SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP. HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
TRƯỜNG THPT LƯƠNG VĂN CAN KHOA TOÁN – TIN
GVHD: Thầy Nguyễn Văn Tâm
Lớp chủ nhiệm : 10A9
SVTT: Đặng Minh Nhựt
Thành phố Hồ Chí Minh-2010
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Trang
1.PHƯƠNG PHÁP TÌM HIỂU: 4
2.KẾT QUẢ TÌM HIỂU: 5
2.1.Tình hình giáo dục tại Quận 8: 5
2.2.Tình hình, đặc điểm nhà trường: 6
2.3.Cơ cấu tổ chức trường học: 10
2.4.Chức năng và nhiệm vụ của giáo viên phổ thông: 15
2.5.Các loại hồ sơ học sinh 16
2.6.Cách đánh giá, xếp loại hạng kiểm và ghi học bạ của học sinh: 16
2.7.Cách đánh giá và cho điểm, cách thức phân loại học lực của học sinh: 18
2.8.Các hoạt động giáo dục trong nhà trường: 22
3.NHỮNG BÀI HỌC SƯ PHẠM: 23
3.1.Bài học kinh nghiêm trong công tác giảng dạy bộ môn Toán 23
3.2.Bài học kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm 25
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 2
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Bài thu hoạch là kết quả của quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm, tình hình
giáo dục, giảng dạy và công tác chủ nhiệm ở trường THPT Lương Văn Can, Quận 8,
Tp. Hồ Chí Minh trong một thời gian ngắn ngủi nên không thể tránh khỏi những thiếu
sót rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và người đọc.
Em xin chân thành cảm ơn:
Thầy Nguyễn Văn Tâm đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá
cũng như các thầy cô sau:
Thầy Nguyễn Phát Tài (Hiệu trưởng-Bí Thư Chi Bộ nhà trường).
Cô Trương Thị Thanh Thủy (Phó Hiệu Trưởng nhà trường).
Tìm kiếm thông tin thông qua các trang web của Sở Giáo dục và đào tạo
thành phố Hồ Chí Minh, phòng giáo dục quận 8, trường THPT Lương Văn
Can.
2. KẾT QUẢ TÌM HIỂU:
2.1. Tình hình giáo dục tại Quận 8:
2.1.1. Đôi nét về quận 8:
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 4
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
- Trước đây quận 8 là một quận ven thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều kênh
rạch, đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn, chủ yếu là tầng lớp lao
động bình dân làm những nghề liên quan nhiều đến ghe thuyền.
- Hiện nay quận 8 đã ổn định và phát triển về nhiều mặt: Kinh Tế, Chính
Trị, Xã Hội, Giáo Dục đã được xem là quận nội thị đáng trong giai đoạn phát
triển và là một trong 19 quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở
vị trí Tây Nam thành phố.
2.1.2. Tình hình giáo dục ở quận 8 trước khi trường THPT Lương Văn
Can được thành lập:
- Quận 8 là nơi có nhiều trường trung học lớn và lâu đời của thành phố như
trường trung học Xóm Củi. Theo thống kê, mỗi năm ở quận 8 có gần 3000
học sinh học hết cấp tiểu học, nhưng hầu hết đều bỏ học, vì không thể chen
chân vào trường trung học công lập ở bên kia cầu Chà Và hay cầu Chữ Y.
Tình trạng thất học ở lứa tuổi thiếu niên đã khiến các em nhỏ phải vào làm
việc vất vả trong các cơ sở sản xuất với đồng lương ít ỏ, đồng thời cũng dễ
dàng đưa đẩy phần lớn các em đến các tệ nạn xã hội.
- Trước tình hình đó, trong lúc vẫn xúc tiến các công tác cải tiến dân sinh
và chỉnh trang tái thiết gia cư, mối bận tâm lớn nhất của chương trình phát
triển quận 8 là giáo dục: khi qui hoạch các khu chỉnh trang tái thiết, bao giờ
cũng như đội ngũ giáo viên nhiều năng lực và trách nhiệm.
