Tài liệu Tiểu luận: Tìm hiểu về cơ chế "một cửa" trong cải cách hành chính doc - Pdf 97

Tiểu luận
Tìm hiểu về cơ
chế "một cửa"
trong cải cách
hành chính
Mục lục
1. Khái niệm thủ tục hành chính 4
2. Đặc điểm thủ tục hành chính 5
3. Ý nghĩa của thủ tục hành chính 5
1. Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước 6
2. Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 8
1. Cơ cấu tổ chức 13
2. Chức năng, nhiệm vụ 13
3. Nhiệm vụ cụ thể của công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 14
1. Các lĩnh vực hoạt động 15
2. Thời gian làm việc: 16
1. Kết quả hoạt động 16
2. Thuận lợi, khó khăn 17
3. Bài học kinh nghiệm 20
MỞ ĐẦU
Trong quá trình cải cách nền hành chính Nhà nước, đặc biệt là sau khi
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38-CP ngày 04/5/1994 về cải cách một
bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ
chức, đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong lề lối làm việc của hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính
cho công dân và tổ chức.
Hiện nay, thủ tục tiếp nhận và giải quyết công việc của tổ chức, công dân
vẫn còn rườm rà, phức tạp, trật tự, kỹ cương chưa nghiêm; việc thu phí, lệ phí
không đúng quy định. Mặt khác, một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước khi
tiếp và giải quyết công việc của nhân dân còn có thái độ thiếu tôn trọng, cửa
quyền, sách nhiễu Tình hình giải quyết công việc như vậy không những đã

63,62% lực lượng lao động. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,23% và tăng cơ học
hằng năm 1,31%.
Dân tộc - Tôn giáo: Dân tộc kinh có 4.889 hộ, chiếm 99,03%; Khơmer
có 42 hộ, chiếm 0,85%; dân tộc khác có 06 hộ, chiếm 0,12%. Đạo phật giáo
Hoà hảo chiếm 73,88%, Thiên chúa chiếm 11,60%, các tôn giáo khác chiếm
14,52%
Mật độ dân số 1.821 người/Km
2
, dân cư tập trung dọc theo Quốc lộ 91,
ven sông Hậu và các trục giao thông liên xã.
Cơ sở hạ tầng nông thôn: có 23 km lộ giao thông, trong đó có 7 km
Quốc lộ 91; 8,9 km lộ liên xã được nhựa hóa, 3 km đường cấp phối Tà Pạ; các
tuyến giao thông nội ô thị trấn đảm bảo thông suốt trong mùa lũ. Có 4.882 hộ
sử dụng điện chiếm 98,5%; 4.342 hộ sử dụng nước sạch chiếm 89,8%. Mạng
lưới thông tin liên lạc phủ khắp, bình quân 40 máy điện thoại/100 hộ dân.
Lĩnh vực kinh tế: cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng Thương mại -
Dịch vụ ( chiếm 43,1% ), Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp ( chiếm 31% ),
Nông nghiệp ( chiếm 25,9 % ). Mức tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm
10% - 12%. Tổng thu ngân sách hàng năm trên địa bàn 5,5 tỷ, thu theo phân
cấp 2,855 tỷ. Thu nhập bình quân đầu người 8,2 triệu đồng/năm.
Lĩnh vực văn hoá - xã hội: hệ thống trường lớp khang trang với 01
trường trung học cơ sở, 04 trường tiểu học, 01 trường mẫu giáo và 01nhà trẻ,
hàng năm huy động 4.709 học sinh các bậc học. Địa bàn có 01 Trạm y tế với
đội ngũ y bác sĩ, cộng tác viên có trình độ chuyên môn cao, thực hiện tốt các
chương trình mục tiêu y tế quốc gia. Hệ thống thông tin tuyên truyền đảm
3
bảo, các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao và phong trào xã hội từ
thiện được quan tâm thực hiện tốt.
Lĩnh vực an ninh - quốc phòng: Lực lượng công an, quân sự đủ biên
chế, thực hiện tốt công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và

