Bài tập chuyên ngành "Tình
hình suy giảm thuỷ sản do
khai thác bằng xung điện"
1
MỤC LỤC
Bài tập chuyên ngành "Tình hình suy giảm thuỷ sản do khai thác bằng xung điện" 1
1
MỤC LỤC 2
Lời nói đầu
Thuỷ sinh vật nước ngọt có vai trò to lớn trong hệ sinh thái nước
ngọt đặc biệt là các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao.Các loài này đóng góp
rất lớn vào nền kinh tế nông nghiệp,trong việc duy trì trạng thái cân bằng
sinh học của các hệ sinh thái và các chu trình vật chất trong tự nhiên.
2
Thế nhưng,con người vì lợi ích của mình đã xử sự thiếu tôn trọng
đến sự sống của các loài này,làm cho số lượng các loài này bị cạn kiệt
dần,môi trường sống bị suy thoái trầm trọng,hậu quả là chính chúng ta và thế
hệ mai sau đang và sẽ phải gánh chịu những hậu quả khôn lường do việc
mình làm.
Không chỉ khai thác bằng các phương tiện truyền thống thô sơ mà
cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật con người càng ngày càng có
nhiều biện pháp tiên tiến để tìm cách tận diệt tất cả các nguồn lợi thuỷ sản
vô cùng phong phú mà thiên nhiên đã ban tặng.
Trước thực trạng đó đề tài này mang tính chứng minh những hậu
quả do việc khai thác bừa bãi nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt ở địa phương,
đồng thời trên cơ sở đó giúp mọi người ý thức hơn về trách nhiệm của mình
trong việc bảo tồn những sinh vật trong tự nhiên.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Thạc sỹ Đào Thị Minh Châu đã dành
thời gian hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này để làm bài tập chuyên ngành
đồng thời cũng là bước đi đầu tiên trong công tác nghiên cứu khoa học sau
khi ra trường.Xin cảm ơn phòng Nông nghiệp và công an xã Đông Văn đã
2009).1034 hộ gia đình chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng lúa nước và trồng
các loại cây hoa màu ngắn ngày.Với điều kiện địa hình thuỷ văn thuận lợi
nên việc đánh bắt thuỷ sản diễn ra từ lâu đời chủ yếu theo phương thức tự
phát kiểu “cải thiện”,”tự cung tự cấp”bằng các dụng cụ thô sơ :nơm, vợt ,
lưới,vó…cho nên năng suất thấp không có khả năng thương mại.Khoảng
năm 1993 trở lại đây do giao thông thuận lợi,giao thương phát triển và đặc
biệt với sự xuất hiện của kích điện thì việc khai thác thuỷ sản đã trở thành
nghề chính của nhiều hộ dân và sản phẩm khai thác đã mang tính chất
thương mại mang lại nguồn thu nhập khá cho một số hộ dân. Tuy nhiên do
công tác quản lí của địa phương còn lỏng lẻo,chưa nhận thức đúng mối nguy
hại lâu dài của phương thức khai thác này nên việc khai thác tràn lan đã làm
4
suy giảm đáng kể nguồn tài nguyên phong phú này và có nguy cơ tuyệt
chủng tại chỗ đối với một số loài có giá trị kinh tế cao.
