Tài liệu LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU - Pdf 97



1
MỞ ĐẦU

Đường lối chính sách Đại hội Đảng toàn quốc Việt Nam lần thứ VI phân tích
nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội , định hướng đúng đắn ,đề ra
đường lối đổi mới cho nền kinh tế nước ta là thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế
sang cơ chế thị trường, các lĩnh vực sản xuất xã hội như công nghiệp dịch vụ, nông
nghiệp, dịch vụ
ngày càng phát triển và đặc biệt tính chất sản xuất hàng hoá ngày
càng cao.Góp phần quan trọng trong thành tựu chung của đất nước hoạt động xuất
nhập khẩu của Việt Nam đã giải quyết những vấn đề kinh tế, khai thác được nội lực
và phát huy được tiềm năng lợi thế so sánh đất nước.Đặc biệt sản xuất nông nghiệp
của nước ta từ nền sản xuất nhỏ, t
ự cung cấp dựa trên thói quen và những kinh
nghiệm truyền thống không gắn với thị trường thì qua giai đoạn đổi mới vừa qua
nền sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển trên mọi mặt, từng
bước chuyển sang nền nông nghiệp hàng hoá với sụ phát triển của kinh tế hộ gia
đình, kinh tế trang trại.
Vấn đề đặt ra đối với sản xuất nông nghiệ
p đã qua chế biến là khả năng tiêu
thụ sản phẩm. Thực trạng trong thời gian vừa qua sản xuất nông nghiệp của Việt
nam phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng lớn nhất vẫn là tình trạng dư thừa hàng
nông sản, giá cả ngày càng giảm dẫn tới tình trạng không đủ bù đắp chi phí gây
thiệt hại rất lớn cho nông dân và cho nền kinh tế.
Vấn đề tiêu thụ nông sả
n không còn là vấn đề mới mẻ song luôn là vần đề
còn nhiều điều phải nghiên cứu thêm vì vậy mà em đã chọn đề tài là: “Thực trạng
phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu và một số giải pháp chủ yếu”.


nghiệp chế biến gắn với các vùng nguyên liệu là một yêu cầu quan trọng trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.
3.Vị trí và vai trò của nông sản chế biến trong hoạt động xuất
khẩu.
Ngay từ thời kỳ đầu xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài, nông sản đã là mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Nhà nước có chủ trương phát triển ngành 3
công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu, coi nông nghiệp là ngành quan trọng cho
đời sống nhân dân và phát triển các ngành xuất khẩu khác. Năm 1997 kim ngạch
xuất khẩu đạt 5,3 tỷ USD, gồm mặt hàng nông sản và nông sản chế biến đạt 1855
triệu USD chiếm tỷ trọng 31%. Đến năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt
11.523 triệu USD trong đó mặt hàng nông sản và nông sản chế biến đạt3.456,9
triệu USD, chiế
m tỷ trọng 30%.
Lương thực của nước ta trong đó mặt hàng nông sản đã giải quyết nhiều
công ăn việc làm cho 70- 80% lao động ở nông thôn, ổn định đời sống vật chất và
tinh thần của người dân cả nước và phát triển kinh tế nông thôn. Không thể tưởng
tượng được nông thôn Việt Nam gần 20 năm trước đây thiếu lương thực, đời sống
khó khăn, cơ sở hạ
tầng giao thông, thủy lợi, yếu kém, lạc hậu. Thế mà chỉ 15 năm
đổi mới, được mùa, từ nước phải thường xuyên nhập khẩu lương thực nay trở
thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới. Bộ mặt nông thôn thay đổi hàng
ngày: điện, đường, chuồng trại đã hình thành. Một nông thôn tiến bộ khác hẳn so
với trước kia tuy còn nhiều khó khăn đang được giải quyế
t. 4