chủ thể và xử lý vi phạm; trình tự tổ chức - tác nghiệp hành chính.
4
Thủ tục hành chính là một bộ phận tạo thành chế định tất yếu của luật
hành chính, do vậy xây dựng một quan niệm chung, thống nhất về thủ tục
hành chính là rất quan trọng. Điều đó có ý nghĩa to lớn trong hoạt động lập
pháp và để nhận thức hành động đúng đắn trong hoạt động quản lý hành
chính nhà nước, đặc biệt là trong tiến trình cải cách nền hành chính Nhà nước.
Như vậy, Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức giải quyết công
việc của cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ
nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan hành chính Nhà nước với các
tổ chức và cá nhân công dân. Nó giữ vai trò đảm bảo cho công việc đạt được
mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước hoặc
của các cá nhân, tổ chức được ủy quyền trong việc thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước.
2. Đặc điểm thủ tục hành chính
2.1. Thủ tục hành chính được điều chỉnh bằng các quy phạm thủ tục
hành chính. Mọi hoạt động quản lý hành chính Nhà nước đều phải được trật
tự hoá, tức là phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục nhất định.
2.2. Thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong quản lý
hành chính Nhà nước. Nghĩa là, thủ tục hành chính được phân biệt với thủ tục
tư pháp, khác với thủ tục tố tụng tại toà án, kể cả tố tụng hành chính cũng
không thuộc về khái niệm thủ tục hành chính.
2.3.Thủ tục hành chính rất đa dạng, phức tạp. Tính đa dạng, phức tạp
của nó được quy định bởi hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, là hoạt
động diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và bộ máy hành
chính bao gồm rất nhiều các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, mỗi cơ
quan đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình đều tuân thủ theo những
thủ tục nhất định. Hơn nữa nền hành chính Nhà nước ta hiện đang chuyển từ
nền hành chính kế hoạch hoá tập trung sang nền hành chính phục vụ; đồng
thời với xu thế hợp tác quốc tế hiện nay đối tượng quản lý không chỉ là công

chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan Nhà nước với nhân dân và các tổ chức,
có khả năng làm bền chặt mối quan hệ đó, làm cho Nhà nước ta thực sự là
Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trên một phương diện nhất định, thủ tục
hành chính biểu hiện trình độ văn hoá, văn hoá giao tiếp, văn hoá điều hành,
mức độ văn minh của nền hành chính. Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính
không đơn thuần liên quan đến pháp luật, mà còn là yếu tố ảnh hưởng đến sự
phát triển chung của đất nước về chính trị, văn hoá, giáo dục và mở rộng giao
lưu hợp tác quốc tế.
II- NỘI DUNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1. Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước
Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 –
2010 của Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày
17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định:
1.1. Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà
nước giai đoạn 2001 - 2010 là : “xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong
sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu
quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh
6
đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực
đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước”. Đến năm
2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản
lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những mục tiêu cụ thể của Chương trình là :
- Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp
với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế về
kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính. Tiếp tục đổi mới
quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính
cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của
từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế; phát huy dân chủ, huy động trí
tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.

- Đến năm 2005, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chất
của cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công.
- Nền hành chính nhà nước được hiện đại hóa một bước rõ rệt. Các cơ
quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý
nhà nước kịp thời và thông suốt. Hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ
được đưa vào hoạt động.
1.2. Nội dung chủ yếu của chương trình
- Cải cách thể chế;
- Cải cách tổ chức bộ máy;
- Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức;
- Cải cách tài chính công.
Về cải cách thể chế, một trong những nội dung quan trọng được nhấn
mạnh là tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, theo đó:
- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu
quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính. Loại
bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó
khăn cho dân. Mở rộng cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực,
xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép và thanh tra,
kiểm tra, kiểm soát, kiểm dịch, giám định. Mẫu hóa thống nhất trong cả nước
các loại giấy tờ mà công dân hoặc doanh nghiệp cần phải làm khi có yêu cầu
giải quyết các công việc về sản xuất, kinh doanh và đời sống.
- Ban hành cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công
việc của dân; xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách
nhiệm; khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
- Mở rộng thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết công việc
của cá nhân và tổ chức ở các cơ quan hành chính nhà nước các cấp. Cơ quan
hành chính các cấp có trách nhiệm giải quyết công việc của cá nhân và tổ
chức phải niêm yết công khai, đầy đủ mọi thủ tục, trình tự, lệ phí, lịch công
tác tại trụ sở làm việc.
- Quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm cá nhân trong khi thi hành công