+Hiện nay quận 8 đã hoàn thành phổ cập tiểu học và đang từng bước tiến
hành phổ cập giáo dục THCS và THPT.
- Xã hội hóa giáo dục:
+Huy động được nhiều nguồn lực và sự quan tâm của tất cả các ban
ngành( mặt trận tổ quốc, hội chữ thập đỏ, hội khuyến học, hội ái hữu của
cựu học sinh, hội phụ huynh học sinh…,). hàng năm trao rất nhiều suất
học bổng (mỗi suất trị giá từ 500.000đ đến 800.000đ) cho học sinh nghèo
hiếu học, hạn chế tình trạng lưu ban, bỏ học vì học sinh không có tiền
đóng học phí.
+Riêng trường THPH Lương Văn Can hàng năm trích trên 100 suất học
bổng cho học sinh nghèo hiếu học, học sinh vượt tiến. Ở trường còn có
chế độ miễn giảm cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
+Tuy nhiên quận còn có nhiều tồn tại sau:
+Số lượng thanh niên từ 15 đến 20 tuổi, bỏ học được huy động vào các
lớp phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông còn ít,
chưa đạt yêu cầu.
+Việc tổ chức các lớp phổ cập bậc trung học cũng chưa đạt hiệu quả cao
2.2. Tình hình, đặc điểm nhà trường:
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 6
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
2.2.1. Tiểu sử Lương Văn Can
- Lương Văn Can (1854-1927), tên tự là Ôn Như, hiệu là Sơn Lão, là nhà cách
mạng Việt Nam, là một trong những người sáng lập ra và làm hiệu trưởng
trường Đông Kinh nghĩa thục năm 1907. Ông quê ở làng Nhị Khê, bây giờ là
xã Nhị Khê huyện Thường Tín, Hà Nội, Việt Nam.
- Năm 1871, khi 17 tuổi, Lương Văn Can đỗ thi Hương, vào tới tam trường.
Năm 1875, ông thi đỗ Cử nhân, nhưng do bố mất, năm sau ông không đi thi
Hội nữa. Sau đó ông ở nhà cưới vợ là bà Lê Thị Lễ, và tới năm 25 tuổi (1879)
ông mở trường dạy học tại số 4 phố Hàng Đào, Hà Nội. Vì đỗ cử nhân, ông
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 7
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Thi tuyển sinh gồm 3 môn: Văn, Toán và câu hỏi thường thức do Trung
Nha Học gửi xuống cho văn phòng Chương trình đánh máy và quay
video.
Lấy 480 em cho 2 lớp Đệ Lục và Đệ Thất. điểm chuẩn lúc bấy giờ rất
thấp. chỉ 4.5 điểm.
Các em học sinh đầu tiên nhập học vào thứ năm, ngày 20/10/1966.
- Năm 1972 để đánh dấu 2 lớp đầu tiên thi tú tài và tốt nghiệp, Hội đồng giáo
sư đã quyết định tổ chức Ngày Truyền Thống vào ngày 23 tháng Chạp hằng
năm giúp các em sắp ra trường có những kỷ niệm đẹp thời học trò, đồng thời
có thêm niềm tự hào về mái trường thân yêu của mình.
- Năm 1974, theo yêu cầu của Trung Nha Học, Hội đồng giáo sư của trường đã
chọn tên một danh nhân để đặt tên cho trường, tên nhà giáo yêu nước Lương
Văn Can, một trong những người sáng lập đồng thời là hiệu trưởng trường
Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, được chọn. từ đó đến nay, trường Trung học
Cộng Đồng Đô Thị Quận 8 được mang tên: Trường THPT Lương Văn Can.