II. Tính cấp thiết của đề tài
Dụng cụ dùng để đánh bắt chủ yếu là kích điện,một số nơi dùng
cào điện hoặc điện lưới quốc gia nhưng không phổ biến.Kích điện có cấu tạo
đơn giản gồm một bộ ăcquy 24V,một bộ kích tự làm có tác dụng biến dòng
một chiều 24V thành dòng điện xoay chiều 220-250V tương đương dòng
điện lưới sinh hoạt,một bộ cần tự chế cùng dây điện đi kèm.Phương thức
đánh bắt của kích ddieenjmang tính chất huỷ diệt,tất cả cá loài thuỷ sinh vật
trong phậm vi 2 vợt kích(khoảng 1m) và bán kính khoảng 0.5m bên ngoài
hai vợt đều bị ảnh hưởng,như vậy phạm vi tác động của kích khoảng trong
vòng bán kính 1m dưới nước.Với tác động của dòng điện xoay chiều tương
đương dòng điện lưới làm cho tất cả các loài thuỷ sinh trong phạm vi ảnh
hưởng bị choáng điện,ngất,và có thể bị chết.Ngoài sự tác động đến những
đối tượng cần khai thác thì kích điện còn tiêu diệt tất cả các loài động vật
phù du,cá nhỏ,trứng cá và các loại ấu trùng của giáp xác.Làm mất đi nguồn
thức ăn cho các loài cá lớn đồng thời cũng làm suy giảm số lượng các loài cá
vì quần thể không thể phục hồi kịp so với lượng đánh bắt.Ngoài ra dòng điện
• Sử dụng số liệu có sẵn của phòng công an xã,phòng nông
nghiệp và thuỷ lợi của xã…
• Sử dụng phiếu điều tra khảo sát 5 hộ nông dân có mức thu nhập
khác nhau trong xã gồm:
- Hộ ông:Hoàng Đình Hưng_Văn Thắng
- Hộ ông:Lê Đìng Nhơn_Văn Thắng
- Hộ ông:Trần Đình Chất_Văn Nam
- Hộ ông:Nguyễn Văn Nam_Văn Châu
- Hộ ông:Lê Đoan Tài_Văn Nam
Phiếu điều tra 1:Sản lượng đánh bắt trong năm 1995,2002,2009
6
m
ục tiêu
Năm
Thời gian
đánh bắt trong
năm
Sản lượng
trung bình năm
Các loại
TS thường đánh
bắt
1995
2002
2009
Phiếu điều tra 2: Tỉ lệ về kích thước loài Lươn trong mổi lần đánh
bắt
Lo
ại
I. Điêu tra sản lượng khai thác của xã
Xã Đông Văn có diện tích 623.2 ha trong đó tổng diện tích kênh
mương phục vụ thuỷ lợi là 5.9 ha,diện tích dành cho canh tác nông nghiệp
và các hồ chứa chiếm diện tích 422.3 ha.Với số dân 4589 nhân khẩu gồm
1034 hộ gia đình nhưng theo thống kê của công an xã thì trên địa bàn hiện
tại có 97 kích điện.Như vậy tỉ lệ kích điện so với tổng số hộ gia đình là 9.4
8
% hay nói cách khác cứ khoảng 10 hộ thì có một hộ có sử dụng kích
điện.Mặc dù đã bị cấm nhưng từ năm 1995 đến nay số lượng kích trong xã
tăng không ngừng.Khoảng 1995 cả xã chỉ có khoảng 15 chiếc,năm 2002 là
78 chiếc và đến nay là 97 chiếc.Tuy nhiên không phải tất cả thời gian trong
năm đều thuận lợi cho việc khai thác mà chỉ tập trung vào một số khoảng
thời gian chủ yếu sau khi đổ ải,sau khi gieo cấy và khoảng tháng 7->9 là
khoảng thời gian có lượng mưa cao,có những trận mưa rào lớn khiến cá tôm
từ các hồ chứa thoát ra ngoài,cũng có thể do tập tính kiếm ăn và sinh sản mà
khoảng thời gian này tập trung nhiều cá tôm.
Các loài thuỷ sinh vật nước ngọt được khai thác chủ yếu thuộc lớp
cá gồm các loài:Lươn đồng(Monopterus albus),Chạch(Mastacembelus
armatus ) ,Cá Chuối (Channa maculata),Cá Chép (Cyprinus carpio),cá Rô
đồng (Anabas testudineus)…,ngoài ra còn một số loài bò sát (rắn Nước
Natrix natrix,rắn Hổ Mang Naja atra…) và số ít lưỡng cư chủ yếu là Ếch
đồng Rana tigrina.
Thông qua số liệu điều tra trung bình dựa vào phiếu điều tra về sản
lượng của một kích/năm và số liệu về số lượng kích do xã cung cấp ta có kết
quả được thể hiện ở bảng 1
Bảng 1: Sản lượng khai thác thuỷ sản của xã(Số liệu trung bình
dựa vào sản lượng 1 kích/1 năm_Hoàng Đình Dương 2009)
Nộ
i dung
Năm
Để nghiên cứu sự suy giảm thành phần loài cụ thể, đề tài chọn đối
tượng là loài Lươn đồng(Monopterus albus).Đây là loài có năng suất kinh tế
cao và là đối tượng săn bắt chủ yếu của các hộ nông dân.