- Góp phần chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng của một bộ phận
cán bộ, công chức. Nâng cao ý thức trách nhiệm và, tinh thần, thái độ phục vụ
tổ chức, công dân của đội ngũ cán bộ, công chức.
- Nâng cao chất lượng công vụ, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
- Làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước các
cấp trong giải quyết công việc liên quan đến tổ chức, công dân.
- Đổi mới cơ bản phương thức hoạt động của bộ máy các cơ quan hành
chính nhà nước, trên cơ sở đó sắp xếp lại tổ chức theo hướng gọn nhẹ, hoạt
động có hiệu lực, hiệu quả.
2.3. Phạm vi áp dụng
Cơ chế “một cửa” được áp dụng trong các cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương, cụ thể là : Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương (các Sở, Ban, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân); Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn.
2.4. Nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”
9
- Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.
- Công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết
công việc của tổ chức, công dân.
- Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
- Việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan để giải quyết công việc
của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước.
- Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức,
công dân.
2.5. Các lĩnh lực thực hiện cơ chế “một cửa”
- Tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương : phê duyệt các dự án đầu
tư trong nước và nước ngoài, xét duyệt cấp vốn xây dựng cơ bản, cấp giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, cấp giấy phép xây dựng,
cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, cho thuê đất,

Châu Thành về việc thành lập “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” thực hiện
theo cơ chế “một cửa” thuộc Văn phòng UBND thị trấn An Châu.
11
- Quyết định số 1431/QĐ.UB.TC ngày 24/12/2003 của UBND huyện
Châu Thành về việc phê duyệt Quy chế tổ chức và hoạt động của “Bộ phận
tiếp nhận và trả kết quả” thực hiện theo cơ chế “một cửa” thuộc Văn phòng
UBND thị trấn An Châu.
- Quyết định số 1432/QĐ.UB.TC ngày 24/12/2003 của UBND huyện
Châu Thành về việc phê duyệt bản Quy định các thủ tục hành chính và trình
tự giải quyết theo cơ chế “một cửa” tại UBND thị trấn An Châu.
- Quyết định số 115/QĐ.UB ngày 25/12/2003 của Chủ tịch UBND thị
trấn An Châu về việc điều động công chức đến làm việc tại Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả thuộc Văn phòng UBND thị trấn An Châu.
Ngày 31/12/2003, “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả” thuộc Văn phòng
UBND thị trấn An Châu chính thức đi vào hoạt động.
12
* Chú thích:
1. Tổ chức, công dân nộp hồ sơ trực tiếp cho công chức phụ trách lĩnh vực tương ứng tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, nhận giấy
hẹn, sau đó nhận lại hồ sơ đã giải quyết từ chính công chức này.
2. Công chức nhận hồ sơ trực tiếp viết giấy hẹn với tổ chức, công dân (đối với những việc cần có thời gian xử lý), xử lý hồ sơ hoặc
phối hợp hoặc chuyển các bộ phận chuyên môn có liên quan ( nếu có )
3. Công chức xử lý hồ sơ xong, trình Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND thị trấn ký, sau đó trả lại cho tổ chức, công dân theo giấy
hẹn, thu phí, lệ phí theo quy định.
Sơ đồ khái quát cơ chế “một cửa” tại UBND thị trấn An Châu:
2
Tổ chức,
công dân
Bộ phận tiếp nhận và
trả kết quả
- Công chức Văn phòng