- Các đời hiệu trường nhà trường:
Cho tới nay (năm 2010) trường THPT Lương Văn Can đã trải qua 4 đời Hiệu
trưởng. Bao gồm:
• Thầy Uông Đại Bằng
• Cô Hông Đào Hoa
• Thầy Hà Văn Khoan
• Thầy Nguyễn Phát Tài.
2.2.3. Tình hình, đặc điểm chung của Trường THPT Lương Văn Can
- Lương Văn Can là một rong những trường trọng điểm của quận 8, được tặng
bằng khen là trường có thành tích xuất sắc thực hiện nhiệm vụ năm học của Uỷ
Ban Nhân Dân TP HCM. Cựu học sinh của trường có những người đã thành
đạt, như: PGS TS Trần Hoàng Ngân ra trường năm học 1981 – 1982, hiện nay
là trưởng khoa Ngân hàng, Chủ tịch UBND quận Gò Vấp và con gái của ông ta
tay và hai chân từ dưới đất lên tận lầu bốn khu nhà C để
làm thủ tục. Đó là thí sinh Nguyễn Đức Hoàng, ngụ ở
Q.8, TP.HCM (ảnh). Mẹ Hoàng cho biết từ năm lên 7
tuổi, mỗi ngày đi học về Hoàng than mỏi tay chân, cứ
như vậy từ từ hai chân không thể cử động, rồi đến hai
tay. Cả nhà chở Hoàng đi khám bác sĩ thì được biết bị
bệnh yếu cơ. Cha mẹ khuyên Hoàng nên nghỉ học vì sợ
Hoàng mặc cảm nhưng em một mực không chịu, đòi đi
học. Từ lớp 1-9 Hoàng đều đạt học sinh giỏi. Hoàng lên cấp III, cha em phải
nghỉ làm để có thời gian đưa đón em đi học tại Trường THPT Lương Văn Can.
Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT vừa rồi, Hoàng được 46 điểm.
Lưu Quỳnh Như
-Chung kết Hùng biện tiếng Anh "Du học Australia - Khám phá tiềm năng".
Trong hai ngày 12 và 13-5-2007, vòng chung kết cuộc thi Hùng biện tiếng Anh
lần thứ 5 chủ đề "Du học Australia - Khám phá tiềm năng" do Cơ quan Giáo
dục quốc tế Australia tại Việt Nam (AEI Vietnam) kết hợp với VTV2 tổ chức
đã tìm được người chiến thắng. Trải qua ba vòng thi: bốc thăm - nói theo chủ
đề, ứng khẩu, phỏng vấn trực tiếp, ban giám khảo đã chọn được tám thí sinh
vào vòng chung kết. Tại TP.HCM, giải nhất là Trần Thị Thanh Tú (lớp 10
chuyên Anh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong); giải nhì là Lưu Quỳnh
Như (lớp 11A12 Trường THPT Lương Văn Can); giải ba là Ngô Thị Trúc
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 9
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Quỳnh (lớp 10 chuyên Anh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) và Phạm
Anh Thư (lớp 10 chuyên Anh Trường Phổ thông Năng khiếu, ĐH Quốc gia
TP.HCM)
2.3. Cơ cấu tổ chức trường học:
2.3.1. Cơ cấu tổ chức của trường:
a. Tổ chức vê nhân sự
Về Đảng: Chi bộ Đảng gồm 15 người.
• Tổ Hóa: gồm có 8 giáo viên tổ trưởng: thầy Đặng Văn Giàu
• Tổ Sinh: gồm có 7 giáo viên tổ trưởng: cô Huỳnh Thị Cẩm Hạnh
• Tổ Sử: gồm có 6 giáo viên tổ trưởng: cô Nguyễn Thị Kim Trang
• Tổ Địa: gồm có 6 giáo viên tổ trưởng: cô Trịnh Thị Uyên
• Tổ Kĩ thuật: gồm có 8 giáo viên tổ trưởng: thầy Đặng Quý Hùng
• Tổ TD-Công dân: gồm có 11 giáo viên tổ trưởng: thầy Uông Văn Ái Đức
• Tổ Văn Phòng: gồm 23 công nhân viên tổ trưởng: thầy Nguyễn Tấn Sĩ
b. Tình hình giáo dục, học sinh, cơ sở vật chất của nhà trường trong giai
đoạn hiện nay
Vấn đề phân ban
- Năm học 2008 – 2009 vấn đềgiáo dục phổ thông áp dụng phân ban đại
trà, phấn đấu tiến tới không còn lớp bán công trong trường công. Hiện nay
không còn lớp bán công trong trường.
