Tài liệu Báo cáo thực tập tốt nghiệp - Công ty xi măng Bím Sơn - Pdf 97

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

1
PHẦN II
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XI MĂNG BỈM SƠN
Công ty xi măng Bỉm Sơn trụ sở tại thị xã Bỉm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hoá nằm
trên diện tích 50ha cách quốc lộ 1A 3Km về phía tây , cách Hà Nội 120Km về phía
nam, cách thành phố Thanh Hoá 34Km về phía bắc, có vị trí địa lý nằm kề bên dãy
núi đá vôi được bao bọc bởi vùng đất thạch sét do vậy rất thuận lợi cho việc khai
thác nguyên liệu. Với vị trí
địa lý như vậy rất thuận lợi về giao thông vận tải đường
bộ cũng như đường sắt, tuy nhiên lại hạn chế về giao thông đường thuỷ, hệ thống
đường sắt trong công ty có tổng chiều dài là 13Km trong đó có đường sắt nối với ga
Bỉm Sơn có chiều dài 4Km. Được sử dụng là nơi luân chuyển hàng hoá vật tư,
nguyên nhiên liệu cho công ty, hệ thống đường bộ được làm bằng bê tông và th
ảm
nhựa để vận chuyển đất đá, sản phẩm đi tiêu thụ.
Công ty xi măng Bỉm Sơn được khởi công xây dựng từ năm 1976 do Liên Xô
(cũ) thiết kế và giúp đỡ xây dựng với dây chuyền công nghệ sản suất xi măng bằng
phương pháp ướt và năm 1983 nhà máy đã đi vào hoạt động với công suất thiết kế
1.200.000T/năm. Dây chuyền sản suất được thiết k
ế và lắp đặt trang thiết bị hiện
đại, có đội ngũ cán bộ kỹ sư và công nhân lành nghề đáp ứng được yêu cầu sản suất
và kinh doanh cho ra đời những sản phẩm đạt chất lượng cao trên thị trường trong
nước và quốc tế, đã tham gia xây dựng các công trình trọng điểm của nhà nước như
cầu Thăng Long, thuỷ điện Hoà Bình …Hiện nay công ty xi măng Bỉm Sơn đang
đầu tư cải tạo hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, chuyển sản suất xi măng từ
phương pháp ướt sang phương pháp khô, bước đầu nâng sản lượng giai đoạn đầu

Xi măng rời

Công nghệ sản xuất xi măng gồm 3 giai đoạn:

Quy trình SX
Chuẩn bị phôi
(đávôi,đấtsét,than,
thạch cao )
Đồng nhất

Nung luyện
Nghiền clinker và phụ
gia thành xi măng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

3 Khâu chẩn bị
Đá vôi, đất sét
Phụ gia
Đập
Nghiền nguyên liệu
Lò nung
Đồng nhất bột liệu
Nghiền than
Clinker
Xi Măng rời
Nghiền thạch cao,phụ gia, Clinker
Thạch cao, phụ gia


- Cồng kềnh khó lắp đặt
- Tốn nhiều nhân công.
- Khả năng tự động hoá kém.
* Công nghệ sản xuất xi măng theo phương pháp khô.
Phương pháp này sử dụng cho trường hợp độ ẩm nguyên liệu thiên nhiên
8÷10%, nguyên liệu được chế biến thành hỗn hợp khô có độ ẩm từ 5÷7% và đem
nung. Nguyên liệu phải qua giai đoạn sấy khô và đem nghiền, nếu độ ẩm nguyên
liệu thấp thì phải dùng thiết bị vừa nghiền vừa sấy.
Ưu điểm chính của phương pháp khô là tiết kiệm được nhiều nhiên liệu.
Nhược điểm của phương pháp khô:
- Hỗn hợp không được đồng nhất.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

5
- Phải đặt thêm một số thiết bị sấy.
- Tổn thất vì bay bụi nhiều, vệ sinh công nghiệp kém.
- Điều kiện lao động vất vã hơn.
Do thời gian có hạn nên em mới tìm hiểu về công nghệ sản xuất xi măng theo
phương pháp khô. Dây truyền sản xuất chính của công ty xi măng Bỉm Sơn gồm
các mã hoá quá trình công nghệ của các thiét bị cơ khí như sau:
G21: Vào kho nguyên liệu (sét)
G24: nghiền liệu thô
G25: Đồng nh
ất bột liệu và chứa
G31: cấp bột liệu cho lò nung