2.3. Trường hợp hồ sơ đầy đủ theo quy định thì tiếp nhận, viết phiếu
nhận hồ sơ, vào sổ theo dõi;
Trường hợp hồ sơ chưa hoàn chỉnh thì hướng dẫn để tổ chức, công dân
bổ sung, hoàn chỉnh.
13
Trường hợp hồ sơ của tổ chức, công dân không thuộc thẩm quyền giải
quyết của UBND thị trấn thì hướng dẫn cụ thể để tổ chức, công dân đến cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
2.4. Xử lý hồ sơ của tổ chức, công dân theo phạm vi trách nhiệm,
quyền hạn của mình.
Trường hợp hồ sơ của tổ chức, công dân có liên quan đến trách nhiệm,
quyền hạn của các cán bộ, công chức khác, công chức phụ trách hồ sơ chủ
động phối hợp với các cán bộ, công chức khác cùng xử lý hồ sơ.
Sau khi xử lý hồ sơ của tổ chức, công dân xong, trình Chủ tịch UBND
hoặc Phó Chủ tịch UBND thị trấn giải quyết.
2.5. Nhận lại kết quả đã giải quyết, trả lại cho tổ chức, công dân, thu
phí, lệ phí theo quy định (nếu có).
3. Nhiệm vụ cụ thể của công chức tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả
3.1. Công chức Văn phòng - Thống kê có trách nhiệm:
- Tiếp nhận những hồ sơ về các lĩnh vực công việc không thuộc lĩnh
vực Địa chính - Xây dựng, Hộ tịch và Chứng thực, chuyển các cán bộ, công
chức khác có liên quan thuộc UBND thị trấn để xử lý, viết phiếu chuyển hồ
sơ, sau đó nhận lại kết quả đã giải quyết, trả lại cho tổ chức, công dân;
- Theo dõi, tổng hợp tình hình tiếp nhận, giải quyết, trả hồ sơ của công
chức thuộc Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.
- Là đầu mối phối hợp với các cán bộ, công chức khác thuộc UBND
cấp xã kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc xảy ra, đặc biệt đối với
những hồ sơ liên quan đến nội dung công việc của nhiều công chức.
3.2. Công chức Địa chính - Xây dựng có trách nhiệm:

- Đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn.
- Đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn.
- Đăng ký nuôi con nuôi.
- Đăng ký nhận cha, mẹ, con.
- Hướng dẫn tổ chức, công dân đến liên hệ cơ quan có thẩm quyền
giải quyết.
1.4. Lĩnh vực chứng thực
- Chứng thực chữ ký của công dân Việt Nam trong các giấy tờ phục
vụ cho việc giao dịch dân sự trong nước.
- Chứng thực di chúc, văn bản từ chối nhận di sản.
- Các việc khác theo quy định của pháp luật.
1.5. Những lĩnh vực công việc khác thuộc thẩm quyền giải quyết của
UBND thị trấn.
15
2. Thời gian làm việc:
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả làm việc 8 giờ/ngày ( 40 giờ/tuần ),
trong đó:
- Thời gian tiếp nhận hồ sơ của tổ chức, công dân: Buổi sáng từ 8 giờ
đến 10 giờ; Buổi chiều từ 14 giờ đến 16 giờ.
- Thời gian còn lại công chức thực hiện các tác nghiệp chuyên môn, xử
lý hồ sơ tiếp nhận và trình lãnh đạo UBND thị trấn ký, giải quyết.
IV. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG
1. Kết quả hoạt động
Trên cơ sở thực hiện các thủ tục hành chính theo quy định của pháp
luật và quy trình tiếp nhận hồ sơ, giải quyết công việc theo mô hình “một
cửa” tại UBND thị trấn An Châu, được triển khai và thực hiện một cách
nghiêm túc, đúng quy định pháp luật. Thực hiện 4 công khai: Công khai quy
trình, công khai thủ tục, công khai thời gian và công khai lệ phí; nội quy, quy
định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, công dân khi đến quan hệ
Tính từ ngày khai trương hoạt động ( 31/12/2003 đến 31/12/2006 ) Bộ