- Bộ quy định chương trình học chia làm 3 ban là: Ban Khoa Học Tự
Nhiên, Ban Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Ban Cơ bản. Tuy nhiên hiện
nay tại trường THPT Lương Văn Can chỉ có 2 ban: Ban KHTN và ban Cơ
bản. Đó là tình hình chung của các trường trên cả nước. Lý do vì dựa vào
việc thi cử vào các trường đại học, cao đẳng đa số tập trung vào các môn
thi của các ban cơ bản và ban KHTN chính vì thế tập trung học các môn
này thì con đường vào các trường ĐH, CĐ rộng thênh thang trong khi đối
với các ban KHXH và NV là rất hạn hẹp. Đó là lý do chính khiến học sinh
không mặn mà với môn học trong ban này.
+ Ban khoa học tự nhiên: học chương trình chuẩn và nâng cao các
môn toán, lý, hóa, sinh.
+ Ban cơ bản: học chương trình chuẩn và có phân luồng (tức là có một
số bộ môn cho học sinh lựa chọn chủ đề học nâng cao).
⇒
Có thể thấy học sinh của Trường THPT Lương Văn Can chọn các
môn học thiên về ban cơ bản.
Số lượng học sinh
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Kết quả giáo dục HKI(2009-2010)
Khối 10:
Sĩ số toàn khối: 737 học sinh
Học Tập Hạnh Kiểm
Số lượng Phần trăm Số lượng Phần trăm
Giỏi -Tốt 9 1,2% 283 38,4%
Khá 109 14,8% 281 38,1%
Trung bình 354 48,0% 124 16,8%
Yếu 240 32,6% 49 6,6%
Kém 25 3,4%
Khối 11:
Sĩ số toàn khối: 802
Học Tập Hạnh Kiểm
Số lượng Phần trăm Số lượng Phần trăm
Giỏi -Tốt 13 1,6% 350 43,6%
Khá 162 20,2% 263 32,8%
Trung bình 405 50,5% 110 13,7%
Yếu 206 25,7% 79 9,9%
Kém 16 2,0%
Khối 12:
Sĩ số toàn khối: 680 học sinh
Học Tập Hạnh Kiểm
Số lượng Phần trăm Số lượng Phần trăm
Giỏi -Tốt 5 0,7% 310 45,6%
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 13
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Khá 88 12,9% 277 40,7%
Trung bình 352 51,8% 75 11,0%
Yếu 226 32,2% 18 2,6%
1 căn tin
2.4. Chức năng và nhiệm vụ của giáo viên phổ thông:
2.4.1. Chức năng và nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm:
Chức năng:
Giảng dạy: Giáo viên chủ nhiệm là cô dạy bộ môn văn hóa ở lớp.
Giáo dục : cùng giáo viên bộ môn và các cán bộ công nhân viên trong
trường, giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm chính trong việc hình
thành nhân cách của học sinh trong lớp.
Tổ chức quản lí, điều phối các hoạt động giáo dục trong lớp.
Cố vấn cho tập thể lớp, cho đoàn, đội trong lớp.
Nhiệm vụ:
Dạy và tổ chức các hoạt động học tập trong và ngoài giờ của học sinh.
Nắm vững kế hoạch giảng dạy, giáo dục, lao động, hướng nghiệp cùa
nhà trường để thực hiện trong lớp học.
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 14
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Làm trung tâm, hạt nhân trong việc xây dựng quan hệ thầy trò xã hội
chủ nghĩa.