G32: tiền nung
G33: nung clinker
G35: nghiền than và cấp than cho lò
G36: xử lý khí thải

+ Thạch cao.
Dùng làm phụ gia điều chỉnh tốc độ đóng rắn của xi măng. Thạch cao có kích
thước không quá 500mm được đập qua máy đập búa CMD 102 đến kích thước
không quá 25mm và đưa vào kho chứa.
+ Phụ gia cho xi măng.
- Phụ gia ho
ạt tính: Đá Bazan (Phủ quỳ -Quỳnh Thắng - Nghệ an; Nông cống -
Hà Trung - Thanh Hoá )
- Phụ gia trơ: Đá đen Tam Điệp
II/ Kho chứa nguyên liệu thô

Đất sét được phân chia rại điểm tiếp liệu với kho chứa đất sét hiện có bằng
van 2 ngả (21.07-2ZV211) hoạt động bằng động cơ lắp mới. Một hướng dẫn tới kho
sét hiện có và một hướng dẫn tới kho sét mới. Thông thường vị trí của van 2 ngả mở
về phía kho sét hiện có. Khi nhân viên vận hành trung tâm khởi động nhóm vận
chuyển sét và nhóm máy đánh đống sét từ CCR, máy đánh đống và các bă
ng tải sẽ
khởi động trình tự và sau đó van 2 ngả sẽ tự động chuyển về hướng kho sét mới.
Khi nhóm bị dừng bởi nhân viên vận hành trung tâm, van 2 ngả sẽ tự động chuyển
về vị trí kho sét hiện có .
Một tín hiệu liên động truyền tới phòng điều khiển của trạm đập sét hiện có
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

7
từ phòng điều khiển trung tâm thông qua hộp đấu dây mới của van 2 ngả. Khi van 2
ngả không trở lại vị trí kho sét hiện có và băng tải mới 21.01-1 bị dừng , băng tải sét
hiện có và máy đập sẽ dừng vì tín hiệu liên động. Các tín hiệu công tắc giới hạn vị
trí của van 2 ngả cũng sẽ được truyền tới phòng điều khiển máy đập hiện có .
Một máy dải sét và một máy cào sét được trang b
ị cho việc đồng nhất sơ bộ

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

8
nóng để sấy liệu trong máy nghiền, một nguồn khí nóng từ lò đốt khí nóng lắp đặt
mới sẽ cung cấp khí nóng để sấy liệu.
3. Cấp liệu máy nghiền .
Để định lượng nguyên liệu cấp cho máy nghiền, Ba phễu dùng để chứa đá vôi
và hai phễu chứa phụ gia hiện có được sử dụng lại. Thông thường chỉ sử dụng một
phễu đá vôi nên nhân viên vận hành lựa chọn mộ
t trong ba phễu trước khi khởi
động nhóm cấp liệu. Một thùng mới bằng thép được trang bị để chứa sét. Ba cân
băng định lượng đá vôi, một cấp liệu tấm cùng với cân băng sét, hai cân băng phụ
gia, tất cả đều lắp đạt mới để định lượng cho máy nghiền liệu.
4. Vận chuyển nguyên liệu.
Do cân băng định lượng sét đặt xa các cân băng đá vôi và cân băng phụ gia,
nên thờ
i gian trễ khởi động sẽ được cân nhắc đối với cân trọng lượng sét. Trường
hợp bình thường, vào thời điểm khởi động, nguyên liệu không được để sót lại trên
băng tải đá vôi, cân định lượng đá vôi, phụ gia. Sau khoảng thời gian trễ, cân băng
khởi động sét sẽ vận chuyển tiếp theo. Khi dừng bình thường các cân sẽ dừng và
sau khoảng thời gian trễ cân định lượng s
ẽ dừng, máy nghiền liệu dừng.
IV/ Đồng nhất bột liệu và chứa.

