Lời mở đầu
Từ khi chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc,
kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi và phát triển đi lên. Các hoạt động
trong xã hội đều bị chi phối của các qui luật thị trờng, đặc biệt là qui luật cạnh
tranh. Theo đó, xã hội luôn mong muốn tạo ra đợc nhiều của cải vật chất, các
tổ chức kinh tế thì mong không ngừng tăng lợi nhuận qua việc sản xuất hàng
hoá, dịch vụ. Để đáp ứng đợc mong muốn đó, con ngời hoặc phải tăng quĩ thời
gian dùng cho sản xuất hoặc phải tăng năng suất lao động. Trong các yếu tố
đó, quĩ thời gian dành cho sản xuất là có hạn, mỗi ngời chỉ có tối đa là
24h/ngày làm việc, còn tăng năng suất thì có thể không ngừng tăng lên do
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Vậy cần thiết phải nghiên cứu các yếu
tố làm tăng năng suất lao động, trong đó tiền lơng và thu nhập là yếu tố tác
động trực tiếp đến ngời lao động là động cơ chính để họ tăng năng suất lao
động. Nghiên cứu mối quan hệ giữa tiền lơng và thu nhập với năng suất lao
động là rất quan trọng, tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tổ
chức.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề này trong các doanh nghiệp t
nhân và đợc sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Thanh Thuỷ .Tôi đã đi
sâu vào nghiên cứu đề tài:
Tiền công - Thu nhập của ng ời lao động ở doanh nghiệp t nhân và việc
tạo động lực cho ngời lao động .
Tôi đã cố gắng đa ra một cách khái quát và đầy đủ nhất về vấn đề. Song do
thời gian có hạn và là lần đầu viết về vấn đề này nên không thể tránh đợc
những thiếu sót ,rất mong đợc những ý kiến góp ý để tôi có thể nắm vững hơn
về vấn đề và hoàn thiện hơn trong những lần viết sau:
Bài viết gồm ba phần.
Chơng1: Cơ sở lý luận chung về tiền công - thu nhập và việc tạo
động lực cho ngời lao động.
Chơng2: Thực trạng tiền công - thu nhập của những ngời lao động
trong các doanh nghiệp t nhân hiện nay.
động lại có điều kiện và muốn sử dụng nó để tạo ra của cải vật chất. Do vậy
ngời sử dụng lao động phải trả cho ngời chủ sở hữu sức lao động hay ngời lao
động một số tiền nhất định để đổi lấy quyền sử dụng sức lao động của ngời lao
động. Về phía ngời lao động, họ muốn bán sức lao động để có một khoản tiền
nhất định nuôi bản thân và gia đình. Vì vậy giữa ngời sử dụng lao động và ng-
ời nảy sinh quan hệ mua bán và cái đợc trao đổi, mua bán ở đây là sức lao
động của ngời lao động và số tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho ngời lao
động chính là giá cả của sức lao động. Hay nói khác đi tiền lơng chính là giá
cả của sức lao động.
Lúc này, Đảng và Nhà nớc ta đã nhận định Tiền lơng là giá cả của sức
lao động, đợc hình thành qua sự thoả thuận giữa ngời lao động và ngời sử dụng
lao động thông qua hợp động, phù hợp với các quan hệ lao động của nền kinh
tế thị trờng đang trong quá trình hoàn thiện theo định hớng XHCN.
Điều đó có nghĩa là tiền lơng là phải đợc trả theo đúng giá trị sử dụng lao
động, phải coi tiền lơng nh một động lực thúc đẩy từng cá nhân ngời lao động
hăng say làm việc, nhng phải tránh tính chất bình quân. Có thể cùng trình độ
chuyên môn, cùng bậc thợ, nhng tiền lơng lại rất khác nhau do hiệu quả sản
xuất khác nhau hay do giá trị sức lao động khác nhau.