- Khai tử
- Kết hôn
807
444
141
207
807
444
141
207
16
- Cải chính hộ tịch 15 15
3
Chứng thực:
- Chữ ký công dân trong các giấy tờ giao dịch
dân sự
- Di chúc
- Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế
- Các việc khác
2.039
1.533
09
10
487
2.039
1.533
09
10
487
4 Các lĩnh vực khác 769 769

trong thủ tục hành chính đã phát hiện ra những vấn đề vướng mắc về cơ chế,
mối quan hệ về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cơ quan quản lý
Nhà nước, được nghiên cứu và đã nhiều lần đề xuất sửa đổi, tháo gỡ.
- Khối lượng công việc lớn được thực hiện trong thời gian nhất định.
Cường độ và năng suất lao động của cán bộ, công chức được nâng cao và ý
thức trách nhiệm của công chức ở các bộ phận trong từng công đoạn của cơ
chế “một cửa” cao hơn; tạo ra động lực thúc đẩy các bộ phận, của từng công
chức, tạo mối quan hệ tích cực trong giải quyết công việc; các thủ tục đều
công khai, minh bạch, trách nhiệm của từng bộ phận, từng cá nhân trong dây
chuyền công việc rõ ràng.
- Hồ sơ, yêu cầu của tổ chức, công dân được thực hiện qua nhiều khâu,
đòi hỏi công chức phải đáp ứng về trình độ, năng lực chuyên môn và phẩm
chất đạo đức, trách nhiệm cá nhân. Đặc biệt là năng lực, kiến thức về pháp
luật và kỷ năng tổ chức thực hiện công việc trong lĩnh vực hành chính. Ngoài
ra, còn đòi hỏi phẩm chất, tư cách, thái độ lịch sự, nghiêm túc, nhã nhặn trong
quan hệ giao tiếp với người dân tại khâu tiếp nhận.
- Quy trình giải quyết công việc được tổ chức khoa học, chặt chẽ, giúp
lãnh đạo UBND thị trấn có điều kiện kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công
chức; mặt khác tạo điều kiện khuyến khích sự phấn đấu vươn lên của từng
cán bộ để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Việc giải quyết các yêu cầu của tổ
chức, công dân hầu hết được thông qua Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, có
phiếu tiếp nhận hồ sơ, có sổ ghi chép và hẹn ngày trả kết quả tạo sự an tâm
cho người dân, góp phần làm giảm đáng kể số lượng đơn khiếu nại liên quan
đến công tác giải quyết hồ sơ của tổ chức, công dân do cơ quan hành chính
thực hiện.
- Đã thay đổi được nhận thức của cán bộ, công chức để xây dựng nền
hành chính dân chủ; nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức đối
với việc thực thi công vụ trong việc giải quyết yêu cầu của công dân và tổ
chức đối với cơ quan nhà nước, tạo lập được mối quan hệ tốt giữa cán bộ,
công chức với nhân dân. Trên cơ sở đó để tổ chức, công dân tham gia giám

- Để giải quyết những hồ sơ, yêu cầu có tính liên ngành như đất đai,
xây dựng,… thì người dân phải liên hệ với nhiều cơ quan, nhiều cấp ( ít nhất
là 2 cấp: xã - huyện, huyện - tỉnh ) để được giải quyết. Như vậy, vẫn còn tình
trạng “cắt khúc” trong việc giải quyết các thủ tục hành chính, cần nghiên cứu
điều chỉnh theo hướng “một cửa” liên thông theo ngành hoặc theo cấp để đáp
ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.
- Giải quyết hồ sơ, yêu cầu của người dân theo cơ chế “một cửa” thời
gian qua vẫn còn tình trạng người dân đi lại nhiều lần bổ sung hồ sơ, có lúc,
không ra phiếu hẹn hoặc trễ hẹn trả kết quả,…Tuy không phổ biến nhưng
cũng gây tâm lý phiền hà, bức xúc cho người dân. Tình trạng này có nhiều
nguyên nhân, chủ yếu là do trình độ năng lực, phẩm chất của một bộ phận
công chức làm công tác tiếp nhận và trả kết quả và cán bộ chuyên môn thụ lý
giải quyết hồ sơ chưa đáp ứng yêu cầu. Thiếu quy chế phối hợp, phân công
19
phân nhiệm chưa rõ ràng, hoặc có quy chế nhưng không xem xét, xử lý trách
nhiệm khi có sai phạm và khen thưởng khi có thành tích tốt.
- Đối với cấp xã, công chức công tác tại bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả đồng thời cũng là công chức chuyên môn trực thuộc UBND xã, cho nên
vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn ngành ( địa chính, tư pháp ) vừa thực
hiện nhiệm vụ tiếp nhận và trả kết quả, do vậy cường độ lao động và áp lực
công việc cao nhưng chưa có chế độ, chính sách tương xứng ( chưa có phụ
cấp ) đối với đội ngũ này.
- Ở cấp xã, nơi tiếp nhận và trả kết quả chưa đảm bảo thông thoáng,
thuận tiện, thiếu phương tiện làm việc, gây khó khăn cho việc thực hiện cơ
chế “một cửa”.
3. Bài học kinh nghiệm
- Lãnh đạo các cấp chính quyền phải nêu cao quyết tâm thực hiện cải cách
thủ tục hành chính, phục vụ nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân. Thường
xuyên chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm, trước hết là trách nhiệm cá nhân về
công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại cơ quan, đơn vị,

