹ đảm nhận, không chỉ có Shannon mà cả Alan Turing tham gia. Họ đang
xây dựng một hệ thống gọi là SIGSALY. Đây không phải là chữ viết tắt của một
cái tên nào mà chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên của một nhóm chữ cái nhằm làm cho
người Đức lúng túng nếu như họ có nghiên cứu về nó.
SIGSALY là ch


minh có thể nghe trộm được những mật lệnh của người Đức. Mục đích của
SIGSALY là đảm bảo không cho người Đức làm được điều ngược lại với phe
Đồng minh. Một phần công việc của Shannon là chứng minh rằng hệ thống này
thực sự bất khả xâm phạm đối với bất cứ người nào không có chìa khóa giải mã
trong tay. Nếu thiếu cơ sở đảm bảo về mặt toán học này, những tướng lĩnh quân
Đồng minh sẽ không thể nào liên lạc với nhau một cách thoải mái. SIGSALY đã
lần đầu tiên áp dụng một vài ý tưởng của Shannon vào thực tế, trong số đó có
những ý tưởng liên quan đến phương pháp điều biến mã xung (pulse code
modulation – một phương pháp được sử dụng để biến đổi tín hiệu tương tự ở lối
vào thành tín hiệu số tương ứng, không bị nhiễu). AT&T đã cấp bằng sáng chế và
thương mại hóa nhiều ý tưởng của Shannon trong thời kỳ hậu chiến.
Sau đó, Shannon nói rằng việc nghiên cứu về cách thức che giấu thông tin
bằng tiếng động ngẫu nhiên đã thúc đẩy tiến trình xây dựng lý thuyết thông tin.
Ông nói: “Một hệ thống bảo mật cũng gần như giống hệt một hệ thống liên lạc
bằng tiếng động”. Hai hướng nghiên cứu này “có mối liên hệ mật thiết đến nỗi
bạn không thể tách rời chúng được”.
Năm 1943, Alan Turing đến thăm phòng nghiên cứu của Bell Labs ở New
York. Hằng ngày, Turing và Shannon đều có những cuộc trò chuyện trong quán cà
phê ở nơi làm việc. Shannon thông báo với Turing rằng ông đang theo đuổi cách
thức để đo lường được thông tin. Ông sử dụng một đơn vị đo lường gọi là “
bit” và
nói đây là ý tưởng đặt tên của John Tukey, một nhà toán học khác ở Bell Labs.
“Bit” là chữ viết tắt của “binary digit” – “số nhị phân”. Theo Shannon định nghĩa,
bit là một tổng lượng thông tin cần thiết để phân biệt giữa hai kết quả cho ra ngang
nhau.
Turning nói với Shannon rằng anh vừa nảy ra ý tưởng về một đơn vị gọi là

ban”, là tổng lượng dữ liệu làm tăng khả năng chính xác của một dự đoán lên gấp
10 lần. Nhà mật mã học người Anh lấy ý tưởng này một phần từ việc giải mã hệ
thống mật mã Enigma của người Đức. “Ban” xuất phát từ “Banbury”, tên thị trấn