Bột liệu được thu nhận bằng các cyclon chất lượng cao (24.23) và được vận
chuyển bằng các máng khí động tới silô bột liệu (25.03) bằng gầu nâng (24.35) hoặc
(31.15). Nhân viên vận hành CCR chọn tuyến vận chuyển trước khi khởi động
nhóm vận chuyển. Các thiết bị lọc bụi túi được lắp đặt cho các máng khí động và
các gầu nâng. Bột liệu sẽ được phân bố đều ở trong silô bằng hệ thống cấ
p liệu kiểu

n nung được tự động điều chỉnh theo
điểm đặt về lưu tốc tại CCR và giá trị đo được ở lưu tốc kế (31.10) bằng cách điều
chỉnh độ mở của cổng điều khiển lưu lượng (ZCV2101).
Một tuyến dự phòng của hệ thống cân cấp liệu lò gồm một cấp liệu khí nén
với cổng điề
u khiển lưu lượng (ZCV3102) và một van cổng đóng khẩn cấp (31.11-
2). Việc chọn tuyến tính hoặc tuyến dự phòng được nhân viên vận hành chọn trước
khi khởi động nhóm cấp liệu. Khi tuyến dự phòng được chọn trong trường hợp khẩn
cấp, độ mở theo phần trăm của van cổng điều khiển lưu lượng được đóng mở theo
phần trăm và điều ch
ỉnh từ CCR.
+Vận chuyển liệu đến tháp tiền nung .
Bột liệu đã được cân để dẫn tới lò nung sẽ được chuyển đến tháp tiền nung
bằng băng tải gầu (31.14) và máng khí động (31.12 và 31.16). Băng tải gầu (31.15)
được cung cấp làm dự phòng nhưng băng tải này cũng có thể được sử dụng để tuần
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

10
hoàn bột liệu tới silô bằng van 2 ngả (31.15b/ ZV3121) đặt tại đầu ra của băng tải
gầu. Việc chọn băng tải gầu và chọn tuyến tuần hoàn sẽ được nhân viên CCR thực
hiện trước khi khởi động nhóm này.
VI/ Tiền nung.

Bột liệu sau khi cân được chuyển vào tháp tiền nung (31.01) năm tầng thông
qua cấp liệu kín khí (31.18). các cyclone trên cùng thuộc loại thu gom hiệu quả cao
để làm giảm tổng số bột liệu xoáy tuần hoàn bên ngoài.
Để cung cấp than bột Antharcite tới tháp tiền nung cần có đủ thể tích. Trong
tháp tiền nung bộ đánh lửa mồi được đặt tại cửa vào của khí gió ba và việc đốt cháy
sẽ được thực hiện trong vùng có nhiệt độ cao sau khi pha trộn khí thải lò và khí gió
ba. Van điều tiết điều khiển lưu lượng (32.01- 1) được lắp đặt trên đường ống khí

thế bộ phân ly động, cyclone kép, quạt lọc bụi EP và thiết bị lọc bụi tĩnh điện EP.
Hệ thống vận chuyển than thô hiện hành tới bunke được sử dụng lạ
i như hiện có, và
bunke than hiện hành cũng được sử dụng.
Than thô được chuyển đến máy nghiền than (35.30) bằng hệ thống tiếp liệu đĩa
(35.33) được lắp đặt dưới bunke than hiện có, các động cơ của các tiếp liệu đĩa
được thay thế bằng các động cơ mới. Than nghiền được đưa lên phân ly động
(35.31) nhờ không khí nóng, than thô còn lại sau khi phân ly sẽ được quay trở lại
máy nghiền và được cân bởi mộ
t lưu tốc kế(35.34).
Thiết bị truyền động nghiền than hiện hành (800kw) được điều hành từ CCR, bộ
phận bôi trơn dầu hiện hành (35.30-11 và 12) cho ổ đỡ máy nghiền được vận hành
theo phương pháp cũ hiện có. Các phần than nghiền mịn được thu gom bằng cylone
kép (35.32), được chuyển đi bằng van quay (35.01) và vít tải (35.02) tới két chứa
than mới 120m
3
có trang bị tế bào cân. Khí nóng cuối cùng được cung cấp bởi quạt
(35.45) và lưu lượng gió được điều chỉnh bằng độ mở của van trên đường ống quạt
hút máy nghiền (35.45-1). Tốc độ quay của bộ phân ly động được điều chỉnh từ
CCR. Khí nóng cuối cùng được khử bằng lọc bụi tĩnh điện (35.40) và khí sạch xả ra
môi trường. Than mịn cũng được thu bằng lọc b
ụi tĩnh điện và được chuyển đến két
than mới (35.03).
IX/ Đốt than