Quan điểm mới này về tiền lơng đã tạo cho việc trả lơng đúng với giá trị
sức lao động, tiền tệ hoá tiền lơng triệt để hơn, xoá bỏ tính phân phối cấp phát
và trả lơng bằng hiện vật. Đồng thời nó đã khắc phục quan điểm coi nhẹ lợi
ích cá nhân nh trớc kia, tiền lơng phải đợc sử dụng đúng vai trò đòn bẩy kinh
tế của nó kích thích ngời lao động gắn bó hăng say với công việc.
Tóm lại: Tiền lơng là một khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho
ngời lao động khi họ hoàn thành một công việc nào đó theo đúng số lợng và
chất lợng đã thoả thuận. Sức lao động là hàng hoá, tiền lơng là giá cả sức lao
động, và ngời sử dụng lao động phải căn cứ vào số lợng và chất lợng lao động
của ngời công nhân, cũng nh mức độ phức tạp, tính chất độc hại của công việc
để trả lơng cho ngời lao động.
Thu nhập là khoản tiền mà ngời lao động trong doanh nghiệp đợc ngời sử
những nhu cầu. Vì vậy, phải tìm hiểu kỹ động cơ lao động của con ngời.
Quá trình hình thành động cơ lao động có nguồn gốc từ sự xuất hiện
nhu cầu. Có thể nói động cơ là nhu cầu mạnh nhất của con ngời trong một thời
điểm nhất định và nhu cầu sẽ quyết định hoạt động của con ngời.
Nhu cầu trở thành động cơ khi có đủ ba yếu tố. Đó là sự mong muốn,
chờ đợi, tính hiện thực của sự mong muốn và hoàn cảnh môi trờng xung
quanh.
Muốn biết nhu cầu của con ngời xuất hiện do đâu thì phải tìm hiểu kỹ
động cơ lao động của họ, tuy nhiên động cơ nhiều khi là vô thức nên rất dễ
đánh giá sai.
+ Mục đích hoạt động của con ngời là nhằm thoả mãn những nhu cầu,
mong ớc của chính mình. Nh vậy, nhu cầu bao giờ cũng xuất hiện trớc và đợc
thoả mãn sau bằng chính hoạt động xuất phát từ nhu cầu đó. Khi một nhu cầu
này đựơc thoả mãn thì xuất hiện nhu cầu khác cao hơn. Vì vậy, giữa nhu cầu
và sự thoả mãn luôn có khoảng cách nhất định.
nhu cầu thoả mãn > 0
Chính khoảng cách này đã tạo ra động lực cho ngời lao động, nó làm
ngời ta hớng tới mục tiêu mới và sẽ cố gắng để đạt đợc bằng sự nỗ lực của
chính mình một cách tự nguyện.
Có thể định nghĩa tổng quát về động lực lao động
Động lực lao động là những tác động thúc đẩy từ bên trong con ngời
nhằm nâng cao mọi nỗ lực để đạt đợc mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó một
cách tự nguyện.
1.2.2. Tạo động lực lao động
Nh ta đã biết nhu cầu tạo ra động cơ cho ngời lao động còn động lực
xuất hiện nh thế nào?
Động cơ lao động xuất phát từ nhu cầu của con ngời, từ động cơ ấy sẽ
tạo ra lợi ích và đến lợt nó lợi ích lại tạo động lực cho ngời lao động.
Hệ thống nhu cầu của con ngời gồm hai loại chính là nhu cầu vật chất
và nhu cầu tinh thần. Chúng thờng xuyên thay đổi và có xu hớng tăng lên cả
làm việc tốt, mặt khác lại là nguyên nhân gây bất mãn, trì trệ do tiền lơng
không thoả đáng, không công bằng. Điều đó có nghĩa là tiền lơng là động lực
không đủ mạnh để thúc đẩy con ngời làm việc hoặc không phản ánh đợc kết
quả (số lợng và chất lợng) mà họ đạt đợc.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, đặc biệt là từ sau cải cách tiền l-
ơng, chúng ta càng thấy rõ hơn sức lao động là hàng hoá. Ngời lao động bán
sức lao động của mình cho doanh nghiệp và nhận lại từ doanh nghiệp một
khoản gọi là tiền lơng (hay tiền công). Nh vậy tiền lơng chính là một phần thu
nhập mà ngời lao động đợc ngời sử dụng lao động trả cho sau khi họ đã hoàn
thành một công việc nhất định.