5
Việt Nam đã đầu tư một số nhà máy lớn tại đồng bằng sông Cửu Long với thiết bị
hiện đại của nước ngoài phục vụ xuất khẩu gạo. Nhờ đó tỉ lệ gạo phẩm cấp gạo chất
lượng cao (<10% tấm) đạt được tren 55%, tỷ lệ gạo phẩm cấp xấu (>35% tấm)
giảm xuống còn 4%
Chế biế
n chè: cả nước hiện có 90 cơ sở chế biến chè công nghiệp, trong đó
có 13 doanh nghiệp nhà nước, 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn lại
doanh nghiệp ngoài nhà nước, công suất thiết kế đạt 1.190 tấn chè búp tươi/ ngày,
tương ứng với 89.827 tấn chè chế biến/ năm. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu chè đen
sang Irag, Anh, Nga và một số nước Đông Âu. Các dây chuyền chế biến chè đen
xuất khẩ
u chủ yếu nhập khẩu từ Liên Xô cũ, những năm gần đây có trang bị một số
dây chuyền mới hiện đại hơn, nhưng nhìn chung thiết bị công nghệ chế biến còn lạc
hậu, thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè xuất khẩu.
Chế biến cà phê: có 16 doanh nghiệp nhà nước (Tổng Công ty cà phê Việt
Nam), một doanh nghiệp có vốn đầu t
ư nước ngoài, 14 doanh nghiệp ngoài quốc
doanh với 50 dây chuyền chế biến cà phê nhân đạt công suất 100.000 tấn/ năm. Chế
biến cà phê của Việt Nam có 2 loại: chế biến cà phê hạt; chế biến cà phê rang, xay,
hòa tan. Cà phê hạt chủ yếu chế biến bằng phương pháp khô với thiết bị thủ công
lạc hậu, vì vậy chất lượng cà phê hạt rất thấp. Theo đánh giá của WB, chỉ có
khoảng 2% sản lượng cà phê xuâts khẩu c
ủa Việt Nam đạt loại 1 (R1), còn lại là
loại R2 và R3 (cà phê xô). Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm
giảm hiệu quả xuất khẩu cà phê Việt Nam. Cả nước hiện chỉ có 1 doanh nghiệp chế
biến cà phê hòa tan phục vụ nhu cầu trong nước.
Chế biến cao su: tổng công suất chế biến mủ cao su đạt khoảng 250.000 tấn.
Thiết bị và công nghệ chế biến mủ cao su của Việt Nam lạc hậu nên chỉ có kh

- Các chính sách kinh t
ế vĩ mô của Nhà nước còn bất cập.
2. Thực trạng phát triển công nghiệp chễ biến nông sản xuất khẩu
Kinh tế Việt Nam đã bước vào tiến trình hội nhập kinh tế thế giới mà mở đầu là
việc tham gia vào AFTA. Nước ta là nước có trên 70% dân số là nông nghiệp, do
vậy khi bước chân vào tiến trình hội nhập, ngoài chuyện đem những tiến bộ khoa
học kỹ thuật cho nông dân còn phải hiện đại hoá công nghệ sản xuất chế biến hàng
nông sản. Thế nhưng, theo đánh giá của Viện Kinh tế nông nghiệp thuộc Bộ 7
NN&PTNT, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo quản chế biến và tiêu
thụ nông sản hiện đang đối đầu với thực trạng: thiếu vốn, cơ sở vật chất nghèo nàn,
công nghệ chế biến lạc hậu, thiếu thông tin thị trường, đội ngũ cán bộ chưa đào tạo
thích ứng với cơ chế thị trường. Những sự thiếu th
ốn này đã làm cho người nông
dân bất an trong sản xuất. Trong khi đó, các mặt hàng chế biến nông sản của nước
ta hiện đang chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Cơ sở để đưa ra nhận định này là Viện Kinh tế nông nghiệp đã tiến hành khảo sát
60 doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực bảo quản chế
biến và tiêu thụ
ba loại nông sản là chè, cà phê, rau quả tại một số tỉnh. Kết quả chỉ có 2 doanh
nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại (chiếm 2,22%) còn lại là sử dụng công nghệ
đã qua 3 hoặc 4 thế hệ: 73% nhà xưởng của các cơ sở chế biến rất tạm bợ, chắp vá;
40% chủ doanh nghiệp không có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề mà chủ
yếu là lao động phổ thông. Hầu hết các doanh nghi
ệp chưa có thị trường ổn định,
hoạt động mang tính tự phát, không có chiến lược lâu dài trong kinh doanh nhất là
chưa có chiến lược đầu tư cho vùng nguyên liệu và chiến lược thị trường trong và
ngoài nước. Chính vì vậy, sản phẩm làm ra của các doanh nghiệp chỉ có khoảng 5,2

- Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế biến những loại nông sản
có lợi thế cạnh tranh và nguồn nguyên liệu dồi dào, có thị trường tiêu
thụ rộng (gạo, cà phê, hạt điều, hoa quả, cao su…)
- Bám sát nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, nâng cao mức độ
chế biến nông sản để đưa ra thị trường chủng loại nông sản chế biến đa
dạng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
- Tập trung đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa thiết bị chế biến,
đồng thời sử dụng hợp lý các công nghệ truyền thống; đặc biệt coi
trọng chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Có cơ chế thích hợp bảo đảm sự gắn bó chặt chẽ giữ
a chế biến nông
sản và sản xuất nguyên liệu, bảo đảm nền tảng vững chắc cho việc
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
- Huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế đầu tư phát triển vùng
nguyên liệu và các cơ sở chế biến nông sản, trong đó khuyến khích
phát triển mạnh các thành phần kinh tế ngoài Nhà Nước.
2.Một số giải pháp chủ yếu
2.1- Phát triển các vùng nguyên liệu tập trung
Trên cơ sở các tài liệu điều tra cơ bản, đánh giá lợi thế của các vùng sinh thái
để quy hoạch xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn tạo cơ sở
nguyên liệu vững chắc cho phát triển công nghiệp chế biến. Quy hoạch vùng sản
xuất nguyên liệu tập trung là cơ sở để quy hoạch mạng lưới giữa sản xuất nguyên
liệu và chế biến nguyên liệu, nâng cao hi
ệu quả của cả sản xuất và chế biến nông sản. 10
Thực tế cho thấy, việc phát triển nông nghiệp phân tán, manh mún như hiện
nay đã gây bất lợi cho cả sản xuất và chế biến. Trong khi nhiều doanh nghiệp chế
biến thiếu nguyên liệu, thì nông dân lại gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ nông sản

¾ Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ xây dựng và sản xuất của các cơ sở
chế biến nông sản (hạ tầng các khu công nghiệp hoặc các cụm công nghiệp
tập trung, giao thông, cấp thoát nước, mạng lưới điện).
¾ Dành nguồn vốn thoả đáng cho thực hiện công tác khuyến nông nhằm thúc
đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vậ
t nuôi và áp dụng các thành tựu
khoa học và công nghệ vào sản xuất nguyên liệu…
Khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư không hạn chế để
phát triển vùng nguyên liệu và phát triển công nghiệp chế biến nông sản, đặc biệt là
nông sản xuất khẩu. Để hiện thực hoá việc khuyến khích, cần có các chính sách ưu
đãi về đất đai, tín dụng, thuế… tạo sự hấp dẫn lớn với các nhà đầu t
ư trong việc tạo
lập và vận hành doanh nghiệp, Nhà nước có thể hỗ trợ việc đào tạo lao động, cung
cấp thông tin thị trường và chuyển giao công nghệ.
Xúc tiến mạnh mẽ hơn quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hiện có
trong ngành chế biến nông sản. Đây là cách thức quan trọng để huy động các nguồn
vốn đáp ứng yêu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, thúc đẩy
đổi mới công nghệ, hiện
đại hoá công nghệ chế biến, nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh. Về đối tượng
mua cổ phần, ngoài người lao đông trong doanh nghiệp, cá thể nhân và pháp nhân
trong nước, cần mở rộng ra cả việc bán cổ phần cho người nước ngoài. Sự tham gia
của các nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện quan trọng để hiện đại hoá công nghệ và
mở rộng xuất khẩu nông sả
n chế biến.
2.3- Các giải pháp hỗ trợ xuất khẩu.
Khai thông thị trường tiêu thụ là điều kiện quan trọng hàng đầu cho việc đẩy
mạnh xuất khẩu nông sản chế biến của Việt Nam. Hội nhập kinh tế quốc tế, một
mặt tạo cơ hội mở rộng phạm vi thị trường, mặt khác cũng tạo áp lực cạnh tranh
gay gắt với các doanh nghiệ
p chế biến nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Với trình

nông sản chế biến; phối hợp hoạt động giới thiệu nông sản chế biến với hoạt
động du lịch. 13
KẾT LUẬN
Thực hiện đường lối của Đảng và nhà nước, phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta đang đạt những thành tựu
đáng kể trong đó phải kể đến những thành công vượt bậc của sản xuất nông nghiệp
Nền nông nghiệp nước ta từ một nước tự cung tự cấp đã dần phát triể
n theo hướng
nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Quy mô sản xuất và năng suất chất lượng ngày
một tăng không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà xuất khẩu ngày càng
nhiều.Vấn đề tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá nông sản và nông sản đã qua chế
biến luôn là vấn đề quan tâm không chỉ riêng người nông dân mà cả xã hội càng trở
nên quan trọng đối với nước ta với 80% dân số sống trong khu vự
c nông thôn.


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN
XUẤT KHẨU. 8
1. Phương hướng phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu. 8
2. Một số giả
i pháp chủ yếu. 8
2.1. Phát triển các vùng nguyên liệu tập trung. 8
2.2. Đa dạng hoá các nguồn vốn bảo đảm các điều kiện phát triển công nghiệp
chế biến nông sản. 9
2.3. Các giải pháp hỗ trợ xuất khẩu. 10
KẾT LUẬN 12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status