Cố vấn cho học sinh xây dựng lớp học thành đơn vị tập thể XHCN mang
tính chất giáo dục toàn diện, phát huy khả năng tự giác, tự quản của học
sinh.
Hiểu rõ từng đối tượng học sinh trong lớp và có phương pháp giáo dục
thích hợp, nhất là với những học sinh đặc biệt.
Chỉ đạo trong việc kết hợp các lực lượng giáo dục.
Nhận định, đánh giá chính xá học sinh.
Chịu sự chỉ đạo thống nhất về công tác chủ nhiệm nhà trường.
2.4.2. Chức năng nhiệm vụ của giáo viên bộ môn:
Chức năng:
Giáo dục tư tưởng, đạo đức, xây dựng tập thể học sinh.
Giảng dạy, giảng lí thuyết, chữa bài tập, hướng dẫn thực hành, kiểm tra
học tập và đạt kết quả ngày càng tiến bộ. Luôn khiêm tốn và sẵn sáng
giúp bạn cùng học tập tiến bộ mạnh dạn đấu tranh chống thói lười biếng
ỷ lại, thiếu trung thực trong học tập.
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 15
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Tham gia đầy đủ và thực hiện tốt các buổi lao động, hoạt động hướng
nghiệp, học nghề. Có ý thức thực hành tiết kiệm. Quý trọng và bảo vệ tài
sản trung của nhà trường, của lớp học. Sẵn sàng tham gia lao động góp
phần xây dưng địa phương do nhà trường tổ chức.
Tích cực rèn luyện thân thể và tham gia các buổi luyện tập quân sự.
Luôn giữ vệ sinh cá nhân, giữ sạch đẹp trường lớp.
Có nhiều cố gắng rèn luyện nếp sống lành mạnh, có văn hoá, có kỷ luật.
Trung thực, đúng mức trong các quan hệ giao tiếp với các thầy giáo, cô
giáo, bạn bè, với gia đình va những người xung quanh.
Có ý thức thực hiện tốt pháp luật và cả các chính sách có liên quan đến
bản thân. Có thái độ rõ ràng ủng hộ cái đúng cái tốt, không đồng tình với
những biểu hiện sai trái trong trường và ngoài xã hội. Tích cực tham gia
các hoạt động xã hội do nhà trường tổt chức sẵn sàng giúp bạn, các em
nhỏ, những người già, những người tàn tật khi gặp khó khăn. Có ý thức
đoàn kết quốc tế, vì hoà bình và hữu nghị giữa cá dân tộc, lịch sự và
không có hành động, thái độ thiếu văn hoá với người nước ngoài.
ii. Loại khá:
Những học sinh đạt trên mức trung bình nhưng chưa đạt mức tốt trong việc
thực hiện các nhiệm vụ học sinh thể hiện qua các mặt: rèn luyện đạo đức, học
tập, rèn luyện thân thể, hoạt động xã hội,… hoặc trong các mặt trên có cac
mặt đạt loại tốt nhưng cũng có mặt khác chỉ đạt tới mức trung bình đều được
xếp hạnh kiểm loại khá. Những học sinh này có thể còn mắc những khuyết
điểm nhỏ, được góp ý kiên thì sửa chữa tương đối nhanh và không tái phạm.
iii. Loại trung bình:
Được xếp loại về trung bình về hạnh kiểm là những học sinh có ý thức thực
điểm đã quy định cho loại trung bình.
Những biểu hiện chính của loại yếu về hạnh kiểm này là:
Có hành động vô lễ, xúc phạm tương đối nghiêm trọng đến uy tín và
danh dự của thầy giáo, cô giáo ở trong hay ngoài nhà trường.
Qua lười học, được nhắc nhở nhiều lần nhưng không tiến bộ, nhiều lần
quay cóp hoặc có hành động thô bạo để được quay cóp trong giờ kiểm
tra.