Cân trọng lượng than cho vòi đốt lò nung (35.06) và cho các vòi đốt ở tháp tiền
nung (35.09) được cung cấp từ két than (35.03). Than mịn đã cân được chuyển đến
từng vòi đốt bằng khí nén tạo ra từ các quạt thổi chân đế (35.07, 35.10-1, 35.10-2):
một cho lò nung (37.07), một cho tiền nung (35.10-1), một để dự phòng
chung(35.10-2).

cao(44.04-2). Băng tải này không được điều hành từ CCR. Clinker và bazan được
tháo ra từ các silô hiện có (silô số 5,6,7) sau đó được cân bởi các băng cân (44.01-1,
44.01-2, 44.02). Thạch cao được tháo ra từ bunke lắp mới (44.04-2) và được cân
băng định lượng (44.04-1). Tất cả các băng cân định lượng được dặt tỷ lệ tự động
theo t
ỷ số đã được chọn bằng tay do thao tác viên CCR. Tất cả nguyên liệu được
chuyển bằng các băng tải (44.05 và 44.06) từ các cân băng đến máy nghiền xi măng
(44.07).
+ Nghiền xi măng.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

13
Máy nghiền liệu số 2 được chuyển thành máy nghiền xi măng trong mạch vòng
kín. Các tấm lót và bi của máy nghiền được thay thế bằng các loại mới phù hợp cho
việc nghiền clinker, thạch cao và bazan. Hệ truyền động của máy nghiền hiện hành
3150kw được sử dụng như cũ. Bộ phân ly động (44.14) được dùng để phân loại vật
liệu đã nghiền và các hạt quá cỡ được đẩy ra và quay trở lại máy nghiền.
Tố
c độ nạp liệu mới từ các cân băng được tự động điều khiển theo điểm đặt và
lưu lượng nguyên liệu quá cỡ sau phân ly. Thiết bị đo âm thanh cho máy nghiền
được trang bị để giám sát trạng thái bên trong của máy nghiền.
Tốc độ quay của thiết bị phân ly động có thể điều chỉnh từ xa do nhân viên vận
hành CCR theo số liệu của phòng thí nghiệm về độ mịn củ
a xi măng sản phẩm.
Máy nghiền xi măng hiện hành được điều khiển từ CCR. Các thiết bị phụ trợ
cho máy nghiền hiện có được sử dụng lại như cũ:
- Bộ phận dầu bôn trơn cho hộp giảm tốc chính
- Bộ phận dầu bôn trơn cho ổ đỡ máy nghiền, ổ đỡ trục động cơ.
- Quạt làm mát cho động cơ
máy nghiền.

XVI/ Các phân xưởng phụ trợ

Bên cạnh các phân xưởng trực tiếp tham gia vào dây truyền công nghệ sản xuất
còn có các phân xươngr phụ trợ có nhiệm vụ bổ trợ cùng với các phân xưởng chính
nhằm đưa dây truyền sản xuất đựoc liên tục và giải phóng mọi sự cố nhanh nhất,
đáp ứng với yêu cầu của chất lượng.
Các phân xưởng phụ trợ bao gồm :
- Xưởng sửa chữa cơ khí, gia công chế tạo
- Xưởng c
ấp thoát nước, nén khí
- Xưởng sửa chữa công trình
- Xưởng sửa chữa thiết bị
- Xưởng điện tự động
- Phòng thí nghiệm KCS

CHƯƠNG II

CƠ CẤU TỔ CHỨC - QUẢN LÝ SẢN XUẤT
CỦA CÔNG TY XI MĂNG BỈM SƠN
Công ty xi măng Bỉm Sơn là đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng với công xuất
lớn, với trang thiết bị hiện đại và được phân bố thành nhiều phân xưởng, nhiều
phòng ban, địa bàn đặt máy móc vật tư rộng, địa bàn phân phối tiêu thụ sản phẩm
rộng lớn, độ
i ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân đông đảo nhằm đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh của công ty .
Báo cáo thực tập tốt nghiệp