Sử dụng phương pháp thu mua sản phẩm của nông dân đem về xử
lí:phân loại mẫu vật,cân , đo, đong , đếm số lượng từng loài trong mẫu
thu.Sử dụng công thức trung bình và công thức tính phần trăm để tính tỉ lệ
con non/con trưởng thành. Đối tương nghiên cứu chủ yếu là loài Lươn
a. Đặc điểm chung của loài Lươn
Lươn đồng là một loài cá nước ngọt trông tương tự cá chình sinh
sống trong khu vực nhiệt đới chủ yếu trên các cánh đồng lúa nước vùng
chiêm trũng hoặc các ao hồ,hào rãnh.Loài này gần như không có vây,không
có vảy,mắt rất nhỏ thích nghi với đời sống chui rúc dưới bùn lầy.Lươn là
loài lưỡng tính.Miền Bắc nước ta cỡ Lươn nhỏ hơn 20 Cm thường là cái,cỡ
36-47 Cm thường là lưỡng tính còn độ dài than lớn hơn 50 Cm thì hoàn toàn
đều là đực. Lươn hoạt động mạnh vào mùa hè,hay đi kiếm ăn sau trận mưa
rào,có khi sống thành đàn đi kiếm ăn. Lươn là loài ăn tạp,nhưng ăn động vật
có chất tanh là chính. Khi còn nhỏ, lươn ăn sinh vật phù du, giai đoạn tiếp ăn
côn trùng bọ gậy, ấu trùng chuồn chuồn, đôi khi ăn các cá thể hữu cơ vụn
nhỏ (rễ lúa,các tảo sợi ). Lươn lớn ăn: giun, ốc, tôm, tép, cá con, nòng nọc
và những động vật trên cạn gần mép nước như: giun,dế
Về sinh trưởng: - Lươn 1 tuổi dài 27 Cm nặng 18-60g.
- Lươn 2 tuổi dài 36-48 Cm nặng40-100g.
Ở miền Bắc nước ta con lớn 62 cm nặng 300g ,ở long chảo Điện
Biên Phủ (Lai Châu) có con lươn nặng 900g . Ở miền Nam có con nặng
1,5kg . Lươn con năm thứ nhất lớn nhanh về chiều dài ,sang năm thứ ba
trọng lượng tăng lên là chủ yếu .Trong điều kiện tự nhiên ,đánh bắt lươn có
chiều dài 30 -50 Cm chiếm ưu thế
b. Tình hình khai thác trên địa bàn xã
Trong việc đánh giá sản lượng của một quần thể người ta thường
quan tâm đến tỉ lệ cá thể còn non và cá thể trưởng thành bởi đây là yếu tố
Tỉ lệ % con trưởng thành =
181
7.116
100% = 64.5%
Tỉ lệ con non/con trưởng thành =
7.116
3.64
100% = 55.2%
Qua số liệu bảng 2 ta thấy trong các lần đánh bắt thì tỉ lệ con non
còn ở mức khá cao chiếm 35.5% so với tổng số lượng và bằng 55.2% so với
số lượng các con trưởng thành.Hay nói cách khác trong mỗi lần đánh bắt cứ
2 con trưởng thành thì sẽ có một con đang còn trong giai đoạn chưa được
phép khai thác thuộc loại 1 năm tuổi và đang ở giữa pha sinh trưởng .Điều
này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức tái sinh của quần thể Lươn đồng,làm
mất cân bằng giữa tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử vong khiến sự sinh sản không thể bù
12
lại được số lượng mất đi do khai thác do đó quần thể sẽ nhanh chóng bị suy
giảm
Bằng việc theo dõi chất lượng thuỷ sinh vật khai thác được qua các
năm thông qua số liệu điều tra dựa vào phiếu điều tra phát cho nông dân ta
có thể biết được sự thay đổi kích thước của quần thể trong một khoảng thời
gian nhất định.Cụ thể là tỉ lệ phần trăm của từng loại từ đó đánh giá được
mức suy giảm của quần thể trong khoảng thời gian đó(bảng 3)
Bảng 3: Tỉ lệ % của mỗi loại trong phiếu khảo sát
Loại
Năm
Loai
1(%)
những cá thể này khiến cho quần thể tuyệt chủng.Tuy nhiên thời gian gần
đây xã có những biện pháp mạnh tay để ngăn chặn việc đánh bắt bừa bãi nên
14
năm 2009 đã có những dấu hiệu khả quan.Cụ thể số lượng cá thể có kích
thước trung bình tăng lên đồng thời cố lượng loại nhỏ cũng được giảm bớt
so với năm 2006.