Nhiều lần trốn lao động và hoạt động tập thể, tự tiện bỏ học nhiều tiết,
nhiều buổi.
Lấy cắp ở trong lớp, trong trường, hoặc tham gia vào lấy cắp tài sản
XHCN, tài sản của công dân.
Tham gia gây rối, đánh nhau làm mất trật tự trị an một cách tương đối
nghiêm trọng.
Có hành động xấu, thiếu văn hoá đối với phụ nữ, người già, người tàn
tật, các em nhỏ và người nước ngoài, được phê bình góp ý nhiều lần
nhưng sự tiếp thu và sự sửa chữa rất chậm.
Những học sinh bị kỷ luật cảnh cáo hoặc đuổi học một tuần ở học kỳ nào
thì sẽ bị xếp hạnh kiểm loại yếu ở học kỳ ấy.
v. Loại kém:
Học sinh có những biểu hiện sai trái nghiêm trọng và bị kỷ luật ở mức đuổi
học một năm đều hạnh kiểm loại kém.
2.7. Cách đánh giá và cho điểm, cách thức phân loại học lực của học sinh:
2.7.1. Việc đánh giá xếp loại học lực của học sinh:
Việc đánh giá xếp loại về hoạc lực của học sinh được thực hiện theo cách tính
điểm trung bình của tất cả các môn học.
2.7.1.1.Số lần kiểm tra và cách cho điểm:
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 17
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
Số lần kiểm tra định kì: được quy định trong phân phối chương trình của
từng môn học.
Nếu học sinh thiếu điểm kiểm tra miệng, phải được thay bằng điểm kiểm
tra viết 15 phút. Nếu thiếu điểm kiểm tra viết từ 1 tiết trở lên (theo phân
phối chương trình) phải được kiểm tra bù.
Ở những môn trong phân phối chương trình không quy định kiểm tra
viết từ 1 tiết trở lên, phải thay thế bằng kiểm tra viết 15 phút, cho đủ số lần
kiểm tra đã quy định.
Các loại điểm kiểm tra theo quy định trên sẽ thực hiện theo hướng cụ thể
thêm của từng bộ môn.
Hệ số các loại điểm kiểm tra:
∗ Kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút: Hệ số 1.
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 18
ĐTB
mHKI
+ ( ĐTB
mHKII
x 2 )
ĐTB
mcn
=
3
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
∗ Kiểm tra từ 1 tiết trở lên: Hệ số 2.
∗ Điểm kiểm tra hoc kì không tính hệ số mà tham gia trực tiếp vào
tính điểm trung bình môn theo hướng dẫn phần dưới.
Hệ số các môn học: Các môn Văn – Tiếng Việt và Toán của cấp II và
PTTH không chuyên ban được tính hệ số 2 khi tham gia tính điểm trung
bình học kì hoặc cả năm.
2.7.2. Cách tính điểm và tiêu chuẩn xếp loại về học lực:
2.7.2.1.Cách tính điểm:
Điểm trung bình môn học:
Loại trung bình: ĐTB các môn từ 5,0 trở kên đến 6,4;trong đó phải có ít
nhất 1 trong 2 môn Toán, Ngữ Văn và không có ĐTB môn nào bị dưới
3,5.
Loại yếu: ĐTB các môn từ 3,5 trở lên đến 4,9 không có ĐTB môn nào
bị dưới 2,0.
Loại kém: Những trường hợp còn lại.
Điều chỉnh xếp loại học lực: Nếu do điểm trung bình của 1 môn quá kém
làm cho học sinh bị xếp loại học lực xuống 2 bậc trở lên thì học sinh
được chiếu cố chỉ hạ xuống một bậc.
2.7.2.3.Sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại:
i. Sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại để xét cho học sinh lên lớp:
Cho lên thẳng những học sinh có đủ các điều kiện sau:
Nghỉ học không quá 45 ngày trong 1 năm học.
Được xếp loại học lực và hạnh kiểm cả năm từ trung bình trở lên.