Vì tiền lơng là giá cả sức lao động cho nên tiền lơng cũng bị quyết định
bởi các quy luật về giá cả của tất cả các hàng hoá khác và bởi quan hệ giữa
cung và cầu trên thị trờng. Trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp,
tiền lơng là một phần chi phí cấu thành sản xuất, vì vậy nó đợc tính là chi phí
kinh tế (chi phí sản suất, kinh doanh). Do đó tiền lơng luôn phải đợc tính toán
và quản lý chặt chẽ.
Tóm lại, tiền lơng vừa là yếu tố kinh tế, vừa mang tính chất xã hội.
Càng hiểu rõ bản chất của tiền lơng, ta càng thấy tiền lơng giữ vai trò đặc biệt
quan trọng trong chính sách khuyến khích vật chất và hơn nữa nó cũng là biện
pháp kích thích tinh thần.
ở nớc ta hiện nay, với bất kỳ một ngời lao động nào thì tiền lơng cũng là
mối quan tâm hàng đầu của họ, nó là động lực chủ yếu thúc đẩy họ làm việc
tốt hơn bởi vì tiền lơng hiện nay chính là phần thu nhập chủ yếu của ngời lao
động. Cuộc sống của họ phụ thuộc vào mức tiền lơng mà họ nhận đợc từ công
việc. Vì thế, tiền lơng trớc hết là biện pháp kích thích vật chất. Biểu hiện rõ
nhất là nếu tiền lơng thoả đáng, phù hợp với sức lao động mà họ đã bỏ ra sẽ
khiến họ hăng hái làm việc. Ngợc lại, nếu tiền lơng mà họ nhận đợc quá thấp,
không xứng đáng sẽ làm giảm đi sự kích thích trong lao động. Ngời lao động
sẽ không quan tâm đến công việc của mình và có thể sẽ tìm kiếm công việc
khác làm thêm bù vào phần thu nhập của mình hoặc tìm kiếm công việc mới
Sử dụng hợp lý các chính sách khuyến khích nh: tăng lơng tơng xứng
với thực hiện công việc áp dụng các hình thức trả công khuyến khích, tiền th-
ởng và phần thởng.
Sử dụng hợp lý các chính sách khuyến khích phi tài chính để thoả mãn
nhu cầu tinh thần cho ngời lao động.
2.Doanh nghiệp t nhân
1. Khái niệm về doanh nghiệp t nhân.
Xuất phát từ luật doanh nghiệp t nhân, luật công ty do Quốc hội nớc
CHXHVN Việt Nam thông qua ngày 21/12/1990 tại kỳ họp thứ 8 quốc hội
khoá VIII ta có
DNTN là đơn vị kinh doanh, có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định
(vốn pháp định tuỳ theo từng nghề và tối thiểu là 20 triệu đồng), do một cá
nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi
hoạt động của doanh nghiệp.
2. Vai trò của doanh nghiệp t nhân trong sự phát triển của đất nớc.
ở nớc ta, trong vòng 30 năm ở miền Bắc và 10 năm ở miền Nam kinh tế
t nhân không đợc chấp nhận tồn tại, là đối tợng phải cải tạo, xoá bỏ. Từ sau đại
hội VI của Đảng (1986) khu vực kinh tế này đợc thừa nhận tồn tại lâu dài. Đến
nay khu vực kinh tế này đã đóng góp vai trò to lớn trong sự phát triển của đất
nớc. Nó gồm có vai trò chủ yếu sau:
- Góp phần tạo công ăn việc làm cho ngời lao động:
Sau năm 1986, sự dôi d lao động với quy mô lớn ở khu vực kinh tế t nhân
khi tiến hành sắp xếp lại sản xuất theo QĐ 176/HĐBT, cùng với sự hạn chế
của ngân sách ngày một gia tăng ở các doanh nghiệp đợc bao cấp trớc đây,
việc trở về của hàng trăm ngàn lao động từ nớc ngoài (Đông âu), và sự tăng tr-
ởng hàng triệu lao động hàng năm... đã làm cho sức ép về việc làm trở nên cấp
bách. Trớc tình hình đó, việc phát triển các doanh nghiệp t nhân đóng vai trò
cực kỳ quan trọng, để trong một thời gian ngắn tạo thêm nhiều việc làm cho
ngời lao động.