chế “một cửa” nói riêng, để kịp thời điều chỉnh, tháo gỡ các khó khăn, vướng
mắc; khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích tốt và xử lý
thật nghiêm theo pháp luật những cán bộ, công chức có hành vi nhũng nhiễu,
tiêu cực, vi phạm pháp luật và đạo đức cán bộ, cản trở tiến trình cải cách hành
chính.
- Phải thực hiện chế độ phụ cấp làm việc với cường độ lao động cao để
khích lệ tinh thần cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết
quả. Đồng thời phải xem đây là một trong những hình thức “dưỡng liêm” cho
cán bộ, công chức.
Thực tiễn cho thấy cơ chế “một cửa” đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của tổ
chức, công dân. Do đó, một số Sở, ban ngành cấp tỉnh và huyện, thị xã, thành
phố đã đưa ra ý tưởng về việc thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” nhằm
khắc phục tình trạng cắt khúc trong giải quyết thủ tục hành chính cho dân. Có
hai mô hình chính sau đây:
Mô hình thứ nhất: Mô hình liên thông ngang, theo cấp
Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh An Giang đã chủ trì xây dựng và trình
UBND tỉnh Dự thảo Quy định về việc giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính
theo cơ chế “một cửa” trong thu hút đầu tư.
Quy trình hoạt động như sau:
- Khi quyết định đầu tư tại An Giang, nhà đầu tư đến liên hệ với Trung
tâm Xúc tiến Thương mại, Du lịch và Đầu tư tỉnh để được thông tin về chủ
trương, chính sách ưu đãi, mục tiêu phát triển kinh tế và định hướng thu hút
đầu tư của tỉnh, tiềm năng thị trường và cơ hội phát triển của nhà đầu tư, đồng
thời nhà đầu tư sẽ được hướng dẫn, hỗ trợ ban đầu trước khi đăng ký đầu tư.
- Sở Kế hoạch và đầu tư là đầu mối tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ đăng
ký kinh doanh của nhà đầu tư, đồng thời là đầu mối tiếp nhận và trả kết quả
các thủ tục hành chính có liên quan đến các cơ quan khác như: đăng ký thực
hiện dự án đầu tư, thành lập doanh nghiệp, đăng ký mã số thuế, khắc dấu,
thỏa thuận quy hoạch chi tiết xây dựng, bồi thường giải phóng mặt bằng, thuê
đất hoặc giao đất, xin phép xây dựng, đánh giá tác động môi trường.