Cho ở lại lớp: Cho ở lại lớp hẳn những học sinh phạm vào 1 trong
những điều kiện sau:
Nghỉ học quá 45 ngày trong 1 năm học.
Có học lực cả năm xếp loại kém.
Có hạnh kiểm và học lực cả năm xếp loại yếu.
Thi lại các môn học và rèn luyện thêm trong hè về hạnh kiểm:
Những học sinh không thuộc diện ở lại lớp hẳn được nhà trường xét
cho thi lại các môn học hoặc rèn luyện thêm trong hè về hạnh kiểm để
được xét cho lên lớp vào sau hè. Nhà trường chịu trách nhiệm tổ chức
cho học sinh thi lại và rèn luyện thêm về hạnh kiểm.
Thi lại các môn học:
∗ Học sinh xếp loại yếu về học lực được phép lựa chọn đề thi lại các
môn có điểm trung bình cả năm dưới 5.0 sao cho sau khi thi lại có
đủ điều kiện lên lớp.
∗ Điểm bài thi lại của môn nào được dùng để thay thế cho điểm trung
bình môn cả năm của môn đó khi tính lại điểm trung bình các môn
Sinh hoạt ngoại khóa.
3. NHỮNG BÀI HỌC SƯ PHẠM:
Được làm giáo viên đó là ước mơ từ ngày nhỏ của tôi , theo năm tháng ước mơ
ấy càng lớn dần. Và hiện nay khi được đứng ở vị trí của một người thầy tuy chỉ mới
là người thầy thực tập nhưng tôi vô cùng hãnh diện vì ước mơ ấy đang dần trở thành
hiện thực. Lần đầu tiên đến với trường THPT với những giáo sinh thực tập luôn là một
thử thách rất lớn đồng thời đó cũng là một cơ hội. Có thể xem đó là một bước tập
dượt, làm quen dần với những công việc thực tế của một giáo viên trong tương lai để
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 21
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
khi thực sự bước vào nghề không còn lúng túng và nhiều bỡ ngỡ. Tuy nhiên đợt thực
tập sư phạm kỳ I cũng là một thử thách rất lớn và đòi hỏi mỗi sinh viên phải thích
nghi với môi trường giáo dục thực tế, biết áp dụng những lý thuyết đã được học một
cách linh hoạt và phù hợp để đạt kết quả tốt nhất để thực hiện được những yêu cầu đó
đòi hỏi nổ lực rất lớn từ những sinh viên mới có thể vượt qua. Mỗi sinh viên thông
qua đợt thực tập sẽ phải đầu tư suy nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn, năng động
hơn, nhiệt tình hơn, rèn luyện khả năng làm việc nhóm cũng như khả năng truyền đạt
trước học sinh tốt hơn, trau dồi chuyên môn, năng lực phẩm chất của mình. Dù chỉ là
1 tháng thực tập ngắn ngủi nhưng chúng tôi được học hỏi rất nhiều điều bổ ích và có
thêm nhiều bài học kinh nghiệm trong công tác giảng dạy cũng như trong công tác chủ
nhiệm. Đó sẽ là hành trang mà chúng tôi mang theo khi ra trường, và mãi sau này, khi
trở thành những thầy cô giáo trong tương lai.
3.1. Bài học kinh nghiêm trong công tác giảng dạy bộ môn Toán
Khi còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường sư phạm, được các thầy cô
trao dồi cho các kiến thức liên quan đến bộ môn mình giảng dạy, em luôn nghĩ
rằng nghề nhà giáo là một nghề nhàn nhã và thanh cao. Nhưng giờ đây khi phải
đối mặt với thực tế tại trường phổ thông, em mới cảm nhận hết được rằng nghề
nhà giáo thật không phải dễ chút nào.
Riêng đối với chính bộ môn của mình thì việc giảng dạy nó thành công không
phải là điều đơn giản. Một bộ môn mang hơi thở của màu sắc kinh tế, của những
quyết các vấn đề, bài toán được đặt ra.