Tính đến 31/12/2002, các doanh nghiệp này đã thu hút 339638 lao động,
- Tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia:
Hàng năm, khu vực kinh tế này đóng góp trên 51% cho ngân sách Nhà n-
ớc.
- Đóng vai trò quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Quá trình phát triển của các doanh nghiệp t nhân cũng là quá trình cải
tiến máy móc, thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất và chất lợng sản phẩm để
đáp ứng nhu cầu thị trờng, đến một mức độ nào đó, nhất định sẽ dẫn đến đổi
mới công nghệ, làm cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc diễn
ra không chỉ ở chiều sâu mà cả ở chiều rộng.
Sự phát triển của các doanh nghiệp này làm cho Công nghiệp, Dịch vụ
phát triển theo, dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hớng tiến bộ, đặc
biệt ở các vùng nông thôn.
3. Đặc điểm, vị trí, vai trò của tiền lơng hay thu nhập trong DNTN.
a. Tiền lơng mà chủ doanh nghiệp trả cho ngời lao động theo đúng bản
chất là giá cả của sức lao động.
Khi chủ doanh nghiệp đầu vốn tiến hành sản xuất kinh doanh, tuyển lao
động, ngời lao động đem bán sức lao động của mình cho chủ doanh nghiệp.
Tiền lơng lúc này đợc trả theo đúng bản chất là giá cả sức lao động, hoạt động
theo quy luật cung cầu về sức lao động, thông qua sự thoả thuận bằng hợp
đồng lao động giữa chủ doanh nghiệp và ngời lao động. Kết quả là tiền lơng
trong DNTN phản ánh tơng đối rõ nét những mức trả lơng khác nhau theo đặc
thù riêng của từng vùng, từng khu vực.
Chủ doanh nghiệp t nhân là chủ sở hữu đích thực có thể đồng thời là ngời
chủ huy, ngời sử dụng lao động, trả lơng cho ngời lao động bằng chính nguồn
tài chính của riêng mình và không hề đợc sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nớc
Trung ơng hay địa phơng. ở đây, tiền lơng là một yếu tố của chi phí sản xuất
nh mọi chi phí khác. Do vậy mà chủ doanh nghiệp tính toán một cách rất chi
li, thậm chí tìm cách hạ thấp mức trả lơng xuống dới giá trị sức lao động, nhất
là việc tính toán kỹ lỡng nhu cầu công nhân để có đợc giá thành hạ, thu đợc
So với các DNNN, ngời lao động trong các DNTN phần lớn ít đợc phổ
biến, quán triệt pháp luật lao động... Do đó, ngoại trừ một bộ phận lao động
quản lý có trình độ chuyên môn cao đợc trả lơng thoả đáng cao hơn nhiều so
với mức lơng của ngời cùng trình độ trong doanh nghiệp và cơ quan nhà nớc.
Còn lao động phổ thông, lao động có trình độ khoa học kỹ thuật thấp, tuy mức
lơng nhiều trờng hợp có cao hơn trong DNNN chút ít, nhng vẫn phải chịu thiệt
thòi về các quyền lợi tham gia bảo hiểm xã hội, tổ chức công đoàn, cải thiện
điều kiện lao động, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động, thời gian làm
việc, thời gian nghỉ ngơi, tranh chấp lao động. Việc giao kết hợp đồng lao
động, ký kết thoả ớc lao động tập thể ít đợc quan tâm, đòi hỏi theo luật định.