ụ máy móc thiết bị phục vụ cho việc khai thác đá vôi, đá
sét tại các mỏ nằm cách nhà máy 3÷10Km
- Xưởng ô tô: gồm các loại ô tô có trọng tải lớn vận chuyển liẹu vè công ty.
- Xưởng tạo nguyên liệu: gồm các máy đập, máy nghiền và các thiết bị phụ trợ
khác để nghiền dá vôi, sét, tạo hỗn hợp dưới dạng bùn( cho dây truyền ướt) đồng
nhất liệu ( cho dây truyền khô).
- Xưởng lò nung: phụ trách các hoạt độ
ng cho 2 lò nung hỗn hợp tạo thành clinker.
- Xưởng nghiền xi măng: thiết bị chính là máy nghiên xi măng chuyên dụng và các
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

16
thiết bị chuyên dùng khác.
- Xưởng đóng bao: xi măng sau nghiền đưa về két chứa và đóng bao để đưa đi tiêu
thụ.
* Khối sán xuất phụ: gồm các xưởng sửa chữa thiết bị, xưởng sửa chữa công trình,
xưởng điện tự động, xưởng cấp thoát nước - nén khí, xưởng cơ khí. Các xưởng này
có nhiệm vụ cung cấp lao động phục vụ cho sản xuất chính.
* Nhiệm vụ c
ủa một số phòng ban chủ yếu:
- Phòng cơ khí: có nhiệm vụ theo dõi tình hình hoạt động của thiết bị và sửa chữa
khi nó bị hư hỏng, chế tạo thiết bị thay thế.
- Phòng kỹ thuật sản suất: theo dõi điều độ sản xuất, các phân xưởng sản xuất
chính và phụ, theo dõi kiểm tra chất lượng sản phẩm.
- Phòng năng lượng:có nhiệm vụ theo dõi tính hình liên quan đến việc cung cấp
năng lượng cho sản xuất.
- Phòng kế toán tài chính: có nhiệm vụ giám sát bằng tiền đối với các tài sản và
các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Phòng vật tư thiết bị cung ứng vật tư , máy móc thiết bị sản xuất.
- Phòng kế hoạch: lập và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và tiêu

Sơn.
Trong một khoảng thời gian thực tập tại công ty xi măng Bỉm Sơn. Nằm trong
nội dung chương trình thực tập, em đã được thực tập tại công ty xi măng Bỉm Sơn.
Nằm trong nội dung chương trình thực tập, em đã được thực tập ở phòng năng
lượng đi xuống các trạm điện 110 kv, 6 kv và các trạm biến áp phân xưởng của
công ty để tìm hiểu m
ạng điện cung cấp cho nhà máy. Nội dung của hệ thống cung
cấp điện như sau:
HỆ THỐNG CUNG CẤP ĐIỆN CỦA CÔNG TY XI MĂNG BỈM SƠN
Công ty xi măng Bỉm Sơn được xếp vào phụ tải loại I, do tính chất quan
trọng của công ty nên 2 đường dây đi từ nguồn điện hệ thống đến được lấy từ 2 lộ :
Lộ Thanh Hoá (171 A37) và lộ Ninh Bình (174 A37). Nhưng công ty th
ường dùng
nguồn từ Ninh Bình, nhuồn từ Thanh Hoá chỉ làm dự phòng khi có sự cố từ 174
A37 .
Nguồn 110KV từ hệ thống về qua TBATG được hạ xuống điện áp 6KV để
cung cấp cho các trạm biến áp phân xưởng . Nhờ vậy sẽ giảm được vốn đầu tư cho
mạng điện cao áp trong nhà máy cũng như các trạm biến áp phân xưởng, vận hành
dễ dàng, độ tin cậy cung cấp điệ
n được cải thiện. Vì công ty thuộc hộ loại I nên
trạm biến áp trung gian phải đặt 2 máy biến áp 1T, 2T với công suất 40.000
KVAcho mỗi máy .
Do tính chất quan trọng của hộ loại I nên hệ thống gồm 2 đường dây cung
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

18
cấp cho 2 thanh góp có phân đoạn , liên lạc giữa 2 phân đoạn của một thanh góp
bằng máy cắt hợp bộ . Trên mỗi phân đoạn của thanh góp đặt một máy biến áp đo
lường 3 pha 5 trụ có cuộn tam giác hở báo trạm đất 1 pha trên cáp 6KV, và (TU.1T;
TU.2T) báo trạm đất 1 pha trên cáp 110KV. Để chống sét từ đường day truyền vào