thuần túy, đó là khát vọng vươn tới những công nghệ tiên tiến hay hoàn thiện sự
nghiệp của mình.
Năm 1948 cũng đánh dấu một bước ngoặt trong đời sống riêng của
Shannon. Shannon thường lui tới văn phòng của John Pierce để trò chuyện. Pierce
đang nghiên cứu về ra-đa và được biết đến như một người hâm mộ cuồng nhiệt thể
loại tiểu thuyết khoa học. Trong những lần tới văn phòng này, Shannon đã gặp trợ
lý của Pierce, Mary Elizabeth Moore. “Betty” Moore đang tham gia trực máy tính
cho nhóm toán học, các thao tác được thực hiện trên một cái máy tính bàn kiểu cũ.
Moore rất hoạt bát, có khả năng làm mọi thứ theo cách “Rosie-the-Riveter”, có thể
dùng máy khoan, máy tiện trong xưởng máy của phòng thí nghiệm. Cô có sức hấp
dẫn và là một trong ba phụ nữ duy nhất làm việc ở đây. (“Một người đã có chồng
còn người kia đã 50 tuổi”, Betty nhớ như vậy.) Cô và Claude hẹn hò lần đầu tiên
vào tháng 12 năm 1948. Ngày 27-3-1949 họ cưới nhau.
Shannon bắt đầu dạy ở MIT vào học kỳ mùa xuân năm 1956. Lúc đầu công
việc này chỉ mang tính tạm thời, và có ít nhất một người bạn ở Bell Labs (John
Riordan) hiểu rằng có một lý do không được nói ra đằng sau việc này. Người ta
đoán Shannon chuyển sang dạy học ở MIT là để có nhiều thời gian rảnh hơn cho
việc viết sách về lý thuyết thông tin.
Trong một bức thư gửi cho Hendrik Bode - sếp của mình tại Bell Labs,
Shannon viết: “Tôi đang có một khoảng thời gian hết sức vui vẻ tại MIT. Đề tài
đang tiến triển rất tốt nhưng khối lượng công việc rất lớn. Ban đầu tôi chỉ mong có
một nhóm nhỏ khoảng 8 đến 10 sinh viên giỏi, thế nhưng ngay ngày đầu đã có tới
40 người đến đăng ký, trong đó có cả các giảng viên của MIT, Harvard…”
Chỉ sau vài tháng ở MIT, Shannon gửi Bode đơn xin thôi làm việc tại Bell
Labs và chuyển sang giảng dạy tại MIT. Ông thấy mình và Betty thích cuộc sống
trí thức và nền văn hóa của Cambridge. “Những khách nước ngoài thường dành cả
ngày ở Bell Labs nhưng lại dành đến 6 tháng ở MIT. Điều này đem lại những cơ
hội để trao đổi kinh nghiệm và ý tưởng thực tế. Khi tính đến tất cả những thuận lợi
và khó khăn, tôi thấy Bell Labs và môi trường chuyên môn cao ở đây đều quan
trọng như nhau, nhưng 15 năm tại Bell Labs khiến tôi cảm thấy mình trở nên hơi

cuộc sống luôn luôn thay đổi nên bạn cũng sẽ phải thay đổi hướng đi của mình.”
Shannon nói về sự phóng túng trong cách làm việc của mình.
Một trong những sở thích này là trí thông minh nhân tạo. Shannon tổ chức
cuộc hội thảo chuyên môn đầu tiên về đề tài này ở Dartmouth, năm 1956. Tiếng
tăm của Shannon là một yếu tố khiến người ta quan tâm nhiều đến đề tài này. Một
vài thiết bị mà Shannon tạo nên, bao gồm chiếc máy tính biết chơi cờ đầu tiên và
một chiếc máy thông minh khác, là những viên gạch đầu tiên trong lịch sử của học
máy (machine learning). Shannon là một người ủng hộ ăn nói lưu loát, có tầm nhìn
đủ để biết điều tuyệt vời nào có thể thành hiện thực đồng thời cũng thực tế để hiểu
rằng chúng sẽ không xuất hiện trong cuộc đời ông. Ông có tài thiên bẩm trong việc
né tránh những câu hỏi vụng về vẫn thường thấy:
Hỏi: Ông có nghĩ những con rô bốt sẽ đủ thông minh để làm bạn với con
người không?
Trả lời: Tôi nghĩ là được. Nhưng tương lai ấy vẫn còn khá xa.
Hỏi: Ông có thể tưởng tượng ra một rô bốt làm Tổng thống Mỹ sẽ như thế
nào không?
Trả lời: Có, tôi có thể tưởng tượng được. Còn bây giờ tôi nghĩ anh không
nên nói về Hoa Kỳ nữa. Đó là một vấn đề hoàn toàn khác.
Rất nhiều thư từ, tài liệu, điện thoại từ những nhà khoa học nổi tiếng thế
giới đổ về văn phòng của Shannon. Họ muốn Shannon duyệt hộ một bài báo hay
viết cho họ một bài, muốn mời ông đến nói chuyện, bày tỏ quan điểm hay cho một
lời khuyên. Shannon từ chối hết những lời đề nghị, yêu cầu này. Khi tên tuổi của
Shannon được công chúng biết đến một cách rộng rãi, ông bắt đầu nhận được
những lá thư từ các trường học đang xây dựng dự án khoa học cho bọn trẻ và
những kẻ lập dị theo đuổi nhiều ý tưởng hoang đường về khoa học, máy tính và
công ty điện thoại (“Thưa ngài” – dòng mở đầu một lá thư, “Con rô bốt Bel của
ngài, một biểu tượng (Daniel 14) trong Kinh thánh, là một cỗ máy quái vật,… Ông
đang chế tạo nên một kẻ phản bội, giúp sức cho Tổng thống Hoa Kỳ và FBI bằng
cách để cho con rô bốt lừa gạt mình. Tôi sợ là mình sẽ phải kiện công ty Điện
thoại New York và tôi sẽ làm nếu như ông không thức tỉnh”).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status