hành chính đang có triển vọng và cần được tiếp tục hoàn thiện. Cơ chế này
đòi hỏi sự hoạt động đồng bộ của cả hệ thống hành chính Nhà nước, có sự
phân định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản,
mẫu hoá các loại giấy tờ.
Hai là, thực hiện thủ tục hành chính ở các ngành, các cấp cần tạo được
một hệ thống thống nhất và thông suốt. Như vậy, sẽ khắc phục được tình
trạng thiếu quy định rõ ràng, chồng chéo chức năng, hạn chế sự phiền hà cho
nhân dân trong giải quyết công việc.
Ba là, có cơ chế kiểm tra hữu hiệu, đảm bảo cho các thủ tục hành chính
được thi hành kịp thời và nghiêm túc. Đây sẽ là khâu quyết định cho việc phát
hiện những điểm còn thiếu, còn sai sót trong thủ tục hành chính để từ đó kịp
thời chấn chỉnh, sửa đổi, bổ sung.
Bốn là, có cơ chế ban hành và sửa đổi thủ tục hành chính phù hợp thực
tiễn quản lý nhà nước, chấm dứt tình trạng lạm quyền trong ban hành thủ tục
hành chính hoặc ban hành thủ tục không phù hợp thực tiễn, khó thực hiện.
23
2. Yêu cầu
Cải cách thủ tục hành chính vẫn là một yêu cầu có tính khách quan, là
khâu quan trọng trong quá trình cải cách nền hành chính Nhà nước. Do vậy,
phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực liên quan
trực tiếp đến đời sống nhân dân, tiếp tục xoá bỏ các thủ tục hành chính gây
phiền hà, dễ xảy ra tham nhũng, sách nhiễu đối với nhân dân.
Muốn vậy, quá trình cải cách thủ tục hành chính cần đảm bảo các yêu
cầu sau:
2.1. Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống thủ tục hành chính
Tính thống nhất thể hiện ở cả 2 mặt: phạm vi ( cả nước - từ Trung ương
đến địa phương ) và đối tượng áp dụng. Tránh tình trạng mỗi địa phương quy
định một cách khác nhau.
2.2. Bảo đảm sự chặt chẽ của hệ thống thủ tục hành chính
Đảm bảo quy trình xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính cần được

Tính khả thi của thủ tục hành chính phải được xem xét trên nhiều giác
độ như: tính cụ thể, khoa học của thủ tục, đảm bảo yêu cầu thực tế, phân công
rõ ràng trách nhiệm của người thực hiện, trình tự thực hiện mạch lạc không
chồng chéo nhau.
2.8. Đảm bảo tính ổn định của quy trình thủ tục hành chính
Sự thay đổi tuỳ tiện thủ tục hành chính sẽ làm cho việc tuân thủ thủ tục
hành chính của công dân không đảm bảo, dễ tạo khe hở cho cán bộ, công
chức lợi dụng sách nhiễu nhân dân. Ổn định hệ thống thủ tục hành chính
không phải là vấn đề đơn giản, bản thân sự ổn định đòi hỏi việc xây dựng các
quy định thủ tục hành chính phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản và phản ánh
nghiêm túc của các cơ quan Nhà nước trong quan hệ với tổ chức, công dân.
Tóm lại, hiện nay nền hành chính của các nước trên thế giới đều hướng
đến mục tiêu phục vụ nhân dân, chính vì vậy thủ tục hành chính cũng phải
hướng đến mục tiêu phục vụ nhân dân, đảm bảo lợi ích của nhân dân. Đây
cũng chính là con đường có hiệu quả để tăng cường kỷ cương, phép nước,
giảm nhẹ tệ quan liêu, cửa quyền góp phần chống tệ nạn tham nhũng trong bộ
máy hành chính Nhà nước.
II. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
1. Một số giải pháp chủ yếu
Nhằm thực hiện tốt cơ chế “một cửa” trong thời gian tới theo phương
châm “ Một cửa, trách nhiệm, thân thiện” cần thực hiện đồng bộ một số giải
pháp sau:
1.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với
công cuộc cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính theo cơ
chế “một cửa” nói riêng.
Cải cách hành chính là quá trình cải cách cả về thể chế Nhà nước, tổ
chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài
chính công. Đây là một quá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi phải có sự lãnh đạo
của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự tham gia giám sát của nhân dân.
Thực tiễn cho thấy, cần hiểu rằng cải cách hành chính không đơn thuần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status