CHƯƠNG IV

TÌM HIỂU HỆ TRUYỀN ĐỘNG CẦU TRỤC GIẢI LIỆU
I-Giới thiệu chung và kết cấu của cầu trục:

Báo cáo thực tập tốt nghiệp

19
1- Khái niệm về cầu trục
Cầu trục là thiết bị dùng để bốc rỡ và di chuyển nguyên vật liệu , hàng hoá với
khối lượng lớn.
Trong sản suất để vận chuyển và bốc dỡ nguyên vật liệu người ta dùng hệ thống
cầu trục. Cầu trục là cầu nối giữa các hạng mục công trình sản suất riêng biệt, giữa
các phân xưởng trong một nhà máy, vận chuyển và bốc dỡ hàng ho từ nơi này đế
n
nơi khác
Hệ thống câu trục có thể làm việc trong các môi trường độc hại (bụi bặm, ẩm ướt,
nhiệt độ cao,ô nhiễm ),có thể bốc dỡ và vận chuyển một khối lượng rất lớn trong
thời gian ngắn là những việc mà chân tay con người không thể làm đuợc. Như vậy
sử dụng cầu trục trong các hạng mục công trình sẽ làm tăng tiến độ thi công, làm
giảm b
ớt nhân công và mang lại hiệu quả kinh tế to lớn trong SX .
2-Kết cấu của cầu trục.

Cầu trục gồm 3 phần tử cơ bản.
- Xe cầu .
- Xe con.
- Thiết bị nâng hạ.
Xe cầu di chuyển dọc theo phân xưởng.

+ Hệ thống điều khiển gồm 4 tủ điều khiển các động cơ không đồng bộ 3 pha rôto
dây quấn sử dụng phương pháp đóng mở các nấc điện trở bằng cách đóng cắt các
tiếp điểm, để khởi động , đảo chiều quay và điều chỉnh tốc độ động cơ. Động cơ
nâng –hạ
gàu dùng động cơ có công suất 100KW, để đóng mở gàu sử dụng loại
động cơ có công suất 100 KW dùng hệ điều tốc phân cấp gồm 5 cấp tốc độ, tạo ra
sự mềm dẻo và chính xác cho 2 động cơ này mà khi vận hành vẫn đảm bảo được
năng suất. Để di chuyển xe lớn sử dụng 2 động cơ có công suất 22KW và xe con
dùng 1 động cơ có công suất 7,5 Kw cũngdùng hệ điề
u tốc phân cấp nhưng trong
quá trình làm việc 2 loại động cơ này làm việc độc lập với nhau và độc lập các
chuyển động khác nên chỉ cần điều chỉnh tốc độ theo 3 cấp nhằm giảm thao tác cho
người vận hành và yêu cầu di chuyển với gia tốc không cao.
+ Hệ thống tay gạt sử dụng hệ cam - tiếp điểm với nguồn điện 1 chiều đảm bảo
an toàn cho ngườ
i ,tối giản hoàn toàn đánh lửa ở tiếp điểm gây sai lệch và làm
giảm tuổi thọ của hệ thống tay gạt cũng như thiết bị liên quan.
+ Phần cung cấp điện cho mạch động lực dùng nguồn 3 pha 380/220V. Hệ thống
điều khiển được nuôi bằng nguồn điện áp 1 pha 220 V cách ly . Nguốn ra tay gạt
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

21
dùng nguồn 1 chiều 24V và đưa về bộ VXL trung tâm. Ngoài ra còn 1 nguồn 1
chiều 24 V khác với công suất lớn dùng để đóng mở các tiếp điểm.
III.Các yêu cầu của cầu trục 20 tấn trong phân xưởng nguyên liệu nhà máy xi
măng Bỉm Sơn.
Chế độ làm việc của các cơ cầu trục được xác định từ các yêu cầu của quá trình
công nghệ , chức năng của cầu trục trong dây chuyền sản xuất. Từ đó mà ta xác
định được các yêu cầu công nghệ và điều khiển của hệ thống cầu trục truyền động .
Cầu trục trong phân xưởng nguyên luyện phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật

-Trên bộ phận nâng có công tắc hạn vị ở cuối hành trình lên.
-Trên bộ phận di chuyển ngang cần hạn ché hành trình cả 2 hướng ở cuối 2 hành
trình.
Đối với xe con chạy trên xe lớn phải dùng công tắc hành trình để cắt nguồn điệ
n
của xe nhỏ đểhạn chế sự chuyển động của cơ cấu.
Sơ đồ đấu dây của công tắc hành trình phải được thiết kế sao cho khi bất kỳ 1v
công tắc hành trình nào mà làm việc thì bộ phận chuyển động có khả năng chuyển
động ngược chiều chuyển động vừa rồi.
Công tắc hạn vị có thể lắp ở mạch động lực hoặc m
ạch điệnkhống chế, nhưng
phải có khả năng cắt được nguồn điện.
b)Thiết bị bảo vệ.
Hệ thống cầu trục phải có thiết bị bảo vệ, các thiết bị bảo vệ phải đảm bảo độ tin
cậy, làm việc chắc chắn, chính xác. Những rơle điện hoặc dây chảy cầu trì dùng để
bả
o vệ dòng điện quá tải, ngắn mạch.công dụng của các thiết bị là cắet nguồn điểna
khỏi hệ thống mỗi khi xảy ra sự cốngắn mạch hoặc dòng điện quá tải trong thờigian
lâu. Không nên dùng rơle nhiệt để bảo vệđộng cơ cầu trục quá tải bởi vì những
động cơ của cầu trục làm việc ở chế độ ngắn h
ạn lặp lại do đó không thể đạy tới trị
số quá tải trong phạm vi bảo vệ của rơ le nhiệt .
Ngoài những thiết bị bảo vệ dòng điện, cầu trục còn phhải bảo vệ mất áp (điện áp
không).
c)Buồng lái .
Buồng lái của cầu trục là nơi con người điều khiển các quá trình làm việc của hệ
thống cầu trục. Do đ
ó phải có hệ thống bảo vệ an toàn tuyệt đối ngay cả khi xảy ra
sự cố , cháy nổ. Nền của buồng lái được lót cao xu để đề phòng cho người lái khỏi
bị điện giật bất ngờ .

h)Những yêu cầu khác.
Điện áp của nguồn của cầu trục không nên quá 500V. Tuy nhiên cũng có thể
dùng được điện áp cao hơn nhưng phải đảm bảo độ an toàn tin cậy và tính kinh tế
cao.
Tất cả thiết bị lắp ráp trên cầu trục phải thật chắc chắn chịu đựng được độ rung
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

24
lớn và được bố chí vào những nơi thích hợp. Nếu thiết bị ngoái trời phải có màng
lưới bảo vệ để đề phòng mưa làm hỏng.
Khoảng cách giữa các bộ phận cầu trục với hệ thống dây dẫn phải đảm bảo an
toàn ( >=50mm )

IV.Hệ truyền động dùng trong càu trục.

1)Động cơ truyền động
.
Để đạt hiệu quả kinh tế cao , đạt yêu cầu về đặc tính khởi động cũng như đặc tính
điều chỉnh. Động cơ truyền động sử dụng các động cơ không đồng bộ rôto dây
quấn.
Hệ thống cầu trục sử dụng động cơ không đồng bộ rôto dây quấn nên việc khởi
động và điều chỉnh tốc độ dựa trên nguyên tắ
c thay đổi điện trở vủa rôto. Mỗi cấp
điện trở của rôto ta có một tốc độ và đặc tính cơ tương ứng .
*) Sơ đồ nguyên lý khi khởi động
n
R
R1
R
R3>R2>
R1>R0
M
Báo cáo thực tập tốt nghiệp

25
Phối hợp đặc tính cơ của động cơ và đặc tính cơ của tải, ta nhận được các điểm
làm việc tương ứng với vận tốc và mômen tại cấp tốc độ đó.
Trong quá trình mở máy động cơ không đồng bộ rôto dây quấn thì mômen mở
máy là đặc tính chủ yếu nhất trong những đặc tính mở máy của động cơ. Muốn mở
máy đượ
c thì mômen mở máy cuả động cơ phải lớn hơn mômen tải tĩnh và mômen
ma sát tĩnh.
Phương trình cân bằng động của mômen như sau:
M-M
c
=M

ngược lại những máy có quán tính càng lớn thì thời gian mở máy càng lâu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status