Trong trờng hợp có tổ chức công đoàn vững mạnh và biết dựa vào tổ chức
công đoàn thì ngời lao động lại có lợi thế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
chính đáng.
3. Sự cần thiết phải nâng cao thu nhập cho ngời lao động trong các
doanh nghiệp t nhân.
Khu vực kinh tế t nhân (KTTN) nói chung và các DNTN nói riêng ở nớc
ta ta mới đợc thừa nhận và phát triển khoảng 10 năm lại đây, vì thế nó cha đợc
chú trọng và phát triển. Trong khi nó là thành phần kinh tế năng động, rất
quan trọng chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế quốc dân. Tiền lơng của ngời
lao động ở đây vẫn còn rất thấp, ngời lao động luôn luôn bị yếu thế hơn so với
các DNNN, kết quả lao động của họ nhận đợc tiền lơng, giá cả sức lao động
cha tơng xứng với sức lao động của họ đã bỏ ra, thu nhập của họ phải đợc
nâng cao từ kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó cũng là chức
năng phân phối thu nhập trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo tính công bằng
trong xã hội, thực hiện làm theo năng lực, hởng theo lao động.
Trong những năm gần đây, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự hiện đại của
máy móc thiết bị, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá diễn ra rộng khắp đợc áp
dụng vào sản xuất; Do nhu cầu đòi hỏi sự đa dạng hoá sản phẩm hàng hoá của
ngời tiêu dùng... Từ đó, đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật của ngời lao
động cũng phải đợc nâng cao tơng xứng với trình độ của máy móc, thiết bị.
Thực trạng tiền công thu nhập của ngời lao động
trong các doanh nghiệp t nhân hiện nay
1. Quá trình phát triển và đặc điểm tình hình sản xuất
của các doanh nghiệp t nhân trong các năm qua.
1.1. Về số lợng các doanh nghiệp t nhân.
Việt Nam, trong mấy chục năm qua, quan điểm chính thống đối với
thành phần kinh tế t nhân có những thay đổi. Kinh tế t nhân phát triển qua các
bớc thăng trầm, có thể chia thành 2 giai đoạn chính.
a. Trong thời gian đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta (sau cuộc
cách mạng giành độc lập dân tộc).
Trong thời gian này, do t tởng muốn hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội
chủ nghĩa trong một thời gian ngắn mà kinh tế t nhân không đợc thừa nhận, bị
xoá bỏ, hoặc hoà tan vào trong thành phần kinh tế quốc doanh dới hình thức
Công ty hợp doanh.
Sau năm 1954, trải qua một thời kỳ cải tạo ngắn ngủi, kinh tế t bản t nhân
bị biến mất ở miền bắc. Đến cuối năm 1960, công cuộc cải tạo xã hội chủ
nghĩa đối với công nghiệp t bản t nhân căn bản hoàn thành và chuyển 729 xí
nghiệp t nhân thành 661 xí nghiệp công t hợp doanh, và 68 xí nghiệp quốc
doanh.
Sau khi giải phóng miền Nam, cả nớc thống nhất đã cùng đi lên chủ
nghĩa xã hội, với t tởng đó, chúng ta lại tiến hành cải cách một cách triệt để và
kinh tế t nhân lại bị xoá bỏ ở miền Nam. Đến cuối năm 1975 thì thành phần
kinh tế t nhân bị xoá bỏ hoàn toàn.
b. Giai đoạn từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến nay.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng và nhà nớc đã nhận đợc những sai lầm
trong đờng lối quản lý kinh tế nói chung và trong cải tạo xã hội chủ nghĩa nói
riêng. Do vậy, đã thừa nhận sự tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc
ta, trong đó có thành phần kinh tế t nhân. Chính do nhận thức đợc tình hình tất
yếu khách quan của thành phần kinh tế t nhân, mà nhà nớc đã ban hành hàng
loạt các chủ trơng chính sách, quy định về thành lập và hoạt động của doanh