III. Nghiên cứu suy giảm đa dạng sinh học và sinh thái học
Các loài sinh vật trong một quần xã có thể được xếp loại theo cách
thu nhận năng lượng từ môi trường.Những thứ hạng này được gọi là bậc
dinh dưỡng,chúng bao gồm:sinh vật sản xuất,sinh vật tiêu thụ,sinh vật phân
huỷ.Các mối quan hệ tương hỗ trong các cấp bậc dinh dưỡng tạo thành chuỗi
thức ăn
Trong tự nhiên tồn tại một hiện tượng là một loài có thể sử dụng
nhiều loài khác làm nguồn thức ăn ,các loài này là thành viên của bậc dinh
dưỡng thấp hơn trong chuỗi thức ăn và đồng thời cũng là thức ăn cho các
loài khác ở bậc dinh dưỡng cao hơn.Tất cả các loài liên hệ khăng khít với
nhau,liên quan với nhau về mặt dinh dưỡng tạo nên mạng lưới thức ăn.Một
số loài đóng vai trò chủ yếu trong chuỗi thức ăn do vậy khi các loài này bị
suy giảm thì sẽ kéo theo hàng loạt các lệ thuộc khác cũng suy giảm theo.
Trong hình 1 biểu diễn sơ đồ mạng lưới thức ăn trong hệ sinh thái
đông ruộng khu vực xã Đông Văn.Khi loài Lươn đồng bị khai thác đến cạn
kiệt sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến các loài khác.Cụ thể sẽ làm cho các
loài ở bậc dinh dưỡng cao hơn bị mất nguồn thức ăn như Rắn,các loài cá ăn
thịt…đồng thời sẽ khiến côn trùng bùng phát về số lượng tiêu diệt lúa,thực
vật nổi,làm mất đi nguồn thức ăn sơ cấp.Hậu quả là toàn bộ hệ sinh thái sẽ bị
suy thoái và mất đi sự cân bằng vốn có của tự nhiên.
Hình 1: Sơ đồ mạng lưới thức ăn trong hệ sinh thái đồng ruộng Đông Văn
15
Nhận xét chung:Như vậy so với các năm trước thì từ khi nông dân
5. Xây dựng phương pháp khai thác và bảo vệ nguồn lợi trên cơ sở
quản lý cộng đồng để phát triển bền vững.
9. Xây dựng các chương trình hoạt động,kết hợp các cấp chính quyền
ngăn chặn hiện tượng dùng xung điện
10.Đầu tư huấn luyện và chuyển đổi ngành nghề cho các hộ nông dân
đang hoạt động
Bảo vệ và phát triển nguồn lợi là nghĩa vụ, quyền lợi của mọi tầng lớp
nhân dân; là trách nhiệm của các ngành các cấp. Nguồn lợi thủy sản tự nhiên
là vô hạn, nhưng dưới tác động của con người thì nó lại trở nên hữu hạn. Do
đó chỉ có bảo vệ đi đôi với phát triển thì NLTS mới có khả năng tái tạo
không ngừng và phát triển bền vững./.
Tài liệu tham khảo:
1. Bách khoa tri thức phổ thông,2005.Nxb Văn hoá thông tin
2. Võ Hành,2009. Đa dạng sinh học,tài liệu nội bộ ĐH Vinh
3. Phương án đổi điền dồn thửa lần 2,2006,UBND xã Đông Văn
4. Vũ Trung Tạng,2001.Cơ sở sinh thái học.Nxb Giáo dục
18
5. Động vật học có xương sống,Hà Đình Đức,Nxb KHKT
6. Tài liệu tổng điều tra dân số 2009
7. Tổng kết đợt ra quân truy quét khai thác thuỷ sản bằng xung điện,Tháng
6-2008.Phòng công an xã Đông Văn
8. Thông tin tổng hợp từ Internet,sách báo,tài liệu liên quan
19