Với nội dung bài học mang tính chất trọng tâm, thầy giảng dạy lại một cách kỹ
càng hơn và điều quan trọng là đi từ thực tế cuộc sống chứ không mang tính sách
vở, giáo đỡ.
Điều quan trọng của người giáo viên khi đứng lớp là phải nắm được nội dung
bài giảng thông qua việc soạn giáo án và truyền đạt cho học sinh một cách có
khoa học. Giáo án chính là cái cốt lõi của quá trình dạy học nên soạn giáo án kỹ
là nắm chắc cơ hội thành công.
Trong quá trình dạy người giáo viên phải tập trung sự chú ý nơi học sinh, nhìn
học sinh và điều khiển học sinh đồng thời phải bao quát lớp.
Cách trình bày bảng được thầy hướng dẫn rất kỹ càng sao cho phù hợp và
mang tính thẫm mỹ cao.
Cách sử dụng lời nói trong dạy học là rất quan trọng. Bên cạnh giọng nói to, rõ
ràng phải có ngữ điệu để dễ dàng cho học sinh tiếp thu hơn. Không nên nói quá
tập trung vào một vấn đề mà phải biết vận dụng cho phù hợp.
Việc vận dụng phương pháp dạy học ứng dụng công nghệ thông tin phải đảm
bảo yêu cầu như tính khoa học, phối màu hợp lý, hình ảnh rõ nét và bài giảng
phải sinh động. Đòi hỏi người giáo viên phải luôn tìm tòi các kiến thức cập nhật
cho bài giảng.
Khi tổng kết bài học, giáo viên đưa ra những câu hỏi mang tính chất ứng dụng
và kiểm tra nhanh học sinh, để học sinh nắm bài ngay tại lớp.
Trong các trường hợp bài giảng tiến hành kết thúc sớm hơn hoặc trễ hơn thì
vận dụng sử lý tình huống sư phạm để bài giảng có tính khoa học và hiệu quả
hơn.
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 23
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
3.2. Bài học kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm.
-Trước hết cần tìm hiểu thông tin về các em, những đặc điểm cơ bản của riêng
mỗi em thì nên ghi nhớ: ví dụ như về hoàn cảnh gia đình của em nào khó khăn,
hoặc mồ côi cha mẹ, hay những em nào thường xuyên đi học muộn, thường
- Hằng ngày đến lớp vào 15 phút đầu giờ và 25 phút ra chơi giữa giờ để nhắc
nhở đôn đốc các em trực lớp, về các vấn đề học tập, kỷ luật. Đồng thời chia tổ
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 24
Thu hoạch tìm hiểu thực tế giáo duc GVHD: Nguyễn Văn Tâm
phụ trách để tìm tìm hiểu, trò chuyện với các em học sinh cá biệt, tìm hiểu
nguyên nhân và giải pháp hướng các em đi vào nề nếp và học tập tốt hơn. Khi có
cơ hội cũng cần nên tìm hiểu các em thông qua gia đình của các em.
Như vậy dù chỉ 1 tháng thực tập ngắn ngủi nhưng có thể rút ra những bài học
kinh nghiệm quý báu từ cô giáo hướng dẫn và chỉ khi tiếp xúc môi trường sư
phạm trên thực tế, với học sinh mới hiểu được.
=> Nhìn chung công tác chủ nhiệm là một công việc vô cùng phức tạp, khó
khăn, mất rất nhiều thời gian và công sức nên đòi hỏi người giáo viên phải hết
sức kiên trì, chủ động và khéo léo để giải quyết công việc một cách nhanh gọn,
đúng đắn và hợp lý, không làm ảnh hưởng đến nề nếp, kỷ cương của nhà trường.
Nhận xét của GVHD :
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
Thầy Nguyễn Văn Tâm
SVTH: Đặng Minh Nhựt Trang 25